Nghiên cứu khoa học " ĐÁNH GIÁ ẢNH HƯỞNG CỦA CÀ PHÊ ĐẾN MÔI TRƯỜNG Ở TÂY NGUYÊN " - Pdf 14


378

ĐÁNH GIÁ ẢNH HƯỞNG CỦA CÀ PHÊ ĐẾN MÔI TRƯỜNG Ở TÂY NGUYÊN

Ngô Đình Quế,
Nguyễn Thu Hương, Nguyễn Thanh Tùng, Tạ Thu Hoà
Trung tâm Nghiên cứu Sinh thái và Môi trường rừng
Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam

TÓM TẮT
Bài viết này là một trong các nội dung của dự án “Điều tra đánh giá tác động của rừng ở khu vực
miền Trung và Tây Nguyên đến một số yếu tố môi trường nhằm đề xuất cơ sở để xây dựng tiêu
chuẩn môi trường lâm nghiệp” từ tháng 10 năm 2003 đến tháng 4 năm 2004 do Trung tâm Nghiên cứu
Sinh thái và Môi trường rừng - Viện KHLN Việt Nam thực hiện. Bằng phương pháp nghiên cứu tổng hợp, dự
án đã tiến hành điều tra khảo sát tại Tây Nguyên tập trung ở tỉnh Đăk Lăk với đối tượng là Cà phê nhằm
đưa ra một số ảnh hưởng của việc trồng Cà phê đến môi trường. Từ các kết quả thu được, chúng tôi đã đề
xuất bảng hệ thống tiêu chuẩn đánh giá môi trường cho Cà phê, chia ra làm 4 mức là: Bền vững với môi
trường, an toàn về môi trường, rừng cần được tác động để đạt an toàn về môi trường và rừng không an
toàn về môi trường.
Từ khoá: Cây Cà phê, môi trường, đất, Tây Nguyên

I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Cho đến nay diện tích trồng Cà phê ở Việt Nam là rất lớn, lượng Cà phê xuất khẩu đứng thứ 2 thế giới
nhưng số công trình nghiên cứu về ảnh hưởng của việc trồng Cà phê đến môi trường, xã hội còn rất ít.
Viện Nông hoá Thổ nhưỡng và Viện Nghiên cứu Cà phê Tây Nguyên đã có những nghiên cứu về ảnh
hưởng của việc trồng Cà phê đến xói mòn đất, thử nghiệm các công thức phân bón, phương thức bảo vệ
đất,… và đã đạt được một số kết quả nhất định. Tuy nhiên, còn thiếu các nghiên cứu toàn diện về ảnh
hưởng của phát triển Cà phê ở Tây Nguyên ồ ạt đến môi trường. Do đó chúng tôi thực hiện nhằm đánh giá
ảnh hưởng của Cà phê đến môi trường Tây Nguyên và đề xuất bảng tiêu chuẩn đánh giá môi trường của
Cà phê góp phần tạo nên nền sản xuất Cà phê bền vững.

Đăk Lăk hiện có gần 1,8 triệu dân là tỉnh đất rộng, người thưa có nhiều điều kiện để phát triển nông lâm
nghiệp, đặc biệt có lợi thế để phát triển những vùng chuyên canh nông lâm sản.
Trong giai đoạn 1990-2000, diện tích trồng Cà phê trên địa bàn tỉnh tăng mạnh, khoảng 14,1%/năm. Vào
năm 2000, diện tích cây Cà phê đã lên tới 260.000ha, trong đó có 223.340ha Cà phê được trồng trên đất
bazan (88,4%), diện tích còn lại (11,6%) được trồng trên các loại đất khác. Hiện nay, Cà phê chiếm 57%
diện tích đất nông nghiệp ở Đăk Lăk và 86% diện tích các cây công nghiệp lâu năm của tỉnh. Đăk Lăk trở
thành một trong những vùng chuyên canh Cà phê lớn nhất cả nước, chiếm 50% diện tích và 53% sản lượng
Cà phê cả nước.
Tuy nhiên, việc tăng sản xuất Cà phê ở Đăk Lăk chủ yếu là tăng diện tích chứ không phải do thâm canh.
Trong thời kỳ 1990-2000, sản lượng Cà phê tăng 30,4%/năm thì hai phần ba trong số đó là do tăng diện tích
canh tác. Năng suất bình quân của Cà phê ở Đăk Lăk là 2,45 tấn/ha.
3.2. Diễn biến tài nguyên rừng
Những tín hiệu thị trường vào những năm 1990 khuyến khích tỉnh khai thác nhiều đất để trồng Cà phê.
Đồng thời số dân di cư tự do cũng ăn nhiều vào quỹ đất. Môi trường tự nhiên bị xâm hại nghiêm trọng.
Độ che phủ của rừng ở Đăk Lăk đến năm 2000 đã giảm xuống còn khoảng 1 triệu ha (52%). Trong đó
rừng giàu chỉ còn 1,5%, thường phân bố trên núi cao; diện tích rừng tự nhiên tập trung vào trạng thái rừng
non (35%). Các kiểu rừng 3-5 tầng có tác dụng phòng hộ đầu nguồn, chống xói mòn tốt đã biến thành các
kiểu rừng một tầng, chất lượng kém hoặc là các thảm cây trồng nông nghiệp, công nghiệp khác.
Tổng diện tích rừng mất đi trong vòng 20 năm (1982 - 2002) lên đến 277.800ha, như vậy bình quân mỗi
năm mất đi khoảng 14.000ha rừng. Diện tích rừng mất nhanh nhất là trong 10 năm gần đây (giai đoạn 1992-
2002), bình quân mỗi năm mất 27.140ha rừng tự nhiên.
Suy giảm tài nguyên rừng không chỉ là vấn đề diện tích rừng bị biến mất, mà còn kéo theo các ảnh
hưởng như: suy giảm chất lượng rừng, thiệt hại về sinh kế, thiếu đất canh tác, suy giảm nguồn nước.
3.3. Đặc điểm cấu trúc
Kết quả điều tra một số loại rừng tự nhiên và vườn Cà phê ở Tây Nguyên thấy rằng sau khi phá rừng
thay bằng vườn Cà phê kết cấu của rừng từ 3 đến 5 tầng chỉ còn 1 đến 2 tầng. Độ tàn che giảm hẳn từ 0,6–
0,7 chỉ còn 0,2-0,3. Tổ thành loài cây trong rừng tự nhiên rất phong phú nay chỉ còn 1 loài duy nhất làm cho
tính đa dạng sinh học thay đổi mạnh, cấu trúc rừng đơn giản.
3.4. Xói mòn đất
Vùng Tây Nguyên có địa hình chủ yếu là đồi núi, có độ dốc lớn, lượng mưa hàng năm nhiều và tập trung

phụ cacbon chỉ đạt 3,111 tấn/ha, bình quân là 518,6 kg/ha/năm và ở tuổi 9 cũng chỉ đạt được 7,385 tấn/ha
và bình quân là 820,6 kg/ha/năm. So với các rừng trồng khác thì lượng cacbon hấp phụ của Cà phê thấp
hơn rất nhiều (Keo lá tràm hoặc Phi lao thấp nhát 6 tuổi cũng đạt được 5.4 -10 tấn/ha/năm)
3.7. Tiểu khí hậu
- Nhiệt độ không khí: Chênh lệch nhiệt độ giữa vườn trồng Cà phê với rừng tự nhiên là 2,7-2,9
o
C.
- Ẩm độ không khí: Độ ẩm không khí chênh lệch rất rõ rệt giữa rừng tự nhiên và vườn Cà phê từ 10-15%
chứng tỏ ở vườn Cà phê độ ẩm không cao, ít cải thiện được môi trường.
- Ánh sáng: Sự chênh lệch ánh sáng giữa vườn Cà phê với bên ngoài thì vườn Cà phê chiếm 50% - 96%
ánh sáng tự nhiên. Trong khi đó trong rừng tự nhiên lượng ánh sáng rất ít chỉ chiếm 1-8% ánh sáng bên
ngoài.
Các chỉ số môi trường không khí trong rừng (nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng trong rừng) có sự chênh lệch lớn
giữa trong và ngoài rừng tự nhiên. Ngược lại ở vườn Cà phê sự chênh lệch đó là không đáng kể và vườn
Cà phê dưới 10 tuổi vẫn chưa phát huy được nhiều khả năng phòng hộ.
3.8. Các biện pháp hạn chế xói mòn đất với Cà phê ở Tây Nguyên
Nghiên cứu về các biện pháp bảo vệ đất chống xói mòn cho Cà phê thời kỳ kiến thiết cơ bản tại Eakmat-
Buôn Ma Thuột, thí nghiệm chính quy nhiều năm của trạm nghiên cứu đất Tây Nguyên có ô xây bể hứng
hoàn chỉnh đã thu được các kết quả như sau:
- Các biện pháp bảo vệ có tác dụng ổn định độ phì nhiêu của đất, hạn chế mức độ xói mòn. Đặc biệt là
các biện pháp trồng xen đậu đỗ, băng phân xanh, độ phì nhiêu không những ổn định mà còn được cải thiện
rõ rệt: hữu cơ, N, P
2
O
5
, K
2
O được tăng lên.
- Các biện pháp công trình (đào mương, tạo bồn) do giảm được cường độ dòng chẩy, tăng lượng nước
thấm, giảm lượng đất bị xói mòn nên độ phì nhiêu đất khá ổn định so với đất trống hoặc không có biện pháp

2.1.2 5 - 15
o

2.1.3 >15
o

20
7
1
3.1. Thành
phần cơ giới
3.1.1 TB
3.1.2 Nặng
3.1.3 Nhẹ
7
7
3
3.2. Kết cấu
3.2.1 Tơi xốp, viên
3.2.2 Hơi chặt
3.2.3 Rất chặt
10
5
3
3.3. Mùn
3.3.1 >5%
3.3.2 3 - 5 %
3.3.3 <3%
10
7

o

7
5
3
5. Môi trường
5.2. Độ ẩm so
với bên ngoài
5.2.1 > 5%
5.2.2 3- 5 %
5.2.3 < 3%
7
5
3
Đánh giá mức độ bền vững: A- Bền vững về môi trường (>80 điểm), B- Gần an toàn về môi trường (>70
- 80 điểm), C- Cần tác động để đạt an toàn về môi trường (50 - 70 điểm), D- Không an toàn về môi trường
(<50 điểm).
3.10. Áp dụng thử nghiệm tiêu chuẩn đề xuất để đánh giá môi trường của vườn Cà phê
Kết quả đánh giá tại 6 vườn Cà phê đại diện ở các tỉnh Gia Lai, Đăk Nông, Đăk Lắk cho thấy: 1 vườn
(ĐL14) đạt tiêu chuẩn bền vững về môi trường là các vườn Cà phê có 2 tầng tán và có giải pháp bảo vệ đất
tốt, 2 vườn (ĐL13, GL3) gần đạt tiêu chuẩn an toàn môi trường, 1 vườn (GL1) chưa đạt tiêu chuẩn an toàn
và cần tác động để đạt tiêu chuẩn an toàn về môi trường là các vườn trồng ở độ dốc cao trên 15
0
và không
có biện pháp bảo vệ, 2 vườn (ĐL6 và ĐL12) không đạt tiêu chuẩn an toàn về môi trường cần được thay thế.
Đánh giá chung tiêu chuẩn dự kiến là phù hợp với thực tiễn và có thể áp dụng được.


- Quy hoạch lại vùng trồng Cà phê hợp lý, thu hẹp diện tích sản xuất, nhất là diện tích Cà phê vối ở Đăk
Lăk là vấn đề cực kỳ quan trọng.
- Tiến hành nghiên cứu đánh giá các điều kiện KTXH và tự nhiên, và yêu cầu sinh học của các cơ cấu
cây trồng khác nhằm xác định số diện tích và số khu vực cần điều chỉnh.
- Đối với các vùng đất hợp với cây Cà phê, tiếp tục và tăng cường sản xuất tạo một nguồn thu nhập quan
trọng.
- Đối với các vùng đất không hợp với cây Cà phê, giảm sản xuất Cà phê và đa dạng hóa cây trồng.
Đa dạng hóa sản xuất
- Đánh giá khả năng thích nghi của các loại cây trồng và thông tin rộng rãi cho nông dân để khuyến khích
họ tự ra quyết định điều chỉnh sản xuất.
- Cần có một số biện pháp và chính sách khác để hỗ trợ người sản xuất ở các loại đất không hợp với cây
Cà phê chuyển đổi sản xuất, thu hẹp diện tích Cà phê vối và phát triển các nguồn thu nhập khác, đồng thời
khuyến khích những vùng hợp với đất đai tăng cường sản xuất Cà phê cho dù giá đang ở mức thấp.
Về kỹ thuật
- Cần áp dụng những tiến bộ kỹ thuật và những mô hình có hiệu quả về kinh tế và giảm tác hại về môi
trường đã có trong thực tiễn để nhân rộng.
- Chỉ nên trồng Cà phê ở các lập địa phù hợp. Không tiến hành trồng Cà phê ở nơi có độ dốc lớn hơn 10
o

gây xói mòn rửa trôi đất.
- Áp dụng các biện pháp bảo vệ đất, tuỳ theo loại đất đai từng vùng có thể vận dụng một trong các mô
hình sau: Cà phê trồng xen với cây nông nghiệp trong giai đoạn đầu như Ngô, đỗ, Lạc; Cà phê trồng xen
Tiêu + Keo dậu; Cà phê trồng xen cây ăn quả như Thanh long, Sầu riêng; Cà phê, xen băng Muồng hoặc
xen Hồng đào.

383

- Cà phê là loài cây lấy hạt cần sử dụng rất nhiều phân bón, vì thế cần phải bón cân đối theo từng giai
đoạn, không bón thừa và cũng không bón thiếu để đảm bảo cho sự phát triển của cây và có hiệu quả kinh
tế.

improvement of plantations to ensure environmental safety and environmentally unsafe plantations.
Keywords: Environment, soil, Central Highlands


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status