Ảnh hưởng của dồn điền đổi thửa đến sản xuất nông nghiệp của các hộ nông dân xã Quỳnh Thọ, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình - Pdf 15

LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là kết quả nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu,
kết quả nêu trong luận văn này là trung thực và chưa từng được dùng để bảo
vệ một học vị nào.
Tôi xin cam đoan rằng các thông tin được trích dẫn trong luận văn đều
được chỉ rõ nguồn gốc và mọi sự giúp đỡ đều đã được cảm ơn.
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Phương
LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình học tập và hoàn thành khóa luận tốt nghiệp, tôi
đã nhận được sự rất nhiều sự quan tâm giúp đỡ và chỉ bảo tận tình của các
đoàn thể, cá nhân, cơ quan trong và ngoài trườn.
Trước hết tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất đến cô giáo Nguyễn
Thị Hải Ninh, người đã dành nhiều thời gian để tận tình hướng dẫn, giúp đỡ,
tạo mọ điều kiện tốt nhất cho tôi thực hiện và hoàn thành khóa luận tốt
nghiệp này.
Tôi xin chân thành cảm ơn toàn thể các thầy cô giáo trong trường Đại
học Nông nghiệp Hà Nội, nhất là thầy cô trong khoa Kinh tế & PTNT đã tận
tình giúp đỡ tôi trong quá trình làm khóa luận tốt nghiệp.
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới tập thể Đảng bộ và các cấp
chính quyền, Ban thông kê, Ban địa chính cùng toàn thể người dân xã Quỳnh
Thọ, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình.
Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, người thân và bạn bè,
đã luôn bên cạnh cổ vũ và động viên tôi trong suốt quá trình thực hiện và
hoàn thành khóa luận này.
Tôi xin chân thành cảm ơn tất cả những sự giúp đỡ quý báu đó!
Hà Nội, ngày 20 tháng 5 năm 2014
Sinh viên
Nguyễn Thị Phương
i
TÓM TẮT KHÓA LUẬN

hoạt động sản xuất nông nghiệp sau dồn điền đổi thửa tại xã Quỳnh Thọ.
Để đạt được mục tiêu trên đề tài dựa vào các phương pháp nghiên cứu
chủ yếu như: phương pháp chọn mẫu, chọn điểm nghiên cứu, phương pháp
thu thập thông tin, phương pháp PRA, phương pháp chuyên gia chuyên khảo.
Cơ sở dữ liệu sau khi thu thập sẽ được phân tích bằng thống kê mô tả, so sánh
và phân theo nhóm hộ, có sự so sánh trước và sau quá trình chuyển đổi được
tổng hợp xử lý qua tính toán và trên máy tính với phần mềm Excel. Để có thể
đánh giá được tác động của DĐĐT một cách toàn diện nhất, nghiên cứu tiến
hành điều tra 60 hộ nông dân trong đó 20 hộ thôn Tiên Bá, 14 hộ thôn Hưng
Đạo, 13 hộ thôn Bắc Sơn, 13 hộ thôn Đức Chính phân ra theo tiêu chí 12 hộ
dưới 3 sào (quy mô nhỏ), 25 hộ từ 3 – 6 sào (quy mô trung bình), 23 hộ trên 6
sào (quy mô lớn).
Kết quả nghiên cứu tình hình thực hiện công tác dồn điền đổi thửa tại
xã Quỳnh Thọ: Sau chưa đầy 1 năm thực hiên công tác dồn điền đổi thửa xã
Quỳnh Thọ đã đạt được một số kết quả đáng khích lệ. Nếu trước dồn điền đổi
thửa toàn xã có tổng số thửa là 6.031thì sau khi dồn điền đổi thửa chỉ còn lại
3.698 thửa, tức đã giảm so với trước 2.333 thửa. Thống kê cũng cho thấy
rằng, nếu như trước DĐĐT bình quân mỗi hộ có 3,5 thửa với diện tích bình
quân mỗi thửa là 632 m
2
, thửa nhỏ nhất của xã là 196 m
2
thì sau DĐĐT thì
con số này là 1,99 thửa trên một hộ với diện tích bình quân 997m
2
trên một
thửa, thửa có diện nhỏ nhất tăng lên là 419m
2
. Quá trình dồn đổi đã làm các ô
thửa dồn ghép thành các ô thửa lớn tạo ra sự chuyển dịch cơ cấu cây trồng,

Bảng 3.3 Một số kết quả phát triển kinh tế của xã Quỳnh Thọ qua 3 năm 2011-2013 34
Bảng 3.4 Tình hình cơ sở hạ tầng của xã năm 2013 35
Bảng 3.5 Dự kiến điều tra nông hộ 38
Bảng 4.1 So sánh một số tiêu chí trước và sau dồn điền đổi thửa tại xã Quỳnh Thọ 51
Bảng 4.2 Sự thay đổi đất canh tác của xã Quỳnh Thọ 54
Bảng 4.3 Những thông tin chung về nhóm hộ điều tra 56
Bảng 4.4 Thực trạng ruộng đất nông nghiệp của 4 thôn điều tra 58
Bảng 4.5 Sự tham gia của các hộ điều tra trong quá trình dồn điền đổi thửa 60
Bảng 4.6 Sự thay đổi diện tích đất canh tác thực tế của nhóm hộ điều tra 62
Bảng 4.7 Sự thay đổi cơ cấu cây trồng 65
Bảng 4.8 Một số công thức luân canh trước khi thực hiện dồn đổi 66
Bảng 4.9 Một số công thức luân canh sau khi thực hiện dồn đổi 66
Bảng 4.10 Sự thay đổi vật tư và các thiết bị phục vụ sản xuất 67
Bảng 4.11 Thay đổi về mức cơ giới hóa của các hộ/1 sào lúa 69
Bảng 4.12 Thay đổi về đầu tư lao động của các hộ/1 sào rau màu 71
Bảng 4.13 Thay đổi mức đầu tư, chi phí của các hộ/1 sào lúa 73
Bảng 4.14 Thay đổi mức đầu tư, chi phí của các hộ/1 sào rau màu 75
Bảng 4.15 Thay đổi kết quả sản xuất nông nghiệp của các nhóm hộ điều tra 78
Bảng 4.16 Thay đổi cơ cấu giá trị sản xuất nông nghiệp của các nhóm hộ điều tra 81
Bảng 4.17 Mức thu nhập bình quân của các nhóm hộ ở các thôn nghiên cứu đại diện 82
Bảng 4.18 Tình hình cơ cấu lao động của nhóm hộ điều tra 86
vi
Bảng 4.19 Diện tích đất giao thông, thủy lợi ở 4 thôn 88
Bảng 4.20 Diện tích đất sản xuất nông nghiệp được tưới tiêu ở các hộ điều tra 89
Bảng 4.21 Đánh giá của các hộ về cơ cấu cây trồng và công thức luân canh 92
Bảng 4.22 Đánh giá của các hộ về chi phí sản xuất 93
vii
DANH MỤC BIỂU ĐỒ, HỘP
BIỂU ĐỒ :
Biểu đồ 3.1: Cơ cấu kinh tế xã Quỳnh Thọ năm 2011 33

UBND Ủy ban nhân dân
ix
PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Nền kinh tế của nước ta đang trong xu thế hội nhập ngày càng sâu
rộng. Đảng ta chủ trương đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa- hiện đại hóa
(CNH- HĐH), trong đó CNH- HĐH nông nghiệp, nông thôn được ưu tiên
hàng đầu. Để thực hiện chủ trương này, Đảng và Nhà nước ta đã có hàng
loạt những chính sách mới về đất đai nhằm thúc đẩy sản xuất nông nghiệp,
giải quyết vấn đề lương thực của cả nước, điển hình như Luật đất đai năm
2003, Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 5/4/1988 của Bộ Chính trị về đổi mới
quản lý kinh tế nông nghiệp. Theo đó, ruộng đất được chia đến tận tay người
nông dân. Có thể nói rằng, chính sách mới về quyền sử dụng đất đã làm thay
đổi hoàn toàn quan hệ sản xuất ở nông thôn, các hộ nông dân được giao đất
trong thời gian dài tạo động lực cho sự phát triển vượt bậc của nền nông
nghiệp. Nhà nước đã khuyến khích khu vực nông thôn thực hiện dồn điền
đổi thửa nhằm tập trung sản xuất theo quy mô lớn. Hiện nay, phong trào dồn
điền đổi thửa đã và đang diễn ra rộng rãi khắp cả nước với sự đồng tình và
ủng hộ đông đảo của người dân.
Thái Bình là địa phương có thế mạnh trong sản xuất nông nghiệp. Tỉnh
Thái Bình là tỉnh nông nghiệp đất chật người đông, bình quân diện tích canh
tác chỉ có 500 m
2
/người
1
. Tình trạng ruộng đất bị chia nhỏ, manh mún dẫn
đến hiệu quả sản xuất thấp, hạn chế khả năng đổi mới và ứng dụng các tiến bộ
khoa học kỹ thuật vào đồng ruộng, ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp.
Trước thực trạng đó, tỉnh Thái Bình đã tiến hành dồn điền đổi thửa (DĐĐT)
đất nông nghiệp để tạo tiền đề cho thực hiện đề án xây dựng nông thôn

đặt ra cho sản xuất nông nghiệp trên địa bàn xã Quỳnh Thọ là: Kết quả của
DĐĐT như thế nào? DĐĐT ảnh hưởng đến bố trí cơ cấu cây trồng của các hộ
nông dân ra sao? Việc áp dụng cơ giới hóa vào sản xuất sau DĐĐT có những
2
thuận lợi và khó khăn gì? Các hộ nông dân có nên mở rộng quy mô sản xuất
để phù hợp hơn nữa với diện tích đất đai quy hoạch sau DĐĐT? Đề tài “Ảnh
hưởng của dồn điền đổi thửa đến sản xuất nông nghiệp của các hộ nông
dân xã Quỳnh Thọ, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình” được tiến hành
nghiên cứu để góp phần tìm lời giải cho những câu hỏi nêu trên.
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
Nghiên cứu ảnh hưởng của dồn điền đổi thửa đến sản xuất nông nghiệp
của hộ nông dân xã Quỳnh Thọ, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình; từ đó đề
xuất các giải pháp nhằm nâng cao kết quả sản xuất nông nghiệp của các hộ
nông dân sau dồn điền đổi thửa tại địa phương trong thời gian tới.
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về dồn điền đổi thửa và ảnh
hưởng của dồn điền đổi thửa đến sản xuất nông nghiệp của hộ nông dân.
- Tìm hiểu thực trạng dồn điền đổi thửa đất nông nghiệp trên địa bàn xã
Quỳnh Thọ.
- Phân tích ảnh hưởng của dồn điền đổi thửa đến hoạt động sản xuất nông
nghiệp của các hộ nông dân trên địa bàn nghiên cứu.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao kết quả của hoạt động sản xuất
nông nghiệp sau dồn điền đổi thửa tại xã Quỳnh Thọ.
1.3 Câu hỏi nghiên cứu
- Thực trạng công tác dồn điền đổi thửa ở xã Quỳnh Thọ diễn ra như thế nào?
- Dồn điền đổi thửa ảnh hưởng như thế nào đến sản xuất nông nghiệp hộ
nông dân tại địa phương?
- Giải pháp nào cần thực hiện để công tác dồn điền đổi thửa tại xã Quỳnh
Thọ hiệu quả hơn, góp phần phát triển sản xuất nông nghiệp, nâng cao thu

ruộng lớn, trái ngược với việc chia các mảnh ruộng to thành các mảnh ruộng
nhỏ (Viện KHKTNN Việt Nam, 2004).
C.Mác cho rằng: “Tích tụ tư bản là đầu tư tăng thêm vào đầu tư đã có
làm cho tổng tư bản tăng lên. Quá trình đó được thực hiện bởi tích tụ tư bản
và tập trung tư bản. Mà tích tụ tư bản là làm cho quy mô của tư bản xã hội
tăng lên nhờ có tích lũy tư bản cá biệt. Tập trung tư bản là hợp nhất một số tư
bản cá biệt đã có thành một tư bản lớn hơn thông qua việc các nhà tư bản thôn
tính lẫn nhau hay liên doanh, liên kết với nhau” (Nguyễn Viết Thông, 2009).
Bản chất của dồn điền đổi thửa là quá trình dồn ghép các ô thửa nhỏ
thành ô thửa lớn, sắp xếp quy hoạch lại ruộng đất, khắc phục tình trạng
manh mún, phân tán ruộng đất, tổ chức thiết kế lại đồng ruộng, hệ thống
thủy lợi, giao thông nội đồng, nâng cao hệ số sử dụng đất, đẩy nhanh chuyển
dịch sản xuất theo hướng sản xuất hàng hóa, phát triển kinh tế hộ và trang
trại, củng cố quan hệ sản xuất, thực hiện CNH-HĐH nông nghiệp, nông thôn
(Lã Văn Lý, 2007).
Như vậy, dồn điền đổi thửa là việc dồn các thửa ruộng nhỏ thành thửa
ruộng lớn để khắc phục tình trạng manh mún ruộng đất, nhằm tạo thuận lợi
hơn nữa cho các hộ nông dân phát triển sản xuất nông nghiệp.
2.1.2 Sự cần thiết của dồn điền đổi thửa
Thực tế và các nghiên cứu về dồn điền đổi thửa đối với sản xuất nông
nghiệp cho thấy:
5
Thứ nhất, dồn điền đổi thửa sẽ khắc phục tình trạng ruộng đất manh
mún. Ruộng đất sau khi chuyển đổi sẽ được tập trung về một khu vực, một
xứ đồng sẽ thuận lợi cho đầu tư, thâm canh, tiết kiệm được chi phí, đi lại,
vận chuyển khi thu hoạch. Mặt khác, sau khi dồn điền đổi thửa sẽ giảm và ít
bờ ruộng hơn nên diện tích canh tác chắc chắn sẽ tăng lên so với trước khi
dồn điền đổi thửa.
Thứ hai, dồn điền đổi thửa tạo tiền đề cho việc quy hoạch lại ruộng đất,
là cơ sở cho việc hoạch định chính sách đầu tư và phát triển sản xuất nông

Tóm lại, dồn điền đổi thửa là tiền đề để xây dựng nông thôn mới thành
công, giúp tăng diện tích trên một thửa ruộng, tạo thuận lợi cho hộ canh tác,
thực hiện cơ giới hóa nông nghiệp, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp,
nông thôn theo hướng CNH- HĐH, từng bước phân công lao động trong từng
địa bàn, tạo việc làm, tăng giá trị thu nhập trên một đơn vị diện tích sản xuất.
2.1.3 Vai trò của dồn điền đổi thửa
Sau DĐĐT có thể nói hầu hết đồng ruộng đã được quy hoạch đảm bảo
việc sử dụng lâu dài và có hiệu quả. Đường giao thông nội đồng, hệ thống
thủy lợi, đất vùng chuyển đổi đều rõ ràng, tập trung, có thể đa dạng về hình
thức và mục đích sử dụng. Ở Thái Bình, ở nhiều địa phương sau khi chuyển
đổi ruộng đất người dân rất phấn khởi, thể hiện ngay bằng việc tích cực đóng
góp công sức, tiền của xây dựng mương máng, đường giao thông nội
đồng ước tính lên tới hàng vạn ngàn công và hàng tỷ đồng. Sau DĐĐT, bà
con hạch toán qua một vài vụ sản xuất thấy năng suất lúa tăng 5 – 10 tạ /ha,
chi phí điện nước, công lao động tiết kiệm được 10 -15 %. Thu hoạch vụ
đông, thương nhân về tận ruộng thu gom (Tổng cục địa chính, 1998).
DĐĐT đã phát huy được tính tự chủ của đơn vị kinh tế hộ nông dân trong
đầu tư thâm canh cây trồng, vật nuôi. Có điều kiện để bố trí cơ cấu sản xuất, thời
vụ, áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào đồng ruộng, tăng vụ, tăng năng suất lao
động. Bước đầu hình thành các trang trại nông nghiệp, hiệu quả kinh tế đạt cao hơn.
DĐĐT đã tác động tích cực tới nhiều mặt trong quá trình phát triển
7
kinh tế xã hội ở địa phương. Đây là điều kiện để hợp tác kinh tế nảy nở, từ mô
hình hợp tác, mô hình doanh nghiệp nông nghiệp đến hợp tác kinh tế vùng.
Từ đó thúc đẩy hoạt động chuyển giao công nghệ, hỗ trợ đầu tư và xúc tiến
thị trường tiêu thụ cho sản xuất hàng hóa nông sản (Nguyễn Văn Linh, 2008).
DĐĐT thành công giúp người nông dân tiết kiệm được thời gian lao
động, chi phí sản xuất ở các khâu công tác, giảm hẳn công “chạy đồng” ở các
xứ đồng, nhiều thửa, thửa nhỏ nay tập trung đầu tư vào 2,3,4 thửa/hộ sẽ có
nhiều điều kiện để làm kỹ hơn, dự đoán và các biện pháp kịp thời, hợp lý để

Nghị quyết số 6 của Bộ Chính trị tháng 11/1999 về “Tích tụ ruộng đất,
chuyển nhượng quyền sử dụng, tích tụ và tập trung ruộng đất là hiện tượng sẽ diễn
ra trong quá trình phát triển nông nghiệp lên sản xuất hàng hóa lớn. Việc tích tụ và
tập trung ruộng đất phải được kiểm soát, quản lý chặt chẽ của Nhà nước”.
Điều 102 Nghị định 181/2004/NĐ-CP của Chính phủ, ngày
29/10/2004 về việc hướng dẫn thi hành Luật đất đai 2003: “Hộ gia đình, cá
nhân sử dụng đất nông nghiệp do Nhà nước giao đất hoặc chuyển đổi, nhận
chuyển nhượng, nhận thừa kế, được tặng cho quyền sử dụng đất hợp pháp từ
người khác thì được chuyển quyền sư dụng đất nông nghiệp đó cho hộ gia
đình, cá nhân khác trong cùng một xã, phường, thị trấn để thuận lợi cho việc
sản xuất đất nông nghiệp”.
Như vậy, có thể thấy chủ trương, chính sách của Đảng và Chính phủ về
việc chuyển đổi ruộng đất thực hiện DĐĐT trong nông nghiệp đã tạo ra hành
lang pháp lý thuận lợi cho việc tích tụ và tập trung đất đai. Tuy nhiên các văn
bản pháp luật ban hành còn chậm. Chưa có các văn bản hướng dẫn cụ thể đi
kèm hướng dẫn việc thực hiện chuyển đổi ruộng đất, dồn điền đổi thửa chưa
tương xứng với nhu cầu thực tiễn.
2.1.5 Ảnh hưởng của dồn điền đổi thửa đến sản xuất nông nghiệp của hộ
nông dân
a, Một số khái niệm
9
 Khái niệm về hộ nông dân
Hộ nộng dân là hộ có phương tiện kiếm sống dựa trên ruộng đất, chủ
yếu sử dụng lao động gia đình vào sản xuất, luôn nằm trong hệ thống kinh tế
rộng hơn, nhưng về cơ bản được đặc trưng tham gia từng phần vào thị trường
với mức độ không hoàn hảo (Đỗ Kim Chung,2009).
 Khái niệm về sản xuất nông nghiệp
Sản xuất nông nghiệp là quá trình sản xuất lương thực, thực phẩm
thức ăn gia súc, tơ sợi và sản phẩm mong muốn khác bởi các phân ngành
như trồng trọt, chăn nuôi, chế biến nông sản và công nghệ sau thu hoạch

đến hiệu quả của quá trình sản xuất kinh doanh.
Thứ ba, sản xuất nông nghiệp được phân bố trên phạm vi không gian rộng
lớn. Đó là đất đai trải khắp các vùng với mức độ tập trung và phân tán khác
nhau. Sự đa dạng về địa hình, chất đất, nguồn nước, sinh vật sống và điều kiện
thời tiết khí hậu ở từng vùng sẽ hình thành nên các vùng kinh tế - sinh thái riêng.
Thứ tư, đối tượng sản xuất nông nghiệp là sinh vật nên sản xuất nông
nghiệp mang tính thời vụ. Vì thế, cung về nông sản và cầu về đầu vào dùng
trong sản xuất nông nghiệp cũng mang tính thời vụ. Do tính thời vụ trong sản
xuất nông nghiệp đã tạo ra những biến động bất thường về giá đầu vào và đầu
ra theo thời vụ sản xuất. Thông thường, giá nông sản lúc chính vụ thường
thấp hơn so với giá giá nông sản lúc đầu vụ. Ngược lại, giá đầu vào dùng
trong sản xuất nông nghiệp lúc chính vụ lại thường cao hơn so với giá đầu
vào lúc đầu và cuối vụ sản xuất (Dương Văn Hiểu, 2010).
11
c, Mối quan hệ giữa sản xuất nông nghiệp và ruộng đất
Trong nông nghiệp, ruộng đất vừa là đối tượng lao động vừa là tư liệu
lao động. Ruộng đất là đối tượng lao động khi con người sử dụng công cụ lao
động tác động vào đất làm cho đất thay đổi hình dạng. Ruộng đất là tư liệu
lao động, khi con người sử dụng công cụ lao động tác động lên đất thông qua
thuộc tính lý học, hoá học, sinh học của đất. Sự kết hợp giữa đối tượng lao
động và tư liệu lao động đã làm cho ruộng đất trở thành tư liệu sản xuất trong
nông nghiệp. Không những vậy nó còn là tư liệu sản xuất chủ yếu, tư liệu sản
xuất đặc biệt, tư liệu sản xuất không thể thay thế được. Quy mô ruộng đất và
chất lượng đất đai sẽ ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp. Tích tụ và tập
trung ruộng đất sẽ phát huy được tính chủ động trong viêc ra quyết định sản
xuất nông nghiệp. Thể hiện qua sự tăng quy mô sản xuất, lao động, vật tư,
vốn, áp dụng các tiến bộ KHKT để làm tăng giá trị sử dụng đất, thâm canh
tăng vụ để nâng cao hệ số sử dụng đất, nâng cao hiệu quả trong sử dung đất,
tăng năng suất…Khi được sản xuất trên thửa ruộng lớn hơn đồng nghĩa với
việc các nông hộ có khả năng bố trí cơ cấu sản xuất, cơ cấu thời vụ, mạnh dạn

thu hoạch, thời vụ gieo cấy.
Thứ tư, dồn điền đổi thửa thúc đẩy nhanh quá trình chuyển đổi cơ cấu
cây trông vật nuôi. DĐĐT làm cho đất trồng lúa giảm, thay vào đó là sự tăng
lên của đất nuôi trồng thủy sản, đất trang trại, một phần diện tích cấy lúa kém
hiệu quả chuyển sang chăn nuôi và trồng cây lâu năm.
Thứ năm, dồn điền đổi thửa là điều kiện tốt cho việc phân bổ lại lực
lượng lao động trong nông nghiệp và nông thôn theo hướng tăng tỷ lệ lao
động trong công nghiệp ngành nghề, dịch vụ nông thôn và giảm tỷ lệ lao động
nông nghiệp thuần túy. Đồng thời còn là điều kiện tốt cho việc phát triển và
hiện đại hóa ngành nghề, thủ công mỹ nghệ, công nghiệp trong nông thôn
(củng cố, phát huy ngành nghề truyền thống, phát triển ngành nghề mới. Dồn
13
điền đổi thửa là điều kiện tốt cho các loại hình HTX kinh tế, dịch vụ phát
triển) (Bộ TN và MT, 2003).
Thứ sáu, chính sách dồn điền đổi thửa giúp quy hoạch lại hệ thống
giao thông, thủy lợi nội đồng hiệu quả hơn, tạo điều kiện thúc đẩy quá trình
đa dạng hóa sản xuất nông nghiệp. Việc quy hoạch mở rộng diện tích giao
thông thủy lợi, bê tông hóa kênh mương nội đồng đã góp phần không nhỏ
trong việc cải tạo đất, nâng cao hiệu quả kinh tế trên một đơn vị diện tích
của các hộ nông dân.
Như vậy, có thể nói rằng dồn điền đổi thửa đã tạo điều kiện thuận lợi
cho các hộ nâng cao hiệu quả sản xuất, chuyển dịch cơ cấu cây trồng vật nuôi
dẫn tới chất lượng năng suất cây trồng tăng cao, vì vậy mà thu nhập của các
hộ cũng được cải thiện đáng kể.
2.2 Cơ sở thực tiễn
2.2.1 Tình hình đất đai manh mún ở các nước trên thế giới và kinh nghiệm khắc phục
2.2.1.1 Trung Quốc
Bình quân mỗi hộ nông dân ở Trung Quốc canh tác trên 5-6 mảnh đất,
với diện tích 0,67 héc ta/hộ gia đình. Theo xu hướng cạnh tranh của nền kinh
tế thị trường đặc biệt là trong nông nghiệp, Trung Quốc đang tiến hành chia

cơ bản nông nghiệp đó là đưa nông nghiệp từ quy mô nhỏ lên quy mô lớn. Để
thực hiện mục tiêu đặt ra, Nhật Bản đã tiến hành chuyển đổi ruộng đất từ các
thửa nhỏ ở xa nhau thành những ô thửa ruộng có quy mô lớn, trong việc
chuyển đổi đứng trên 3 góc độ: “cùng giá trị, cùng vị trí và cùng diện tích ”.
Trong đó giá trị là yếu tố chính. Yêu cầu 1 thửa ruộng sau khi chuyển đổi
phải đạt diện tích tối thiểu 3000 m
2
nhưng phải tiếp giáp với mương máng,
đường giao thông. Quá trình chuyển đổi kéo dài 5- 6 năm. Kết quả của quá
trình này là mỗi hộ bình quân có 1,8 thửa/hộ. Điều này giúp làm tăng năng
suất của máy móc nông nghiệp, tăng sức sản xuất của đất đai, làm tăng năng
suất lao động của nông dân, tạo điều kiện phát triển hàng hóa nâng cao sức
cạnh tranh của nông nghiệp (Đinh Thị Dung, 2004).
15


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status