Đánh giá ảnh hưởng của công tác dồn điền đổi thửa đến sử dụng đất của hộ nông dân huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2005 đến 2010 - Pdf 24



i
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

NGUYỄN CẢNH TÙNG
ĐÁNH GIÁ ẢNH HƢỞNG CỦA CÔNG TÁC DỒN ĐIỀN
ĐỔI THỬA ĐẾN SỬ DỤNG ĐẤT CỦA HỘ NÔNG DÂN
HUYỆN THANH THỦY, TỈNH PHÚ THỌ
GIAI ĐOẠN 2005 - 2010
Chuyên ngành : Quản lý đất đai
Mã số : 60 62 16 LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. VŨ THỊ THANH THỦY


Tr-ờng Đại học Nông Lâm Thái Nguyên.
Để có đ-ợc kết quả nghiên cứu này, ngoài sự cố gắng và nỗ lực của
bản thân, tôi còn nhận đ-ợc sự h-ớng dẫn chu đáo, tận tình của cô giáo TS.
Vũ Thị Thanh Thuỷ là ng-ời đã h-ớng dẫn cho tôi thực hiện những định
h-ớng của đề tài và hoàn thiện luận văn này.
Trong thời gian nghiên cứu đề tài, tôi đã nhận đ-ợc sự giúp đỡ, tạo
điều kiện của UBND xã Tu Vũ, UBND xã Xuân Lộc, UBND huyện Thanh
Thuỷ, Phòng Tài nguyên và Môi tr-ờng, Phòng Thống kê huyện, Phòng
Nông nghiệp và phát triển nông nghiệp, các phòng ban và nhân dân các xã
của huyện Thanh Thuỷ; các anh chị em và bạn bè đồng nghiệp; sự động
viên, tạo mọi điều kiện về vật chất, tinh thần của gia đình và ng-ời thân.
Với tấm lòng biết ơn, tôi xin chân thành cảm ơn mọi sự giúp đỡ quý
báu đó!
Tác giả luận văn Nguyễn Cảnh Tùng iii MỤC LỤC

Lêi cam ®oan i
Lêi c¶m ¬n ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT vii
DANH MỤC CÁC BẢNG viii
DANH MỤC CÁC HÌNH ix

1.3.2. Nhóm các yếu tố kinh tế - xã hội 25
Chƣơng 2: NỘI DUNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27
2.1. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 27
2.2. Nội dung nghiên cứu 27
2.2.1. Điều kiện tự nhiên- kinh tế xã hội huyện Thanh Thuỷ 27
2.2.2. Tình hình quản lý đất đai và hiện trạng sử dụng đất của huyện Thanh Thủy 27
2.2.3. Thực trạng và quá trình dồn điền đổi thửa huyện Thanh Thuỷ 27
2.2.4. Ảnh hưởng của công tác dồn điền đổi thửa đến sử dụng đất canh tác
trên địa bàn nghiên cứu 27
2.2.5. Đánh giá hiệu quả sử dụng đất trước và sau khi thực dồn điền đổi
thửa trên cơ sở các chỉ tiêu về kinh tế, xã hội và môi trường. 28
2.2.6. Đề xuất các giải pháp thực hiện 28
2.3 . Phương pháp nghiên cứu 28
2.3.1. Phương pháp chọn điểm để nghiên cứu 28
2.3.2. Phương pháp thu thập thông tin 28
2.3.3. Phương pháp xử lý số liệu 29
2.3.4. Phương pháp xác định hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng
đất sản xuất nông nghiệp 29
Chƣơng 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 31
3.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội huyện Thanh Thuỷ 31
3.1.1.Điều kiện tự nhiên 31
3.1.1.1. Vị trí địa lý 31
3.1.1.2. Địa hình, địa mạo 31
3.1.1.3. Khí hậu 32
3.1.1.4. Các nguồn tài nguyên 33
3.1.2. Điều kiện kinh tế - xã hội 37 v

vi 3.5.1.Hiệu quả kinh tế một số cây trồng chính của 2 xã nghiên cứu trước và
sau DĐĐT 69
3.5.2. Đánh giá hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp của 2 xã nghiên
cứu trước và sau DĐĐT 71
3.5.3. Dồn đổi ruộng đất góp phần làm nâng cao hiệu quả xã hội 74
3.5.4. Dồn đổi ruộng đất góp phần bảo vệ môi trường 76
3.5.5. Phản ứng của nông dân đối với việc thực hiện chính sách DĐĐT 77
3.6. Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất của
nông hộ sau khi thực hiện chính sách dồn điền đổi thửa 80
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 82
1. Kết luận 82
2. Kiến nghị 83
TÀI LIỆU THAM KHẢO 84 vii DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

CHN : Cây hàng năm
CLN : Cây lâu năm
DĐĐT : Dồn điền đổi thửa
DT : Diện tích
ĐBSH : Đồng bằng sông Hồng

Bảng 3.1: Cơ cấu kinh tế huyện Thanh Thủy giai đoạn 2005 – 2010 38
Bảng 3.2: Diện tích, năng suất, sản lượng của một số loại cây trồng chính
của huyện Thanh Thủy, giai đoạn 2005 – 2010 39
Bảng 3.3: Kết quả sản xuất, chăn nuôi qua các năm từ 2005 – 2010 40
Bảng 3.4: Hiện trạng sử dụng đất huyện Thanh Thủy năm 2010 46
Bảng 3.5: Diện tích, cơ cấu đất nông nghiệp năm 2010 47
Bảng 3.6: Thực trạng ruộng đất nông nghiệp huyện Thanh Thủy trước và
sau dồn điền đổi thửa 55
Bảng 3.7: Thực trạng ruộng đất nông nghiệp của 2 xã điều tra trước và
sau khi dồn điền đổi thửa. 56
Bảng 3.8: Quy mô, diện tích đất sản xuất nông nghiệp trước và sau ĐĐT 60
Bảng 3.9: Diện tích, năng suất, sản lượng một số cây trồng chính
trước và sau DĐĐT 61
Bảng 3.10: Diện tích đất giao thông, thuỷ lợi trước và sau DĐĐT 62
Bảng 3.11: Diện tích đất sản xuất nông nghiệp được tưới, tiêu trước
và sau dồn điền đổi thửa 64
Bảng 3.12: Một số kiểu sử dụng đất chính trước và sau DĐĐT 65
Bảng 3.13: Sự thay đổi vật tư và các thiết bị phục vụ sản xuất sau khi
dồn điền đổi thửa 66
Bảng 3.14: Số trang trại sản xuất nông nghiệp sau chuyển đổi ruộng đất 67
Bảng 3.15: Giá thầu đất công ích thực tế trước và sau dồn điền đổi thửa 69
Bảng 3.16: Hiệu quả kinh tế sử dụng đất một số cây trồng chính của hai xã
nghiên cứu 71
Bảng 3.17: Hiệu quả kinh tế sử dụng đất nông nghiệp tại 2 xã điều tra 74
Bảng 3.18: Hiệu quả xã hội của các LUT 76
Bảng 3.19: Hiệu quả môi trường của các LUT 78
Bảng 3.20: Kết quả phỏng vấn nông hộ sau dồn điền đổi thửa 79

là khâu bứt phá quyết định mọi quan hệ sản xuất và ảnh hưởng rõ rệt nhất
đến quá trình phát triển kinh tế xã hội của mỗi quốc gia.
Trong công cuộc cải cách kinh tế nông nghiệp nông thôn những năm
trước đây, Đảng và Nhà nước ta đã có hàng loạt những chính sách mới về đất
đai nhằm thúc đẩy sản xuất nông nghiệp, giải quyết vấn đề lương thực của cả
nước, trong đó điển hình là Luật đất đai năm 1993. Ruộng đất được chia đến
tận tay người nông dân. Có thể nói rằng, với chính sách mới về quyền sử
dụng đất đai như vậy đã làm thay đổi hoàn toàn quan hệ sản xuất ở nông
thôn, người nông dân đã thực sự trở thành người chủ mảnh đất riêng của
mình. Đó là động lực cho sự phát triển vượt bậc của nền nông nghiệp nước ta
sau giải phòng miền Nam. Điều đó đã đưa Việt Nam từ một nước hàng năm
phải nhập khẩu một lượng lớn lương thực, vươn lên thành một nước xuất
khẩu lớn trên thế giới về một số mặt hàng nông sản như: gạo, cà phê, chè,
tiêu, thuỷ sản…
Vai trò to lớn của sự phân chia ruộng đất cho hộ nông dân như nói
trên là không thể phủ nhận. Song với bối cảnh ngày nay, đất nước đang trên
đà phát triển theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, trong môi trường
hội nhập kinh tế quốc tế, ngành nông nghiệp không những có nhiệm vụ
quan trọng là đảm bảo an ninh lương thực quốc gia mà còn phải đảm bảo
tối đa nguyên liệu cho ngành công nghiệp, tăng khối lượng nông sản xuất
khẩu. Như vậy đòi hỏi chúng ta phải xây dựng được một nền sản xuất nông
nghiệp hàng hoá, áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào đồng ruộng thật
hiệu quả. Nhưng trên thực tế, khi chia ruộng đất cho nông dân theo tinh 2 thần của Nghị định 64/CP ngày 27 tháng 9 năm 1993 của Chính Phủ, chúng
ta đã thực hiện phương châm công bằng xã hội: ruộng tốt cũng như ruộng

3 mức độ thành công ở mỗi nơi là khác nhau: có nơi công việc chỉ diễn ra
nhanh chóng trong một vài tháng, nhưng có nơi kéo dài hàng năm, gây tốn
kém sức người và tiền của.
Thanh Thuỷ là một huyện của tỉnh Phú Thọ đã thực hiện công tác
dồn điền đổi thửa bắt đầu từ năm 2005 kết thúc năm 2008, xong công tác
dồn điền đổi thửa có ảnh hưởng đến sử dụng đất của các hộ nông dân hay
không thì chưa đánh giá và tổng kết lại để đưa ra các kinh nghiệm, những vấn
đề tồn tại trong việc thực hiện dồn điền đổi thửa và những khuyến nghị hữu
ích cho các địa phương khác thực hiện dồn điền đổi thửa được hiệu quả hơn.
Xuất phát từ những lý do nêu trên, tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Đánh
giá ảnh hưởng của công tác dồn điền đổi thửa đến sử dụng đất của hộ nông
dân huyện Thanh Thuỷ, tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2005-2010”.
2. Mục tiêu của đề tài
2.1. Mục tiêu tổng quát
Đánh giá tác động của công tác dồn điền đổi thửa đến hiệu quả sử
dụng đất canh tác trên địa bàn huyện Thanh Thủy và rút ra bài học kinh
nghiệm để áp dụng cho các địa phương có điều kiện tương tự.
2.2. Mục tiêu cụ thể
- Nắm được điều kiện tự nhiên- kinh tế xã hội có liên quan đến sử
dụng đất canh tác của huyện Thanh Thuỷ.
- Tình hình sử dụng đất và hiệu quả sử dụng đất trước và sau khi dồn
điền đổi thửa.
- Những ảnh hưởng của công tác dồn điền đổi thửa đến sử dụng đất
canh tác trên địa bàn nghiên cứu.
- Hiệu quả của các loại hình sử dụng đất trước và sau khi dồn điền
đổi thửa.
- Tình hình quản lý, sử dụng đất đai trên địa bàn huyện Thanh Thuỷ

ruộng đất cơ bản. Mục đích là để công hữu hoá ruộng đất của địa chủ người
Việt và người Pháp, tiến hành phân chia lại cho hộ nông dân ít đất hoặc
không có đất với khẩu hiệu “Người cày có ruộng”. Giai đoạn tiếp theo của
chính sách cải cách ruộng đất đó là miền Bắc bước sang giai đoạn sở hữu
tập thể đất nông nghiệp dưới hình thức hợp tác xã từng khâu (bậc thấp) và
hợp tác xã toàn phần (bậc cao). Đến năm 1960, khoảng 86% hộ nông dân
và 68% tổng diện tích đất nông nghiệp đã vào hợp tác xã bậc thấp. Trong
hợp tác xã này người nông dân vẫn sở hữu đất đai và tư liệu sản xuất. Ở
hình thức hợp tác xã bậc cao, nông dân góp chung đất đai và các tư liệu sản 5 xuất khác (trâu, bò, gia súc và các công cụ khác) vào hợp tác xã dưới sự
quản lý chung.
Sau năm 1975, nền kinh tế Việt Nam nói chung và nông nghiệp nói
riêng phải gánh chịu những hậu quả nặng nề của cuộc chiến tranh để lại và
những hậu quả từ những chính sách trong thời kỳ kinh tế kế hoạch hoá tập
trung và thời kỳ kinh tế tập thể trong nông nghiệp. Trong thời kỳ sở hữu tập
thể trong nông nghiệp, sản xuất giảm do người nông dân thiếu động cơ làm
việc, sản lượng nông nghiệp tăng hàng năm ở mức rất thấp 2%. Cùng thời
điểm này dân số tăng rất nhanh (2,2-2,35%/ năm) đã dẫn đến việc phải nhập
khẩu bình quân hơn một triệu tấn lương thực mỗi năm trong suốt thời kỳ sau
chiến tranh. Điều đó đã dẫn đến một bộ phận lớn dân số sống trong tình trạng
nghèo và đói [26].
1.1.2. Giai đoạn 1981-1988
Sự thay đổi cơ chế quản lý và sử dụng đất trong lĩnh vực nông
nghiệp bắt đầu bằng Chỉ thị 100 của Ban Bí thư Trung ương Đảng hay còn
gọi là Khoán 100. Dưới chính sách Khoán 100, các HTX giao đất nông

được giao lại đất họ đã sở hữu trước năm 1975 [26].
Tuy nhiên, cùng với Khoán 10 chưa có luật tương ứng dẫn đến một
số quyền sử dụng đất như cho tặng hoặc thừa kế chưa được luật pháp hóa
và thừa nhận. Một loạt các vấn đề khác nảy sinh liên quan đến sản xuất
chẳng hạn như trạm điện, hệ thống giao thông nông thôn, thị trường,… mà
trước đây thuộc trách nhiệm quản lý của các HTX nông nghiệp. Để giải
quyết các vấn đề này Luật Đất đai năm 1993 đã ra đời.
1.1.3. Sự phát triển của quản lý ruộng đất sau đổi mới.
Trong suốt thời kỳ đổi mới, một loạt các chính sách và văn bản luật
trong lĩnh vực nông nghiệp và nông thôn, đặc biệt liên quan đến sử dụng đất
đai đã ra đời. Những chính sách quan trọng nhất đó là Luật Đất đai năm 1993,
sau đó là Luật Đất đai sửa đổi, bổ sung năm 1998 và 2001; Luật Đất đai mới
năm 2003; Nghị định 64/CP năm 1993 và Nghị định 02/CP năm 1994 về quy
định việc giao đất lâm nghiệp và đất nông nghiệp. Bên cạnh đó cũng có
một loạt các chính sách liên quan trực tiếp hoặc hỗ trợ gián tiếp đến vấn
đề về đất đai.
Theo Luật Đất đai 1993, hộ nông dân được giao quyền sử dụng 7 ruộng đất lâu dài với 5 quyền: quyền chuyển nhượng, quyền chuyển đổi,
quyền cho thuê, quyền thừa kế và quyền thế chấp. Người có nhu cầu sử
dụng được giao đất trong thời hạn 20 năm đối với cây hàng năm, 50 năm
đối với cây lâu năm. Việc giao đất sẽ được tiến hành lại tại thời điểm cuối
chu kỳ giao đất nếu như người sử dụng đất vẫn có nhu cầu sử dụng. Luật
Đất đai cũng quy định mức hạn điền đối với hộ nông dân, cụ thể đối với
cây hàng năm là 2ha ở miền Bắc và các tỉnh miền Trung; 3ha đối với các
tỉnh phía Nam; đối với cây lâu năm quy định tối đa là 10ha đối với các xã

xuất thấp, khả năng đổi mới và ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật,
nhất là vấn đề cơ giới hoá, thuỷ lợi hoá trong nông nghiệp dẫn đến tình
trạng sử dụng đất kém hiệu quả. Vì thế người ta luôn tìm cách khắc phục
tình trạng này.
Manh mún đất đai xẩy ra ở nhiều nơi, nhiều nước khác nhau trên thế
giới và ở nhiều thời kỳ của lịch sử phát triển. Những nguyên nhân dẫn đến
tình trạng này rất đa dạng: có thể là do đặc điểm bề mặt phân bố địa lý,
do sức ép dân số, nhưng cũng có thể là do ý thức của con người như
tính chất tiểu nông của nền sản xuất còn kém phát triển, đặc điểm tâm
lý của cộng đồng dân cư nông thôn, hệ quả của một hay nhiều chính
sách ruộng đất, kinh tế xã hội hay sự quản lý lỏng lẻo kém hiệu quả của
công tác địa chính,
Tình trạng manh mún đất đai là một trong những nhược điểm của
nền nông nghiệp nhiều nước, nhất là các nước đang phát triển. Ở Việt Nam,
manh mún đất đai rất phổ biến, đặc biệt là ở miền Bắc. Theo con số ước
tính, toàn quốc có khoảng 75 triệu thửa, trung bình một hộ nông dân có
khoảng 7-8 thửa. Manh mún đất đai được coi là một trong những rào cản
của phát triển sản xuất hàng hoá trong lĩnh vực nông nghiệp, nhất là trồng
trọt, cho nên rất nhiều nước đã và đang thực hiện chính sách khuyến khích
tập trung đất đai. Việt Nam cũng đang thực hiện chính sách này trong
những năm gần đây. Dưới quan điểm kinh tế nếu manh mún đất đai làm
cho lao động và các nguồn lực khác phải chi phí nhiều hơn thì việc giảm
mức độ manh mún đất đai sẽ tạo điều kiện để các nguồn lực này được sử
dụng ở các ngành khác hiệu quả hơn. Như vậy, trên tổng thể nền kinh tế sẽ
đạt được lợi ích khi ta giảm mức độ manh mún đất đai. 9

xuất được thuận tiện và hiệu quả, tạo điều kiện để phát triển nông nghiệp
hàng hoá, nâng cao sức cạnh tranh trong nông nghiệp. Vì vậy cùng với các
yếu tố khác, việc chuyển đổi và xử lý đất nông nghiệp đã góp phần quan
trọng đưa năng suất lúa từ 3.000kg gạo/ha/năm năm 1960 lên 6.000kg
gạo/ha/năm năm 1992 [12].
* Ở Đài Loan: Sau năm 1949 dân số tăng đột ngột do sự di dân từ
lục địa ra. Lúc đầu chính quyền Tưởng Giới Thạch thực hiện cải cách
ruộng đất theo nguyên tắc phân phối đồng đều ruộng đất cho nông dân.
Ruộng đất đã được trưng thu, tịch thu, mua lại của các địa chủ rồi bán chịu,
bán trả dần cho nông dân, tạo điều kiện ra đời các trang trại gia đình quy
mô nhỏ. Năm 1953, hòn đảo này đã có đến 679.000 trang trại với quy mô
bình quân là 1,29ha/trang trại. Đến năm 1991 số trang trại đã lên đến
823.256 với quy mô bình quân chỉ còn 1,08ha/trang trại. Tuy nhiên, quá
trình công nghiệp hoá nông nghiệp nông thôn sau này đòi hỏi phải mở rộng
quy mô của các trang trại gia đình nhằm ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ
thuật, giảm chi phí sản xuất, hạ giá thành sản phẩm,… nhưng do người Đài
Loan coi ruộng đất là tiêu chí đánh giá vị trí của họ trong xã hội nên mặc dù
có thị trường nhưng ruộng đất vẫn không được tích tụ (có nhiều người tuy là
chủ đất nhưng đã chuyển sang làm những nghề phi nông nghiệp). Để giải
quyết tình trạng này, năm 1983 Đài Loan công bố Luật Phát triển nông
nghiệp trong đó công nhận phương thức sản xuất uỷ thác của các hộ nông
dân, có nghĩa là nhà nước công nhận việc chuyển quyền sở hữu đất đai. Ước
tính đã có trên 75% số trang trại áp dụng phương thức này để mở rộng quy
mô ruộng đất sản xuất. Ngoài ra để mở rộng quy mô, các trang trại trong
cùng thôn xóm còn tiến hành các hoạt động hợp tác như làm đất, mua bán
chung một số vật tư, sản phẩm nông nghiệp, nhưng không chấp nhận
phương thức tập trung ruộng đất, lao động để sản xuất [2]. 12 1.2.3. Tình hình nghiên cứu dồn điền đổi thửa ở Việt Nam
1.2.3.1. Nguyên nhân tiến hành dồn điền đổi thửa
Chủ trương của Đảng và Nhà nước ta là tiếp tục đẩy mạnh sự nghiệp
đổi mới cơ chế kinh tế nông nghiệp nông thôn, thừa nhận hộ nông dân là
đơn vị kinh tế tự chủ trong nền kinh tế thị trường. Tuy nhiên trước nhu cầu
của sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước, nền nông nghiệp và
đặc biệt là vấn đề ruộng đất trong nông nghiệp đã bộc lộ những tồn tại, nảy
sinh mới cần phải được quan tâm giải quyết, đó chính là tình trạng ruộng
đất quá manh mún về diện tích và ô thửa. Chuyển đổi ruộng đất chống
manh mún, phân tán tạo ra ô thửa lớn là việc làm cần thiết, tạo tiền đề cho
việc thực hiện công nghiệp hoá nông nghiệp, nông thôn [20].
Mặt khác, khi thực hiện giao đất còn nhiều sai sót, tuỳ tiện dẫn đến
tình trạng khiếu kiện kéo dài gây mất ổn định ở cơ sở; quy hoạch sử dụng
đất, quy hoạch kiến thiết lại ruộng đồng thiếu khoa học, thiếu tầm nhìn
chiến lược đang gây trở ngại lớn cho việc đổi mới quản lý, tổ chức lại sản
xuất nhất là việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế [19].
Để khắc phục tình trạng trên, giải pháp có hiệu quả nhất là phải tiến
hành dồn đổi ruộng đất. Để hiểu rõ hơn tại sao phải nhanh chóng tiến hành
công tác dồn đổi ruộng đất. Chúng ta cần tìm hiểu nguyên nhân và những
hạn chế do tình trạng manh mún ruộng đất gây trở ngại cho sản xuất, công
tác quản lý Nhà nước về đất đai như thế nào.
* Tình trạng manh mún ruộng đất do các nguyên nhân sau:
- Nguyên nhân đầu tiên và là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tình
trạng manh mún ruộng đất là sự phức tạp của địa hình, nhất là các vùng đồi
núi, trung du. Do địa hình bị chia cắt nên đất đai ở đa số các địa phương

đô thị, khu công nghiệp vì thế đất ở đó phải được chia đều cho các hộ để
mọi người đều có thể hưởng "thành quả" đền bù đất hay cùng chịu "rủi
ro"nếu đất đai bị chuyển mục đích sử dụng. 14 * Mức độ manh mún ruộng đất hiện nay thể hiện ở một số điểm:
- Tình trạng manh mún hiện nay tập trung vào đất cây hàng năm
như: đất trồng lúa, đất trồng rau màu, đất trồng cây công nghiệp ngắn ngày
và các loại đất trồng cây hàng năm khác. Loại đất càng tốt, có điều kiện
thâm canh càng cao thì càng bị phân tán manh mún.
- Biểu hiện đặc trưng của sự manh mún là ruộng đất bị "chia nhỏ" để
chia đều theo nguyên tắc "tốt có, xấu có, xa có, gần có" cho các hộ gia
đình. Vì vậy một hộ sử dụng rất nhiều thửa đất nằm rải rác trên tất cả các xứ
đồng của mỗi thôn xóm, làng bản , kích thước rất đa dạng, diện tích bình
quân /thửa đất lúa phổ biến là từ 200-400m
2
; diện tích đất trồng màu và cây
công nghiệp ngắn ngày bình quân/thửa phổ biến từ 100-300m
2
. Riêng các
tỉnh nam bộ bình quân/thửa phổ biến đất lúa là từ 2000-4000m
2
; đất trồng
màu và cây công nghiệp ngắn ngày bình quân lên đến hàng nghìn m
2
.
- Mức độ manh mún các vùng miền có sự khác nhau, số liệu minh

300 - 500
200 - 300
4
Duyên hải Nam Trung Bộ
5 - 10
30
300- 1000
200 - 1000
5
Tây Nguyên
5
25
200 - 500
1000- 5000
6
Đông Nam Bộ
4 - 5
15
1000- 3000
1000- 5000
7
Đồng bằng sông Cửu Long
3
10
3000 - 5000
500 - 1000
(Nguồn: Hội nghị chuyên đề về chuyển đổi ruộng đất nông nghiệp khắc phục tình
trạng manh mún ruộng đất trong sản xuất, năm 1998 [20]).
I
ĐBSH
3054770
1731533
1223905
97216
2116
1
Hà Nội
174537
123610
48121
2718
88
2
Vĩnh Phúc
212851
109564
94017
9057
213
3
Bắc Ninh
187569
109037
73951
4539
42
4
Hà Tây

187376
3843
71
9
Hà Nam
172615
94132
72196
6165
122
10
Nam Định
396281
221735
165630
8814
102
11
Ninh Bình
177270
73473
85474
17613
710
(Nguồn: TCTK, kết quả tổng điều tra nông thôn, nông nghiệp và thuỷ sản năm
2006 [21])
- Tình trạng manh mún về số ô thửa
+ Diện tích/thửa: Với cây lúa, diện tích/thửa có thể diễn biến từ 200
đến 400m
2


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status