Đánh giá ảnh hưởng của công tác dồn điền, đổi thửa đến sản xuất nông nghiệp trên địa bàn huyện yên phong, tỉnh bắc ninh - Pdf 30



BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
ZY
NGUYỄN TRÍ TÀI ĐÁNH GIÁ ẢNH HƯỞNG CỦA CÔNG TÁC DỒN ĐIỀN,
ĐỔI THỬA ĐẾN SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP TRÊN
ĐỊA BÀN HUYỆN YÊN PHONG, TỈNH BẮC NINH
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI
MÃ SỐ: 60.85.01.03

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. TRẦN VĂN CHÍNH

HÀ NỘI - 2014

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Pagei

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin chân thành cảm ơn các sự giúp đỡ quý báu đó!

Hà Nội, ngày … tháng … năm 2014
Tác giả luận văn

Nguyễn Trí Tài

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp  Pageiii

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN Error! Bookmark not defined.
MỤC LỤC i
DANH MỤC BẢNG vi
DANH MỤC HÌNH viii
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Yêu cầu của đề tài 2
Chương 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3
1.1 Cơ sở lý luận về dồn điền đổi thửa 3
1.1.1 Khái niệm về tập trung ruộng đất và tác động của nó 3
1.1.2 Tính tất yếu của tích tụ và tập trung ruộng đất 5
1.1.3 Quan điểm tích tụ và tập trung ruộng đất 8
1.1.4 Dồn điền đổi thửa 9
1.2 Cơ sở thực tiễn về dồn điền đổi thửa 11

3.2.4 Dân số, lao động 43
3.2.5 Đánh giá chung về kinh tế - xã hội 44
3.3 Tình hình quản lý và sử dụng đất huyện Yên Phong 46
3.3.1 Tình hình quản lý đất đai 46
3.3.2 Hiện trạng sử dụng đất năm 2013 và biến động sử dụng các loại đất 47
3.4 Công tác dồn điền đổi thửa tại huyện Yên Phong 50
3.4.1 Cơ s
ở pháp lý của việc dồn điền đổi thửa 50
3.4.2 Quy trình dồn điền đổi thửa của huyện 51
3.4.3 Thực trạng đất đai huyện Yên Phong sau khi giao đất theo Nghị
định 64/CP năm 1993 54
3.4.4 Kết quả thực hiện dồn điền đổi thửa ở huyện Yên Phong. 56
3.4.5 Ảnh hưởng của dồn điền
đổi thửa đến sản xuất đất nông nghiệp 61

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Pagev

3.5 Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông
nghiệp sau khi thực hiện chính sách chuyển đổi ruộng đất 76
3.5.1 Giải pháp về chính sách 76
3.5.2 Giải pháp kỹ thuật chuyển dịch cơ cấu sản xuất 77
3.5.3. Tăng cường công tác quản lý nhà nước về đất đai 77
3.5.4 Tích tụ và tập trung ruộng đất 78
KẾ
T LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 79
1 Kết luận 79
2 Kiến nghị 80
TÀI LIỆU THAM KHẢO 82
dồn điền đổi thửa 66
Bảng 3.16 Sự thay đổi các thiết bị phục vụ sản xuất sau khi dồn điề
n đổi
thửa 69
Bảng 3.17 Diện tích tối ưu để vận hành các máy nông nghiệp hiện đại 70
Bảng 3.18 Hệ số sử dụng đất hàng năm của các nhóm hộ điều tra 71

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Pagevii

Bảng 3.19 Số trang trại và vùng sản xuất hàng hóa tập trung của các xã
điều tra trước và sau dồn điền đổi thửa 72
Bảng 3.20 Cơ cấu lao động trong các hộ điều tra trước và sau dồn điền
đổi thửa 74
Bảng 3.21 Kết quả đo đạc bản đồ địa chính và cấp đổi GCNQSDĐ tại
các xã điều tra tính đến 31/12/2013. 75

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Pageviii

DANH MỤC HÌNH
Hình số Tên Hình Trang Hình 3.1 Hệ thống giao thông thủy lợi sau dồn điền đổi thửa 62
Hình 3.2 Chuyển đổi đất lúa sang nuôi trồng thủy sản 66
Hình 3.3 Áp dụng máy móc vào sản xuất nông nghiệp 69

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp  Page1

MỞ ĐẦU



Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp  Page2

trương phát động phong trào “dồn điền, đổi thửa” trong phạm vi cả nước.
Hưởng ứng phong trào chung của cả nước cũng như thực tế ruộng đất của hộ
còn manh mún, phân tán, ngày 30/3/1998 Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Bắc
Ninh có Nghị quyết 03/NQ-TU về việc ‘Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông
nghiệp, khuyến khích các địa phương Dồn điền đổi thửa‘ và ngày 27/6/2001
Tỉnh uỷ Bắc Ninh có Nghị quyết 06/NQ-TU về việc ’Chuyển dịch cơ cấu kinh
tế nông nghiệp’ chỉ đạo việc tiến hành dồn điền, đổi thửa, phân bố lại ruộng đất
của hộ sao cho hợp lý, tạo điều kiện thuận lợi cho hộ sử dụng các nguồn lực có
hiệu quả nhất; tạo động lực thúc đẩy nhanh chuyể
n dịch cơ cấu cây trồng vật
nuôi trong nông nghiệp, góp phần thúc đẩy kinh tế NN - NT phát triển. Từ thực
tế ruộng đất trên địa bàn huyện Yên Phong manh mún, phân tán và hưởng ứng
chủ trương chính sách của tỉnh uỷ, UBND tỉnh, huyện uỷ, UBND huyện, công
tác dồn điền, đổi thửa được triển khai xuống các xã và xuống từng thôn đội.
Cho tới nay công tác DĐĐT trên địa bàn huyện đã thu được những kết
quả như thế nào? DĐĐT ảnh hưởng ra sao đến phát triển sản xuất nông nghiệp
của huyện? Yếu tố nào đã ảnh hưởng đến quá trình dồn điền đổi thửa? Bài học
nào được rút ra cho các địa phương khác trong công tác DĐĐT của huyện?
Xuất phát từ những yêu cầu thực tế khách quan trên, chúng tôi nghiên
cứu đề tài: “Đánh giá ảnh hưởng của công tác dồn điền, đổi thử
a đến sản
xuất nông nghiệp trên địa bàn huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh”.
2 Mục đích nghiên cứu
- Đánh giá được ảnh hưởng của công tác dồn điền đổi thửa đến sản xuất
nông nghiệp trên địa bàn huyện Yên Phong.
- Đề xuất các giải pháp thúc đẩy công tác dồn điền đổi thửa được thực
hiện tốt hơn.

c hiện thông qua biện pháp
tước đoạt hoặc chuyển nhượng mua bán ruộng đất. Con đường này diễn ra
mạnh mẽ ở các nước tư bản.
Việc tập trung ruộng đất vào tay chủ sở hữu mới tạo ra kết quả hai mặt
là: Một mặt làm cho một bộ phận nông dân trở thành không có ruộng đất,
buộc họ phải đi làm thuê hoặc rời quê hương tìm kế sinh nhai. Mặt khác, tạ
o
cho chủ đất có điều kiện áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật đầu tư thâm canh
tăng năng suất cây trồng, chuyển một bộ phận lao động nông nghiệp sang các
kinh tế ngành khác, mà trước hết là công nghiệp (Bùi Quang Dũng, 2002).
Cũng theo Bùi Quang Dũng (2002), Ở nước ta, việc tập trung ruộng đất

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp  Page4

diễn ra do một số nguyên nhân sau:
- Một số hộ làm ăn khá giả, có vốn, có trình độ kỹ thuật và quản lý kinh
doanh muốn có thêm đất đai để sản xuất.
- Một số hộ do yếu kém trong hoạt động sản xuất kinh doanh, làm ăn
không hiệu quả, không đảm bảo được cuộc sống trên ruộng đất được giao nên
chuyển nhượng, cho thuê để đáp ứng yêu cầu trước mắt hoặc chuyể
n sang để
làm các ngành nghề khác.
Mặt khác, trong luật đất đai hiện hành của nước ta đã và đang tạo ra
hành lang pháp lý cho quá trình tập trung đất đai trong sản xuất nông nghiệp.
Đó chính là việc xác định chế độ sử dụng đất:
- Chủ thể sử dụng đất: là những tổ chức, hộ gia đình, cá nhân được Nhà
nước giao đất hoặc cho thuê đất để sử dụng.
- Khách thể của quyề
n sử dụng đất: là một vùng nhất định mà Nhà
nước giao cho các chủ thể sử dụng đất.

năng cung cấp cho thị trường nhiều hàng hóa nông sản hơn. Hộ nông dân sẽ
có điều kiện đầu tư cơ giới hóa trong các khâu sản xuất, giải phóng sức lao
động, bố trí cơ cấu lao động sản xuất nông nghiệp hợp lý hơn, giảm được tỷ lệ
lao động nông nghiệp thuần túy, từ
đó thúc đẩy phát triển kinh tế của nông hộ,
mang lại đời sống no ấm hơn cho người nông dân (Lã Văn Lý, 2009).
1.1.2 Tính tất yếu của tích tụ và tập trung ruộng đất
1.1.2.1 Xu hướng tích tụ và tập trung ruộng đất trong nền kinh tế thị trường
Theo quy luật chung của sự phát triển sản xuất sẽ diễn ra quá trình tích
tụ, tập trung và quá trình hợp tác, liên kết trong quá trình sản xuất, chế biến,
tiêu thụ nông s
ản. Quá trình tích tụ, tập trung và xã hội hóa trong sản xuất
nông nghiệp tất yếu sẽ diễn ra; về nguyên tắc quá trình đó diễn ra theo 2
hướng (Lã Văn Lý, 2009):
- Tập thể hóa ruộng đất và tư liệu sản xuất
Theo hướng này toàn bộ ruộng đất và tư liệu sản xuất thuộc sở hữu tập thể.
Mô hình này phổ biến trong nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung ở các
nướ
c Xã hội Chủ nghĩa trong giai đoạn từ sau chiến tranh thế giới thứ 2
(5.1945) đến cuối thập niên 80 của thế kỷ 20; điển hình là các nông trang tập
thể ở Liên Xô và các nước Đông Âu, Trung Quốc, Triều Tiên.
Ở Việt Nam trong giai đoạn 1960-1985 quá trình tập thể hóa đã diễn ra

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp  Page6

trên quy mô lớn ở Miền Bắc với các hình thức HTX nông nghiệp từ cấp thấp
đến cấp cao; HTX nông nghiệp từ quy mô thôn, đến quy mô toàn xã. Công
cuộc HTH nông nghiệp đã đóng góp phần thực hiện thắng lợi 2 nhiệm vụ
chiến lược: xây dụng XHCN ở miền Bắc và giải phóng miền Nam thực hiện
thống nhất đất nước;

- Không thể chấp nhận một nền nông nghiệp sản xuất manh mún trong
khi cả nước tiến hành xây dựng nền kinh tế thị trường.
- Không thể xây dựng thương hiệu nông sản quốc gia nếu mỗi tỉnh, mỗi
hộ nông dân tiếp tục tự cấp tự túc trên mảnh đất nhỏ bé của mình.
- Nhưng cũng không thể không thấy quá trình phân hóa giàu nghèo đang
diễn ra gay gắt ở nông thôn mà một nhóm nông dân đang phải gánh chị
u.
- Nếu trước đây, khi chia lại ruộng để khoán hộ, nông dân đòi hỏi phải
có tốt-có xấu, có xa-có gần, có thấp-có cao, thì ngày nay tư tưởng manh mún,
nhỏ hẹp ấy đã phải nhường cho một ước nguyện mới mang tính thời đại-cần
những diện tích rộng lớn, liền vùng, liền khoảnh để sản xuất hàng hoá.
- Ruộng đất 1 hộ không chỉ đơn giản dồn từ trên chụ
c mảnh vào vài ba
mảnh, mà chỉ còn 1 đến 2 mảnh
Bình quân mỗi hộ chỉ 0,7 - 0,8 ha, có tới 7 - 8 thửa, mỗi lao động 0,3ha
và mỗi nhân khẩu 0,15 ha, Ở Đồng bằng Bắc Bộ chỉ có 360m
2
/khẩu. Nếu cứ
để ruộng đất như hiện nay thì không bao giờ có sản xuất hàng hoá, mà không
có vùng sản xuất hàng hoá thì không bao giờ có tiêu thụ theo hợp đồng.
Ruộng đất được tích tụ, tập trung sẽ khuyến khích nông dân, các nhà
đầu tư áp dụng tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất. Một khi các nhà đầu tư nông
nghiệp có thể tích tụ, tập trung ruộng đất ở quy mô thích hợp, đóng góp của
họ sẽ không ch
ỉ làm thay đổi cung cách sản xuất manh mún mà còn tạo ra
những đổi mới thật sự ở nông thôn (Lã Văn Lý, 2009).
1.1.2.3 Tích tụ và tập trung để tạo dựng thị trường quyền sử dụng đất
(QSDĐ) nông thôn, nông nghiệp
Hiện cả nước có trên 11 triệu hộ nông dân, với gần 70 triệu nhân khẩu,
đang chiếm giữ 12,68 triệu ha đất nông nghiệp, chiếm 57,88 % diện tích đất

tạo nghề nên tỷ lệ thất nghiệp ở mức báo động, có trên 83% lao động ở nông
thôn chưa qua đào tạo bất kỳ chuyên môn gì (con số từ Bộ LĐTB-XH), trong
khi tỷ l
ệ này ở thành thị là 49%. 20% lao động ở nông thôn thất nghiệp, tương
đương khoảng 4,8 triệu người, cộng thêm hàng triệu thanh niên bước vào độ
tuổi lao động mỗi năm (Bùi Quang Dũng, 2002)
c) Chính sách tích tụ, tập trung ruộng đất là vì nông dân, cho nông dân,
Khuyến khích nông dân tích tụ, tập trung ruộng đất để phát triển sản xuất nông
nghiệp, nghiêm cấm việc đầu cơ ruộng đất, sử dụng ruộng đất kém hiệu quả
.

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp  Page9

d) Tốc độ và quy mô tích tụ, tập trung ruộng đất phải được tính toán
theo vùng miền và phù hợp với tốc dộ và quy mô việc rút lao động ra khỏi
nông nghiệp để tránh tình trạng một bộ phận nông dân không còn đất sản
xuất, nhưng vẫn chưa có việc làm mới để đảm bảo cuộc sống. Tiến trình này
không giống nhau tại các địa phương, do đó quá trình tích tụ, tập trung đất đai
cũng mang đặc trư
ng từng vùng miền (Bùi Quang Dũng, 2002).
e) Tích tụ, tập trung ruộng đất với mục tiêu là phát triển nông nghiệp,
phát triển xã hội và đời sống người dân nông thôn. Do đó bên cạnh chính sách
khuyến khích để nông dân trở thành chủ thể chính quá trình tích tụ, tập trung,
đồng thời giúp họ sở hữu tư liệu sản xuất, giúp họ sản xuất được những hàng
hóa đủ sức cạnh tranh, giúp họ liên kết để tập trung sả
n xuất
1.1.4 Dồn điền đổi thửa
1.1.4.1 Khái niệm dồn điền đổi thửa
Bản chất của quá trình này là dồn ghép các ô thửa nhỏ thành ô thửa lớn,
sắp xếp qui hoạch lại ruộng đất, khắc phục tình trạng manh mún, phân tán

ại địa phương.
- Ruộng đất tập trung giúp hộ giảm được công lao động ở một số khâu
chủ yếu, đặc biệt là những lúc chính vụ như thu hoạch, gieo trồng…Từ đó các
hộ có điều kiện tập trung lao động sản xuất ở những lĩnh vực khác, cũng như
giúp hộ có cơ cấu thu nhập đa dạng từ nhiều nguồn hơn, giả
m tối đa rủi ro gặp
phải trong sản xuất khi điều kiện sản xuất nông nghiệp bất lợi dẫn tới mất mùa,
năng suất thấp. Tạo điều kiện cho các hộ có khát vọng nghiên cứu, tiếp cận
những giống cây trồng vật nuôi có năng suất, chất lượng cao hơn; các hộ có
điều kiện áp dụng những tiến bộ KHKT mới vào trong sả
n xuất, tiết kiệm chi
phí sản xuất đồng thời nâng cao thu nhập cho hộ (Bộ nông nghiệp và phát
triển nông thôn, 2003).
1.1.4.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình thực hiện dồn điền đổi thửa
Hiện nay vướng mắc lớn gây ảnh hưởng tiến độ DĐĐT là sự vào cuộc
của các cấp chính quyền, đặc biệt là chính quyền ở cơ sở chưa thật sự
tích
cực. Bên cạnh đó, sự đồng thuận, hợp tác của một số hộ sản xuất nông nghiệp
chưa cao. Việc thành lập lại hoặc củng cố Ban chỉ đạo DĐĐT, việc ban hành
chỉ thị, nghị quyết, kế hoạch tiếp tục thực hiện DĐĐT gắn với chuyển dịch cơ
cấu cây trồng, vật nuôi trên địa bàn các xã, thị trấn chậm
được triển khai, hoặc
có triển khai nhưng quá trình kiểm tra, đôn đốc không thường xuyên nên hiệu

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page11

quả thấp. Một số địa phương, trình độ, năng lực, tinh thần trách nhiệm của
cán bộ xã, HTX nông nghiệp, thôn, đội sản xuất còn hạn chế nên lúng túng,
chậm trễ trong quá trình thực hiện chủ trương DĐĐT. Đặc biệt, công tác quản
lý đất đai ở cơ sở thời gian qua còn buông lỏng, khi thực hiện DĐĐT phải quy

chính quyền địa phương có thể thu hồi đất vào bất cứ lúc nào. Công nghiệp hóa

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page12

và đô thị hóa trong 30 năm qua đã làm cho hàng chục triệu nông dân bị mất đất
canh tác. Những cuộc biểu tình phản đối của nông dân bị mất đất là nguyên
nhân chính gây bất ổn xã hội ở Trung Quốc hiện nay.
Một thực tế là ruộng đất ở Trung Quốc rất manh mún, mỗi nông hộ sử
dụng một khoảnh đất nhỏ, bình quân 0,67 héc ta/hộ gia đình. Những nông dân
ra thành phố kiếm việc làm - đã lên tớ
i 200 triệu người trong những năm vừa
qua - phải nhờ người thân canh tác những khoảnh ruộng đó hoặc bỏ ruộng
hoang mà không thể bán đi được. Vì chưa trả đất canh tác lại cho nhà nước,
những công nhân nhập cư này vẫn bị coi là nông dân và chỉ có thể làm những
công việc đơn giản, có mức lương thấp. Trong khi đó, ở thành phố, cư dân đô
thị từ lâu đã được phép chuyển nhượ
ng quyền sử dụng đất không hạn chế và
rất nhiều người giàu lên rất nhanh cùng với sự sôi động của thị trường đất đô
thị. Mặt khác, chính quyền địa phương thường xuyên có những quyết định
ảnh hưởng xấu người nông dân (Bùi Quang Dũng, 2002).
Quá trình cải cách nông nghiệp chia 2 giai đoạn, giai đoạn một từ năm
1978 - 1984 và giai đoạn hai từ 1985 - 1990 sau đó đề ra phương h
ướng phát
triển nông nghiệp nông thôn cho thập kỷ 90. Cách thực hiện cải cách nông
nghiệp của nước này trong những năm qua là khoán ruộng đất cho các hộ
nông dân theo nguyên tắc: Thứ nhất, tôn trọng nguyện vọng của quần chúng
nhân dân, không được áp đặt. Hai là, phải đảm bảo theo nguyên tắc số lượng
và giá trị ngang bằng (nghĩa là những thửa ruộng có cùng cấp độ hoặc đã
được cải tạo nâng độ màu m
ỡ thì khi điều chỉnh phải qui đổi theo hệ số để đền

định số lượng ruộng đất được phép tư hữu đối với các chủ đất. Số ruộng đất
vượt mức hạn điền được Chính phủ định giá và t
ạo điều kiện về tín dụng cho
nông dân mua trả góp trong thời hạn dài. Chính sách giao đất cho nông dân còn
được áp dụng đối với cả đất thuộc sở hữu nhà nước. Vì vậy, người sản xuất
nông nghiệp gắn bó với ruộng đất, yên tâm đầu tư, chủ động áp dụng khoa học
– công nghệ nhằm nâng cao năng suất, hiệu quả sản xuất nông nghiệp. Khi
nông nghiệp phát triển, ruộng đất hạ
n hẹp đã cản trở nông dân kinh doanh lớn,
Chính phủ Đài Loan đã đưa ra chủ trương khuyến khích nông dân "chung nhau
kinh doanh", "uỷ thác kinh doanh"; "thay mặt kinh doanh" .v.v để tập trung
ruộng đất đạt tới quy mô cần thiết của nông nghiệp hàng hoá, khai thác có hiệu
quả hơn nguồn tài nguyên đất đai hạn hẹp, thúc đẩy tăng cường nông nghiệp
với tốc độ khoảng 4%/năm trong suốt thời gian từ 1952 – 1981 (Bùi Quang
Dũng, 2002).

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page14

1.2.1.3 Tập trung ruộng đất phát triển trang trại ở Hà Lan
Cơ sở của nền nông nghiệp Hà Lan là các trang trại gia đình theo chế độ tư
hữu. Tỷ lệ sở hữu đất có tương đối lớn, các trang trại thuê đất sản xuất kinh
doanh chỉ chiếm tỷ lệ nhỏ. Nhưng do quỹ đất nhỏ, bình quân đất theo đầu người
ít, việc mở rộng quy mô trang trại không dễ, biện pháp khả thi v
ẫn nhờ một phần
vào đất thuê.
Hà Lan là nước có nền kinh tế thị trường hoàn chỉnh, đảm bảo các chủ
trang trại có toàn quyền quyết định hoạt động sản xuất và quyền định đoạt tài
nguyên của mình, khuyến khích chủ trang trại hoạt động kinh doanh thu lợi
nhuận tối đa. Thoạt đầu là kinh tế tiểu nông, sản xuất tự cấp, tự túc, hiệu suất
rấ

nhiên, đến nay “Khoán 10” đã bộc lộ những hạ
n chế nhất định khi đất nước
bước vào công cuộc CNH - HĐH nông nghiệp, nông thôn. Khảo sát mới đây
của Viện Quy hoạch và thiết kế nông nghiệp cho thấy 100% số hộ nông dân
cho rằng ruộng đất manh mún đã gây cản trở cho sản xuất (Bộ nông nghiệp và
phát triển nông thôn, 2003).
Luật đất đai năm 1993 và được sửa đổi bổ sung năm 2003 đã thực hiện
công bằng xã hội, sau đ
ó là Nghị định 64/CP của Chính phủ ngày 27/09/1993
và gần đây là về việc giao đất nông nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng
ổn định, lâu dài với mục đích sản xuất nông nghiệp theo phương châm có tốt,
có xấu, có gần, có xa. Điều này đã làm cho số thửa ruộng tăng lên đáng kể. Số
thửa sau khi giao đất theo Nghị định 64/CP ở một số địa phương đã tăng lên
hơn 2 l
ần so với khi thực hiện khoán theo Chỉ thị 100/CT-TW.
Bảng 1.1 Mức độ manh mún ruộng đất ở các vùng trong cả nước

TT Vùng
Tổng thửa/hộ Diện tích BQ (m
2
)/thửa
TB Cá biệt Đất lúa Đất rau- màu
1 Trung du miền núi 10 – 20 25 150 - 300 100 – 150
2 Đồng bằng sông Hồng 7 25 300 - 400 100 – 150
3 Duyên hải Bắc trung bộ 7 – 10 30 300 - 500 200 – 300
4 Duyên hải Nam trung bộ 5 – 10 30 300 - 1000 200 – 1000
5 Tây nguyên 5 25 200 - 500 1000 – 5000
6 Đông nam bộ 4 15 1000 – 3000 1000 – 5000
7 Đồng bằng sông Cửu long 3 10 3000 - 5000 500 – 1000
(Nguồn Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2003)

* Khó khă
n trong cơ giới hoá sản xuất
Qui mô thửa ruộng quá manh mún và không bằng phẳng trong sản xuất đã
hạn chế khả năng đưa máy móc vào đồng ruộng, giải phóng sức lao động cho
người nông dân trong tất cả các khâu của quá trình sản xuất từ khâu làm đất,
gieo trồng cho đến thu hoạch. Theo thống kê mới nhất của ngành nông nghiệp,
cả vùng ĐBSCL mới có khoảng 1.000 máy GĐLH, 3.400 máy gặt xếp dãy, chỉ
đảm bảo thu hoạ
ch được 15% diện tích lúa của vùng; 85% diện tích còn lại phải
chịu thất thoát sau thu hoạch với tỷ lệ từ 10-12%. Diện tích từng hộ quá nhỏ hẹp
là một trở ngại lớn cho vấn đề cơ giới hóa. Hầu hết nông hộ chỉ có dưới 1 ha lúa,

Trích đoạn Phương phỏp xử lý số liệu Tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế Thực trạng phỏt triển ngành kinh tế nụng nghiệp Đỏnh giỏ chung về kinh tế xó hội
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status