Website: Email : Tel : 0918.775.368
Ch ơng I : Cơ sở khoa học của việc đánh giá ảnh hởng của công nghiệp tới
môi trờng.
I. Vị trí và vai trò của ngành công nghiệp trong cơ cấu phát triển kinh tế của
một địa phơng.
1. Vị trí của ngành công nghiệp.
Công nghiệp là một trong những ngành sản xuất vật chất có vị trí quan
trọng trong nền kinh tế quốc dân. Nó gồm các ngành khai thác tài nguyên thiên
nhiên, các ngành chế biến khoáng sản và các loại nguyên liệu động thực vật
thành những t liệu sản xuất và t liệu tiêu ding thích hợp, các ngành cơ khí, công
nghiệp dệt Công nghiệp khác với các ngành sản xuất vật chất khác về nhiều
mặt. Công nghiệp dùng phơng pháp cơ, lý, hoá và sinh vật học chủ yếu để trực
tiếp tác động vào nguyên vật liệu chính trong quá trình sản xuất sản phẩm.
Công nghiệp có thể chủ động sản xuất liên tục không phụ thuộc vào điều kiện
khí hậu, của thiên nhiên đồng thời tiến hành thực hiện các giai đoạn khác nhau
của quá trình công nghệ để sản xuất ra sản phẩm Công nghiệp đợc phát triển
nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của xã hội về sản xuất và đời sống. Sự
phát triển của công nghiệp quan hệ mật thiết với toàn bộ nền kinh tế quốc dân.
Sở dĩ công nghiệp có vị trí quan trọng nh vậy là xuất phát từ những lý do sau:
- Công nghiệp là một bộ phận hợp thành cơ cấu công nghiệp-nông nghiệp-
dịch vụ, do những đặc điểm vốn có của nó. Trong quá trình phát triển nền kinh
tế sản xuất lớn, công nghiệp phát triển từ vị trí thứ yếu trở thành ngành có vị trí
hàng đầu trong cơ cấu kinh tế
- Mục tiêu cuối cùng của nền sản xuất xã hội là tạo ra sản phẩm để thoả
mãn nhu câù ngày càng cao của con ngời. Trong quá trình sản xuất ra của cải
vật chất, công nghiệp là ngành không những chỉ khai thác tài nguyên mà còn
tiếp tục chế biến các loại nguyên liệu nguyên thuỷ đợc khai thác và sản xuất từ
các loại tài nguyên khoáng sản, động thực vật thành các sản phẩm trung gian để
sản xuất ra sản phẩm cuoií cùng nhằm thoả mãn nhu cầu vật chất và tinh thần
cho con ngời.
- Sự phát triển của công nghiệp là một yếu tố có tính quyết định để
kiện tăng nhanh tốc đọ phát triển khoa học công nghệ, ứng dụng các thành tựu
khoa học công nghệ đó vào sản xuất, có khả năng và điều kiện sản xuất hoàn
thiện. Nhờ đó lực lợng sản xuất trong công nghiệp phát triển nhanh hơn các
khoa kinh tế và quản lý môi trờng
2
Website: Email : Tel : 0918.775.368
ngành kinh tế khác . Do quy luật quan hệ sản xuất phải phù hợp với trình độ và
tính chất của lực lợng sản xuất , trong công nghiệp có đợc hình thức quan hệ
sản xuất tiên tiến. Tính tiên tiến về các hình thức quan hệ sản xuất, sự hoàn
thiện nhanh về các mô hình tổ chức sản xuất đã làm cho công nghiệp có khả
năng định hớng cho các ngành kinh tế khác tổ chức sản xuất đi lên nền sản xuất
lớn theo hình mẫu, theo kiểu công nghiệp .
- Cũng do đặc diểm của sản xuất công nghiệp, đặc biệt là đặc điểm về
công nghệ sản xuất, đặc điểm về công dụng sản phẩm của công nghiệp, công
nghiệp là ngành duy nhất tạo ra sản phẩm làm chức năng t liệu lao động trong
các ngành kinh tế, nó có thể cung cấp cả nguyên liệu và các loại t liệu lao động
cho nhiều ngành của nền kinh tế quốc dân . Do đó mà công nghiệp có vai trò
quyết định trong việc cung cấp các yếu tố đầu vào để xây dựng cơ sở vật chất
cho toàn bộ các ngành kinh tế quốc dân.
- Trình độ phát triển của lực lợng sản xuất, trình độ trang bị cơ sở vật
chất - kỹ thuật, và trình độ hoàn thiện về tổ chức sản xuất, hình thành một đội
ngũ lao động có tính tổ chức, tính kỷ luật và trình độ trí tuệ cao, cộng với tính
đa dạng của hoạt động sản xuất, công nghiệp là một trong những ngành đóng
gáop phần quan trọng vào việc tạo ra thu nhập quốc dân, tích luỹ vốn để phát
triển, từ đó, công nghiệp có vai trò quan trọng góp phần vào giải quyết những
nhiệm vụ có tính chiến lợc của nền kinh tế xẫ hội nh: tạo việc làm cho lực lợng
lao động, xoá bỏ sự cách biệt thành thị nông thôn, giữa miền xuôi với miền núi
- Trong quá trình phát triển nền kinh tế ở nớc ta hiên nay, Đảng có chủ
trơngcoi nông nghiệp là mặt trận hàng đầu giải quyết cơ bản vấn đề lơng
thực, cung cấp nguyên liệu động thực vật để phát triển công nghiệp và dẩy
Môi trờng tự nhiên là nền tảng cần thiết không thể thiếu đợc cho sự tồn
tại và phát triển của con ngời và phát triển sản xuất, đặc biệt là sản xuất công
nghiệp. Điều đó thể hiện ở chỗ:
- Cung cấp và bảo đảm không gian cần thiết cho sự phát triển của các hoạt
động sản xuất công nghiệp nh: đất đai, không gian cần thiết cho tổ chức và phân
bố sản xuất công nghiệp.
- Là cơ sở nguyên liệu, năng lợng cho hoạt động sản xuất công nghiệp. Từ
các dang vật chất trong tự nhiên dới dạng tài nguyên thiên nhiên, qua hoạt động
chế biến công nghiệp chúng đợc biến thành các loại sản phẩm có ích cho con
khoa kinh tế và quản lý môi trờng
4
Website: Email : Tel : 0918.775.368
ngời. Những tài nguyên tự nhiên đợc ding làm cơ sở nguyên liệu công nghiệp
bao gồm:
+ Nguồn tài nguyên có thể tái sinh là các loại động thực vật. Đặc điểm
của nguồn này là có khả năng tái sinh phát triển. Chúng có sẵn trong tự nhiên
và hết sức đa dạng phng phú. Khi sử dụng các nguồn này vợt qua giới hạn nhất
định ngang bằng với tốc độ tái sinh chúng sẽ trở thành nguồn tài nguyeen khan
hiếm, phá vỡ những cân bằng tự nhiên.
+ Nguồn tài nguyên không tái sinh là các loại khoáng sản. Đặc điểm của
loại này là khi khai thác sử dụng trữ lợng sẽ giảm theo quy mô và tốc độ khai
thác. Trong môi trờng tự nhiên các loại tài nguyên này đợc hình thành qua một
quá trình biến đổi lâu dài dới tác động của những quy luật tự nhiên. Với tốc độ
khai thác và sử dụng của con ngời nh hiện nay lớn hơn hàng trăm nghìn lần tốc
độ hình thành của chúng, tất yếu sẽ dẫn tới chỗ cạn kiệt. Sử dụng tiết kiệm triệt
để nguồn tài nguyên khoáng sản là một đòi hỏi cấp bách trong sản xuất công
nghiệp hiện nay.
+ Nguồn tài nguyên ít thay đổi sử dụng cho nhiều hoạt động sản xuất
khác nhau nh nớc, không khí, đất. Nếu nh trớc đây, khi sản xuất công nghiệp
còn phát triển ở trình độ và tốc độ thấp, nguồn tài nguyên nh nớc, không khí có
nghệ dùng trong quá trình sản xuất đó. Ngoài ra, các sản phẩm do công nghiệp
chế biến ra sau một thời gian đa vào tiêu dùng cũng h hỏng, mất dần giá trị và
quay trở lại tự nhiên dới djng chất thải tiêu thụ. NH vậy toàn bộ hệ thống Sản
xuất công nghiệp Môi trờng những yếu tố đầu vào là tài nguyên của môi tr-
ờng và các yếu tố đầu ra là chất thải. Xét về mặt vật chất, không có sự thay đổi
về khối lợng mà chỉ có sự thay đổi về chất của các yếu tố vật chất sau mỗi chu
trình sản xuất tiêu dùng. Chúng không mất đi mà chỉ biến đổi từ dạng này sang
dạng khác và cuối cùng đều quay trở lại tự nhiên dới dạng chất thải tiêu dùng.
Toàn bộ chu trình biến đổi mà công nghiệp tác động vào môi trờng có thể thấy
rõ qua sơ đồ:
Môi trờng tài nguyên Sản xuất công nghiệp Chất thải CN
Sản phẩm có ích
khoa kinh tế và quản lý môi trờng
6
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Quá trình tiêu dùng
Chất thải
2.2. Quá trình phát triển công nghiệp và ảnh hởng của nó đến môi trờng tự
nhiên.
Cùng với quá trình phát triển của công nghiệp, mức độ tác động của nó
đến môi trờng tự nhiên cũng ngày càng tăng lên nhanh chóng. Khi loài ngời
xuất hiện cùng với các hoạt động lao động sản xuất sơ khai của mình đã tác
động vào tự nhiên, khai thác, sử dụng các nguồn tài nguyên phục vụ cho những
hoạt động sống, qua đó lam biến đổi những nét đầu tiên của môi trờng tự nhiên.
Tuy nhiên những biến đổi do con ngời tạo ra trớc kia rất nhỏ bé, bản thân môi
trờng tự nhiên có khả năng tự phục hồi, duy trì trạng thái cân bằng tự nhiên
trong một thời gian dài. Mãi cho đến thế kỷ 18 khi cuộc cách mạng công nghiệp
xảy ra, công nghiệp trở thành một ngành sản xuất vật chất độc lập, ngày càng
chiếm vị trí quan trọng trong nền kinh tế, quyết định khả năng và tốc độ phat
triển của các ngành khác. Những thành tựu khoa học kỹ thuật đợc nhanh chóng
Môi trờng
đất
Môi trờng
nớc
Môi trờng
không khí
1. Công nghiệp
khai thác tài
nguyên, khoáng
sản
- Tác động trực
tiếp, to lớn vào
môi trờng tự
nhiên, phá huỷ bề
mặt trái đất, làm
thay đổi địa hình. -
Sử dụng lãng phí
tài nguyên
- Khai thác quá
nhiều tài nguyên,
tàn phá nhiều cánh
rừng đầu nguồn,
gây ra xói mòn,
sạt lở đất là
nguyên nhân của
- Làm tăng nồng độ
BOD, COD, PO4-,
SO2, CO2 trong n -
ớc
- Làm giảm chất k-
nghiệp hoá chất vẫn
còn nhiều độc tố nh:
kim loại nặng, Fe,
Mn, Pb, axít, SO
2
,
NO
2
- Làm tăng nồng độ
CO
2
,SO
2
,NH trong
không khí
3. Công nghiệp
năng lợng
- Phá huỷ, gây xói
mòn đất ở một số
nơi do khai thác
quá mức tài
nguyên.
- Thải vào nớc nhiều
loại chất thải độc hại
làm ô nhiễm tầng n-
ớc mặt và nớc ngầm
- Sử dụng nhiều nguồn
nguyên liệu khác nhau
đã gây ra nhiều loại
tốt gây ô nhiễm
môi trờng đất ,
làm chua, mặn đất
- Làm ô nhiễm môi
trờng nớc
- Các chất thải gây ra
mùi khó chịu nh H
2
S,
NH
4
6. Công nghiệp - Nớc thải công - Làm tăng nồng độ
khoa kinh tế và quản lý môi trờng
9
Website: Email : Tel : 0918.775.368
nhẹ
(dệt, nhuộm )
nghiệp nhẹ chứa một
số chất độc hại khi
chảy vào các ao hồ
trong thành phố
- Tăng hàm lợng
Coliform,
Niken..trong nớc
bụi trong không khí
-Tăng nồng độ các khí
SO
2
, CO
2
nghiền ximăng đều ở mức dới trung bình. Phần lớn thiết bị công nghệ sản xuất
giấy in báo, giấy in bao bì lạc hậu từ 3-5 thập kỷ, sản xuất giấy in, viết đã qua
sử dụng trên 20 năm. Công nghệ lạc hậu đợc đầu t từ vài chục năm trớc với quy
mô nhỏ trong ngành thép chiếm khoảng 53% sản lợng toàn ngành, công nghệ
trung bình chiếm khoảng 16% và công nghệ tiên tiến chiếm khoảng 31%. Trình
độ công nghệ và thiết bị sản xuất các loại hoá chất cơ bản hiện tại rất lạc hậu và
có quy mô sản xuất nhỏ từ vài trâm tấn/năm đến tối đa hàng chục ngàn tấn/năm
trong khi đó quy mô sản xuất của các nớc trong khu vực đã đạt từ vài chục ngàn
tấn/năm đến hàng trăm ngàn tấn/năm. Máy móc và công nghệ sản xuất phân
bón hầu hết là lạc hậu, đã sử dụng trên 25-30 năm. Các nhà máy sợi, dệt,
nhuộm trong ngành dệt may mới thay thế đợc khoảng 30% công nghệ thiết bị
hiện đại, còn lại khoảng 70% công nghệ thiết bị đã sử dụng trren 20 năm và hầu
nh đã hết khấu hao.
Ngoài ra, vấn đề chuyển giao công nghệ còn nhiều hạn chế. Kết quả khảo
sát gần đây ở 90 doanh nghiệp công nghiệp với 147 công nghệ đợc chuyển giao
cho thấy chất lợng và hiệu quả chuyển giao công nghệ còn hạn chế do thiếu sự
lựa chọn công nghệ tối u, trình độ công nghiệp cha phù hợp và đặc biệt là giá trị
chuyển giao phần mềm về bí quyết công nghệ còn rất thấp( tỷ lệ phần mềm chỉ
chiếm 17%, đầu t trang thiết bị 83%).
Có thể đánh giá chung trình độ công nghệ và trang thiết bị của ngành công
nghiệp nớc ta ở mức trung bình yếu, so với các nớc công nghiệp phát triển là lạc
hậu từ 2 đến 3 thế hệ; tỷ lệ trang thiết bị kỹ thuật cũ, công nghệ lạc hậu và trung
bình chiếm 60-70%, công nghệ tiên tiến và hiện đại khoảng 30-40%. Điều này
là một trong những nguyên nhân chính làm ảnh hởng tới môi trờng.
2.4.2. Do công tác quản lý.
Ngoài nguyên nhân chủ yếu là do công nghệ lạc hậu thì việc yếu kém
trong công tác quản lý cũng là một nguyên nhân không kém phần quan trọng.
Công tác quản lý Nhà nớc về môi trờng vẫn còn nhiều bất cập, đội ngũ cán bộ
quản lý còn thiếu quá nhiều không đủ để có thể giám sát và kiểm tra đợc đầy đủ
khoa kinh tế và quản lý môi trờng
và năm 1996-2000 là 24,47 C (cá biệt năm 1998 là 25,1 C). Hằng năm bình
quân có từ 8-10 cơn bão và áp thấp nhiệt đới đi qua.
Tổng lợng ma trong năm, theo thống kê những năm gần đây có những biến
động lớn, cụ thể là:
Năm
1995 1996 1997 1998 1999 2000 2001
Lợng ma
(mm)
1.245,0 1.595,6 1.871,6 1.338,7 1.557,6 1.278,0
2.247,
0
Số ngày ma từ 140-160 ngày/năm, lợng ma lớn nhất trong 24 giờ là 200-
400 mm, lợng ma lớn nhất trong 1 giờ là 93,9 mm, lợng nớc bốc hơi trung bình
trong năm từ 800-1000 mm. Rõ ràng là xu thế biến đổi thời tiết từ năm 1995
đến nay là lợng ma tăng, giảm khá nhiều và nhiệt độ trung bình hàng năm có xu
thế gia tăng. Đặc biệt năm 1998 nhiệt độ trung bình các tháng vào mùa hè tăng
nhiều.
Hà Nội nằm trong vùng khí hậu gió mùa: Hàng năm có gió Đông Nam vào
mùa hè và gió Đông Bắc vào mùa Đông.
1.2 Đặc điểm địa hình-thuỷ văn.
Hà Nội nằm trong vùng châu thổ sông Hồng. Có các sông Hồng, sông
Đuống, sông Nhuệ, sông Cầu, sông Cà Lồ và sông Công chảy qua địa phận.
Khu vực nội thành và các huyện ven nội nằm giữa hai con sông là sông Hồng và
khoa kinh tế và quản lý môi trờng
13
Website: Email : Tel : 0918.775.368
sông Nhuệ. Độ cao nền địa hình thành phố trung bình từ 6-9 m thấp hơn mực n-
ớc sông Hồng (12-13 m) khi có lũ lớn. Đây là một trở ngại lớn cho thoát nớc ở
nội thành Hà Nội.
Một đặc điểm quan trọng là Hà Nội có rất nhiều ao, hồ có tác dụng tham
o
/
oo
)
14,75 14,21 13,72 13,24 10,84 10,87
Trong khi đó tốc độ tăng cơ học vào nội thành Hà Nội lại gia tăng mạnh
do dòng ngời từ nông thôn đổ vào mỗi năm một nhiều mà cha có biện pháp
ngăn chặn, cha có chính sách hữ hiệu nào xử lý đợc một cách lâu dài.
Phân bố dân c trên lãnh thổ Hà Nội rất không đều : Diện tích nội thành
nhỏ(chỉ chiếm khoảng 9,2% tổng diện tích thành phố) nhng lại có dân số
lớn(chiếm hơn 53% tổng dân số toàn thành phố). Do vậy, mật độ dân số trong
nội thành cao nhất toàn quốc : 17.489 ngời/km2(số kiệu vào thời điểm
31/12/2000-Cục thống kê Hà Nội).
khoa kinh tế và quản lý môi trờng
14
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Tỉ lệ lao động cha có việc làm trên tổng dân c ngày càng đợc giảm xuống,
cụ thể là 1,3% ; đến năm 2000 là; 1,04%.
Hà Nội là trung tâm có tiềm lực khoa học-kỹ thuật lớn mạnh nhất trong cả
nớc. Có đội ngũ cán bộ thuộc nhiều lĩnh vực then chốt, có đủ năng lực đêr thực
hiện chiến lợc công nghiệp hoá hiện đại hoá, văn minh hoá thủ đô. Chất lợng
lao động khá nhất trong cả nớc, có nhiều nghề tinh xảo ở đỉnh cao của quốc gia.
Ngời Hà Nội có truyền thống văn minh , lịch sự và một nền văn hoá lâu đời sẽ
có ý nghĩa to lớn trong quá trình phát triển kinh tế-xã hội của thành phố.
2.2. Tổ chức hành chính.
Hà Nội hiện có 7 quận nội thành bao gồm; quận Hoàn Kiếm, quận Ba
Đình, quận Hai Bà Trng, quận Đông Đa, quận Tây Hồ, quận Thanh Xuân, quận
Cầu Giấy và 5 huyện ngoại thành bao gồm: Thanh Trì, Từ Liêm, Gia Lâm,
Đông Anh, Sóc Sơn.
Hà Nội có tổng số 220 phờng, xã và 8 thị trấn, các thị trấn này đợc phân
Ngoài ra, Hà Nội còn là nơi tập trung nhiều trờng dạy nghề, trung học
chuyên nghiệp, cao đẳng và đại học với số học sinh, sinh viên ngày càng tăng.
Năm 2000 có 21 trờng dạy nghề với 13.600 học sinh, 25 trờng trung cấp kỹ
thuật với gần 15000 học sinh và 44 trờng đại học, cao đẳng với 370.000 học
sinh, sinh viên. Hà Nội còn có 340 trờng mẫu giáo, gần 500 trờng phổ thông
tiểu học và trung học với tổng số học sinh theo học ngày càng gia tăng, nhất là
phổ thông trung học.
Cơ sở y tế của thành phố Hà Nội năm 2000 có tổng số 29 bệnh viện, 228
trạm y tế xã/phờng, 4 nhà hộ sinh quận với tổng số 7.933 giờng bệnh, 1396 bác
sỹ, 662 y sỹ và 687 dơc sỹ.
Với những điều kiện nêu trên, Hà Nội cùng với Hải Phòng và Quảng Ninh
hợp thành tam giác tăng trởng lớn thứ hai Việt Nam sau tam giác tăng trởng
thành phố Hồ Chí Minh-Đồng Nai-Bà Rịa-Vũng Tàu. Do vậy, Hà Nội là trung
tâm kinh tế lớn thứ hai của cả nớc và có quan hệ chặt chẽ với các cực tăng trởng
khác nh vận tải quốc tế, thu hút nguyên vật liệu từ các tỉnh, cung cấp hàng hoá
công nghiệp và hàng tiêu dùng cho các tỉnh. Không những vậy, Hà Nội còn là
trung tâm văn hoá, khoa học kỹ thuật của cả nớc. Với t cách là thủ đô, Hà Nội
là trung tâm chính trị, nơi đóng trụ sở của các cơ quan lãnh đạo Đảng, Nhà nớc
và Chính phủ, có quan hệ mạnh mẽ với Quốc tế và có ảnh hởng quan trọng tới
đời sống chính trị của cả nớc.
3. Hiện trạng phát triển đô thị và công nghiệp ở thành phố Hà Nội.
khoa kinh tế và quản lý môi trờng
16
Website: Email : Tel : 0918.775.368
3.1. Phát triển không gian đô thị và xây dựng nhà ở.
Khu vực nội thành chỉ có 84,30 km
2
(chiếm 9,15% diện tích đất đai) nhng
dân số chiếm tới 53,35%. Điều đó cho thấy mật độ dân số nội thành cao hơn rất
nhiều so với mật độ dân số các huyện ngoại thành. Nhà cửa đợc xây chen lấn,
Hà Nội có bốn con sông thoát nớc chính với tổng chiều dài gần 40 km.
Các sông mơng nội thành và ngoại thành đóng vai trò chủ yếu là tiêu thoát nớc
ma, nớc thải cho nội thành Hà Nội. Tổng chiều dài các kênh mơng hở Hà Nội
hiện nay là 29,7 km. Những kênh mơng hở này nối với hệthống cống ngầm và
ao hồ thành một mạng lới hình rẻ quạt mà tâm là khu phố cổ.
Hà Nội có trên 100 ao, hồ, đầm trong đó có 16 hồ ở nội thành với tổng
diện tích mặt nớc là 592 ha(chiếm khoảng 17% diện tích nội thành) với tổng
sức chứa khoảng trên 15 triệu m
3
, đảm nhận các chức năng tạo cảnh quan, giải
trí, điều hoà tiểu khí hậu, điều hoà nớc ma, nuôi cá và tiếp nhận một phần nớc
thải và có khả năng tự làm sạch đến một mức độ nhất định.
Nớc mặt ở kênh mơng, sông, hồ ở Hà Nội hiện đã và đang bị ô nhiễm,
nguyên nhân là do nớc thải và chất thải của một số không nhỏ hộ gia đình đổ ra
xung quanh các hồ và dọc sông mơng tháot nớc. Một trong những nguyên nhân
khác là do nhiều xí nghiệp công nghiệp, bệnh viện cha có trạm xử lý nớc thải
hoặc có trạm xử lý nớc thải nhng hoạt động không tốt. Cho đến nay mới có 30
xí nghiệp, nhà máy, 24 cơ sở dịch vụ lớn và 4 bệnh viện đã đầu t xây dung xử lý
nớc thải. Lợng nớc thải đợc xử lý đạt tiêu chuẩn môi trờng mới chiếm một tỷ lệ
tấ nhỏ, khoảng 5% tổng lợng nớc thải của thành phố. Hiện thành phố đang triển
khai các gói thầu của dự án thoát nớc giai đoạn I bao gồm nạo vét sông, mơng
thoát nớc; cải tạo các tuyến cống thoát nớc chính và trạm bơm thoát nớc đầu
mối Yên Sở(công suất 4,5 m
3
/s ) cùng hồ điều hoà đã đợc xây dung để chống
úng ngập khi có ma lớn.
3.4. Quản lý chất thải rắn.
Hà Nội hiện tại có 400 xí nghiệp , nhà máy và khoảng 11.000 cơ sở sản
xuất tiểu thủ công nghiệp, 29 bệnh viện(không kể nhà hộ sinh quận), ngoài ra
còn có 55 chợ và hàng trăm nhà hàng, khách sạn và các cơ sở thơng mại , dịch