LỜI NÓI ĐẦU
Để đánh giá kết quả học tập sau bốn năm đào tạo tại trường gắn liền
với công tác đào tạo, nghiên cứu khoa học với thực tiễn sản xuất, giúp cho
sinh viên bước đầu làm quen với công tác nghiên cứu khoa học, được sự phân
công của Bộ môn Điều tra - Quy hoạch, khoa Lâm học và của nhà trường, tôi
tiến hành thực hiện khoá luận:
“Kiểm định mô hình chuyển hoá rừng trồng Mỡ (Manglietia glauca
Dandy) cấp tuổi III và IV (5 - <7 và 7 - < 9 tuổi) cung cấp gỗ nhỏ thành
rừng cung cấp gỗ lớn, tại Công ty Lâm nghiệp Yên Sơn – Tuyên Quang”.
Sau thời gian thực tập khẩn trương, nghiêm túc, được sự giúp đỡ tận
tình của các thầy-cô giáo trong Bộ môn Điều tra - Quy hoạch rừng, sự hướng
dẫn trực tiếp của PGS.TS.Vũ Nhâm đến nay khoá luận tốt nghiệp đã hoàn
thành.
Nhân dịp này tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc đến
PGS.TS Vũ Nhâm, các thầy-cô giáo trong Bộ môn Điều tra - Quy hoạch
rừng. Tôi cũng xin chân thành cảm ơn tới toàn thể cán bộ Công ty Lâm
nghiệp Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang cũng như các bạn đồng nghiệp đã giúp đỡ
tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành đợt thực tập và bản khoá luận
tốt nghiệp theo đúng quy định của nhà trường.
Do thời gian có hạn, trình độ và kinh nghiệm của bản thân còn hạn chế,
hơn nữa đây là lần đầu tiên làm quen với công tác nghiên cứu khoa học nên
bản khoá luận này không thể tránh khỏi những thiếu sót và sai sót nhất định.
Tôi xin ghi nhận những ý kiến đóng góp bổ sung của các thầy, cô giáo và các
bạn đồng nghiệp để bản khoá luận được hoàn thiện hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Xuân Mai, ngày 25 tháng 5 năm 2009
Sinh viên thực hiện
Phan Văn Lực
1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Mỡ (Manglietia glauca Dandy) với đặc điểm sinh trưởng nhanh, tỉa
nâng cao đời sống của người dân.
Năm 2007 một nhóm sinh viên dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Vũ
Nhâm đã thực hiện đề tài “Quy hoạch chuyển hoá rừng trồng Mỡ
(Manglietia glauca Dandy) cấp tuổi III và IV (5-<7 và 7-<9 tuổi) cung cấp
gỗ nhỏ thành rừng cung cấp gỗ lớn, tại Công ty Lâm nghiệp Yên Sơn-
Tuyên Quang”. Cho đến nay, sau khi thực hiện chặt chuyển hóa, cùng với sự
thay đổi của thời gian, của khí hậu, thì các mô hình chuyển hoá đó phát triển
như thế nào, có đi đúng hướng chuyển hoá hay không?, cấu trúc có gì thay
đổi thì chưa có một nghiên cứu nào về kiểm định các mô hình chuyển hoá
rừng Mỡ ở Công ty Lâm nghiệp Yên Sơn- Tuyên Quang. Xuất phát từ thực tế
đó nên tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “ Kiểm địmh mô hình chuyển hoá
rừng trồng Mỡ (Manglietia glauca Dandy) cấp tuổi III và IV (5 - <7 và 7 -
< 9 tuổi) cung cấp gỗ nhỏ thành rùng cung cấp gỗ lớn tại Công ty Lâm
nghiệp Yên Sơn – Tuyên Quang”.
3
Phần I
TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
1.1. Một số nhận thức về loài cây Mỡ, kiểm định và phân chia cấp tuổi.
1.1.1. Một số nhận thức về đặc điểm sinh thái, hình thái và giá trị kinh tế
của loài Mỡ(Manglietia glau Dandy)
Như chúng ta đã biết, loài Mỡ có tên khoa học là Manglietia glauca
Dandy, thuộc họ Ngọc Lan(Magnoliaceae). Phân bố tự nhiên ở Nam Trung
Quốc, Lào, Thái Lan,Việt Nam.
Ở Việt Nam, Mỡ là loài cây bản địa mọc tự nhiên hổn giao trong các
khu rừng nguyên sinh hoặc thứ sinh ở một số tỉnh miền Bắc và miền Trung.
Mỡ được trồng ở Việt Nam từ năm 1932 và từ năm 1960 trở lại trồng đại trà ở
các tỉnh Tuyên Quang, Phú Thọ,Yên Bái…
Về đặc điểm hình thái: Mỡ là loài gỗ nhỏ, cao 20-25m, đường kính 30-
60cm. Thân đơn trục, thẳng, tròn đều, độ thon nhỏ. Tán hình tháp. Vỏ nhãn
màu xám xanh, không nứt, lớp vỏ trong màu trắng ngà, thơm nhẹ. Cành non
dác gỗ có màu trắng xám, lõi gỗ màu vàng nhạt hơi có ánh bạc. Gỗ Mỡ
thường được dùng làm nhà cửa, đóng đồ gia dụng, nguyên liệu giấy, gỗ trụ
mỏ, gỗ dán, lạng, bút chì…
1.1.2. Kiểm định
Kiểm định rừng là một lĩnh vực hoạt động còn rất mới ở Việt Nam.
Kiểm định tiến hành định kỳ trong phạm vi cả chu kỳ kinh doanh và đối với
từng loài cây cụ thể
Mục đích của kiểm định nhằm xác định mức độ đáp ứng mục tiêu cung
cấp gỗ lớn của dự án đề ra trong từng giai đoạn nhất định.
Để thực thi hiệu quả kiểm định thì cũng phải xây dựng các tiêu chuẩn,
mỗi tiêu chuẩn có một số tiêu chí, mỗi tiêu chí được đo bằng hai mức. Mức 1
là tăng trưởng loài Mỡ khi chặt chuyển hoá bằng với khi chưa chặt. Mức 2 là
tăng tưởng của loài Mỡ sau khi chặt chuyển hoá nhanh hơn khi chưa chặt
chuyển hoá. Tiêu chuẩn đặt ra phải đáp ứng mục tiêu cung cấp gỗ lớn đặt ra
của dự án.
1.1.3. Phân chia cấp tuổi
Có 3 cách để phân chia cấp tuổi như sau:
+ Phân chia cấp tuổi nhân tạo
+ Phân chia cấp tuổi tự nhiên
+ Phân chia cấp tuổi kinh doanh
Để tổ chức các biện pháp kinh doanh rừng người ta thường phân chia
rừng theo cấp tuổi nhân tạo, nghĩa là phân chia 3 năm, 5 năm hay 10 năm
5
một cấp, phụ thuộc vào chu kỳ kinh doanh và tốc độ sinh trưởng của cây.
Việc phân chia cấp tuổi có ý nghĩa lớn trong tính lượng khai thác và đề xuất
biện pháp kỹ thuật tác động vào nó.
Đối với loài Mỡ (Manglietia glauca Dandy) là loài cây mọc nhanh nên
kinh doanh gỗ lớn chu kỳ khoảng 20- 25 năm. Vì vậy số năm trong một cấp
tuổi là 3 năm là phù hợp chu kỳ kinh doanh và mục đích kinh doanh, bên cạnh
đó thì mỗi năm đường kính cây có thể tăng trưởng 1,4 - 1,5 cm vì thế sau 3
(4) Chặt chỉnh lý, chặt các loài cây thứ yếu, hình dáng và sinh trưởng
kém.
(5) Chặt gỗ thải, chặt các cây bị hại.
Năm 1950 Trung quốc đã ban hành quy trình chặt nuôi dưỡng chủ yếu
là dựa vào các giai đoạn tuổi của lâm phần, đưa ra nhiệm vụ và quy định thời
kỳ chặt và phương pháp chặt nuôi dưỡng. Thời kỳ phát triển khác nhau thì
cây rừng có những đặc điểm sinh trưởng khác nhau và do đó nhiệm vụ chặt
nuôi dưỡng cũng ở mức độ khác.
Phương pháp chặt nuôi dưỡng của Nhật Bản thường chia làm 2 loại:
Loại thứ nhất căn cứ vào ngoại hình cây rừng chia ra 5 cấp để tiến hành chặt
nuôi dưỡng nhưng do kỹ thuật của mỗi người khác nhau nên khó đạt được
một tiêu chuẩn nhật định. Loại thứ hai chia ra 3 cấp gỗ tốt, gỗ vừa và gỗ
xấu và yêu cầu phải có cùng đường kính trong không gian như nhau.
Phương pháp này đơn giản dễ thực hiện. Ngoài ra năm 1970 áp dụng
phương pháp cây ưu thế. Phương pháp này đơn giản dễ làm, chủ yếu dựa
vào giá trị sản xuất và lợi ích hiện tại. Ở Nhật Bản, người ta rất coi trọng
chặt nuôi dưỡng, từ năm 1981 đến nay chặt nuôi dưỡng trở thành chính
sách lớn nhất của Lâm nghiệp Nhật Bản
Tuy nhiên áp dụng chặt nuôi dưỡng cho chặt chuyển hoá cần phải
quan tâm đến điều kiện thực tế của lâm phần, nghĩa là chặt chuyển hoá là
7
chặt nuôi dưỡng nhưng cần phải bài chặt cả những cây có đủ không gian
dinh dưỡng nhưng không có khả năng sinh trưởng thành gỗ lớn đồng thời
chặt chọn ở những khoảng phân bố cụm.
Các nhà Lâm học Trung Quốc cho rằng: Trong khi rừng chưa thành
thục để tạo điều kiện cho cây gỗ còn lại sinh trưởng phát triển tốt, cần phải
chặt bớt một phần cây gỗ. Ngoài ra thông qua chặt bớt một phần cây gỗ mà
thu được một phần lợi nhuận nên còn được gọi là “Chặt lợi dụng trung gian”
(Chặt trung gian).
Như vậy, chặt nuôi dưỡng là biện pháp chính để nuôi dưỡng rừng bằng
hay độ cao tỉa cành tự nhiên.
+ Xác định cường độ chặt nuôi dưỡng:
Cường độ chặt nuôi dưỡng là chặt bao nhiêu cây, để lại bao nhiêu cây
cũng là vấn đề thông qua việc chặt nuôi dưỡng điều chỉnh độ dày của lâm
phần. Xác định được cường độ chặt nuôi dưỡng hợp lý trong kinh doanh rừng
có một ý nghĩa rất lớn.
* Thể hiện cường độ chặt nuôi dưỡng: Có 2 phương pháp.
- Tính theo tỷ lệ thể tích gỗ cây chặt chiếm trong thể tích gỗ toàn lâm
phần của mỗi lần chặt: P
v
= v\V*100% (v là thể tích của cây chặt, V là sản
lượng của lâm phần, P
v
là cường độ chặt).
- Dựa vào tỷ lệ số cây mỗi lần chặt chiếm trong tổng số cây toàn lâm
phần: P
n
= n\N*100% (Trong đó: n là số cây cần chặt, N là tổng số cây của
lâm phần, P
n
là cường độ chặt).
* Xác định cường độ chặt nuôi dưỡng: Có 2 phương pháp.
- Phương pháp định tính: Thường căn cứ vào phân cấp cây rừng, độ tàn
che hay độ đầy của lâm phần để xác định cường độ chặt nuôi dưỡng.
- Phương pháp định lượng: Căn cứ vào sinh trưởng của lâm phần và
mối quan hệ giữa các loài cây đứng trong các giai đoạn sinh trưởng khác
nhau. Căn cứ vào mật độ hợp lý mà xác định số lượng cây chặt hoặc bảo lưu.
9
Thường xác định theo quy luật tương quan giữa đường kính chiều cao và tán
cây.
con người.
Những nghiên cứu về cấu trúc rừng phát triển từ thấp đến cao, từ chỗ
nghiên cứu chủ yếu là mô tả định tính sang nghiên cứu định lượng. Chúng ta
có thể điểm qua một số công trình nghiên cứu trên thế giới như sau:
Catinot R và Plaudyi biểu diễn cấu trúc rừng bằng các phẫu đồ ngang
và đứng, Rollet 1971 đã đưa ra hàng loạt các phẫu đồ mô tả cấu trúc hình thái
rừng mưa trong đó nghiên cứu tương quan giữa chiều cao và đường kính
ngang ngực, tương quan đường kính tán và đường kính ngang ngực theo các
hàm hồi quy. Richards PW 1952 phân biệt tổ thành thực vật thành 2 loại rừng
mưa hỗn hợp và rừng đơn ưu.
Mục đích của chuyển hoá rừng là nâng cao sinh trưởng của lâm phần
và chất lượng gỗ, mà chỉ tiêu quan trọng nhất thể hiện được là D
1.3
nhưng để
nghiên cứu tổng quát nên chúng tôi thực hiện nghiên cứu biến đổi của các quy
luật cấu trúc sau:
- Phân bố số cây theo đường kính ( N – D
1.3
)
Là một trong những quy luật quan trọng nhất của quy luật kết cấu lâm
phần. Nó phản ánh mức độ thích nghi của các loài cây trong quá trình sinh
trưởng và phát triển của các loài cây với điều kiện lập địa. Ngoài ra phân bố
số cây theo đường kính còn sắp xếp tổ hợp các thành phần cấu thành nên quần
thể thực vật rừng theo không gian và thời gian.
Nếu phân bố số cây theo đường kính hợp lý thì cây rừng sẽ tận dụng
được tối đa các tiềm năng của điều kiện lập địa, tạo ra năng suất sinh khối cao
nhất.
Reineke (1933) đã phát hiện đường kính tương quan với mật độ mà
không liên quan tới điều kiện lập địa, theo phương trình:
LogN = -1,605 log D + k ( k là hằng số thích ứng của một cây nào đó).
2
H -1.3 =D
2
/(D+ b.D
2
)
H= a.D
b
H= a + blogD
….
-Tương quan D
1.3
– D
T
Một số nghiên cứu của các tác giả: Zieger(1928), Cromer O.A.N.
(1948), Miller(1953)… và phổ biến nhất là dạng đường thẳng.
1.2.3. Nhận xét
- Các nghiên cứu, ứng dụng mô hình chặt nuôi dưỡng trên thế giới đã
hoàn thiện.
- Chúng ta vận dụng các nghiên cứu đó vào chặt chuyển hoá rừng ở
Việt Nam và kiểm định lại mô hình đó.
1.3. Các nghiên cứu chuyển hoá rừng ở Việt Nam
1.3.1. Chuyển hoá rừng
Chuyển hoá rừng là một khái niệm còn tương đối mới mẻ. Thực chất
chuyển hoá rừng chính là chặt nuôi dưỡng và quá trình tỉa thưa đã được các
nước trên thế giới nghiên cứu trong một thời gian khá dài.
12
Lịch sử phát triển chặt nuôi dưỡng ở Việt Nam còn tương đối non trẻ
phần lớn mới chỉ tập trung nghiên cứu để ứng dụng cho chặt nuôi dưỡng ở
rừng trồng đều tuổi. Mặc dù còn có một số hạn chế nhất định về các phương
niên, các tác giả: Trịnh Đức Huy (1987, 1988), Vũ Nhâm (1988), Vũ Tiến Hinh
(1990), Phạm Ngọc Giao (1989, 1996) đều nhất trí đường biểu diễn quy luật
phân bố N/D có dạng lệch trái và có thể dùng hàm toán học khác nhau như:
Hàm Weibull, hàm Scharlier
+ Nghiên cứu quy luật tương quan giữa chiều cao với đường kính cây
rừng
Vũ Đình Phương (1985) thiết lập biểu cấp chiều cao lâm phần Bồ đề tự
nhiên từ phương trình Parabol bậc hai mà không cần phân biệt cấp đất và tuổi.
Vũ Nhâm (1988) đã xây dựng được mô hình đường cong chiều cao lâm
phần cho Thông đuôi ngựa khu vực Đông Bắc.
Ngoài ra còn rất nhiều tác giả khác trong quá trình nghiên cứu cấu trúc,
sinh trưởng, sản lượng rừng đã đề cập tới quy luật tương quan H/D.
+ Nghiên cứu tương quan giữa đường kính tán và đường kính ngang
ngực.
Vũ Đình Phương (1985) đã khẳng định mối liên hệ mật thiết giữa đường
kính tán và đường kính ngang ngực theo dạng phương trình đường thẳng.
Phạm Ngọc Giao (1996) đã xây dựng mô hình động thái tương quan
giữa D
T
/D
1.3
với rừng Thông đuôi ngựa khu Đông Bắc.
1.3.3. Nhận xét
Chuyển hoá rừng là một khái niệm còn tương đối mới mẻ. Thực chất
chuyển hoá rừng chính là chặt nuôi dưỡng và quá trình tỉa thưa đã được các
nước trên thế giới nghiên cứu trong một thời gian khá dài. Tuy nhiên, do đặc
tính sinh vật học mỗi loài cây rừng khác nhau, cấu trúc rừng khác nhau, mật
độ rừng khác nhau và mục đích kinh doanh khác nhau mà cần có các biện
pháp kỹ thuật chuyển hoá khác nhau. Ở Việt Nam, chuyển hoá rừng đã từng
bước được tiến hành ở một số đối tượng như; chuyển hoá rừng giống, chuyển
2.1.1. Mục tiêu tổng quát
Đánh giá được khả năng trở thành gỗ lớn của các mô hình chuyển hoá
rừng trồng Mỡ cấp tuổi III và IV(5-<7 và 7-<9 tuổi), tại Công ty Lâm nghiệp
Yên Sơn tỉnh Tuyên Quang
2.1.2. Mục tiêu cụ thể
Để đạt được mục tiêu tổng quát cần thực hiện các mục tiêu cụ thể sau:
-Xác định được quy luật cấu trúc cơ bản của rừng trồng Mỡ cấp tuổi III
và IV(5-<7 và 7-<9 tuổi) trên các mô hình chặt chuyển hóa (Bao gồm cả
trước khi chặt 2 năm và sau khi chặt 2 năm) và trên ô đối chứng.
- Xác định được mức độ biến đổi cấu trúc rừng giữa các mô hình sau
khi chặt chuyển hóa 2 năm so với cấu trúc rừng của các mô hình trước khi
chặt chuyển hoá 2 năm và cấu trúc rừng trên các ô đối chứng.
2.2. Đối tượng, phạm vi và giới hạn nghiên cứu của đề tài
2.2.1. Đối tượng
Là rừng trồng Mỡ cấp tuổi III và IV (5-<7 và 7-<9 tuổi) trên cấp đất I,
II, III, mật độ >1000 cây/ha. Chúng tôi một nhóm sinh viên thực hiện đề tài
dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Vũ Nhâm đã tiến hành nghiên cứu trên cả
năm cấp tuổi, trong đó tôi thực hiện cấp tuổi III và IV(5-<7 và 7-<9 tuổi) trên
cấp đất I, II , III là những cấp đất tốt.
16
2.2.2. Phạm vi
Nghiên cứu rừng trồng Mỡ cấp tuổi III và IV(5-<7 và 7-<9 tuổi), tại
Công ty Lâm nghiệp Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang
2.2.3. Giới hạn
Khoá luận chỉ tập trung nghiên cứu các vấn đề sau:
- Nghiên cứu quy luật cấu trúc cho các mô hình sau khi chặt chuyển
hoá 2 năm và trên các ô đối chứng.
- Kế thừa kết quả nghiên cứu cấu trúc rừng của các mô hình trước khi
chặt chuyển hoá 2 năm đã được nghiên cứu.
- Nghiên cứu quy luật cấu trúc cơ bản:
+ Tuơng quan giữa đường kính tán và đường kính ngang ngực(D
T
-
D
1.3
)
2.3.4. So sánh biến đổi cấu trúc rừng
+ Quy luật phân bố số cây theo cỡ đường kính (N - D
1.3
).
17
+ Tuơng quan giữa chiều cao vút ngọn và đường kính ngang ngực(H
vn
– D
1.3
)
+ Tuơng quan giữa đường kính tán và đường kính ngang ngực(D
T
-
D
1.3
)
2.4. Phương pháp nghiên cứu
Tuỳ theo nội dung nghiên cứu mà lựa chọn phương pháp nghiên cứu
cho phù hợp hoặc kết hợp các phương pháp với nhau để thu được kết quả
khách quan nhất.
2.4.1. Phương pháp chủ đạo
Các lâm phần Mỡ được trồng với mật độ, thời điểm và cấp đất khác nhau,
do đó mỗi lâm phần có đặc điểm khác nhau là một đối tượng nghiên cứu.
Mục đích chủ yếu là kiểm định mô hình chuyển hoá rừng trồng Mỡ
Trên điện tích 5000 m
2
chia làm 5 ÔTC tạm thời, mỗi ô có diện tích là
1000 m
2
(20×50 m)
Trên mỗi ô tiêu chuẩn tiến hành đo đếm các chỉ tiêu sinh trưởng : D
1.3
,
D
T
, H
vn
, H
DC.
* Đường kính ngang ngực (D
1.3
) : Dùng thước kẹp kính với độ chính
xác tới (cm)
* Chiều cao vút ngọn (Hvn) : Dùng thước đo cao Blume – Leiss, độ
chính xác tới (dm)
* Chiều cao dưới cành (Hdc) : Dùng thước đo cao Blume – Leiss, độ
chính xác tới (dm)
* Đường kính tán (D
T
) : Dùng thước dây đo hai chiều Đông –Tây ,Nam
- Bắc, độ chính xác tới (dm)
Vẽ phẫu đồ ngang trên các mô hình đối chứng
b) Trên các ÔTC đối chứng 500 m
2
+ Giá trị trung bình (
X
) của đại lượng sinh trưởng
∑
=
=
m
i
i
fiX
n
X
1
1
(
X
: Trung bình mẫu, n: Dung lượng quan sát,
i
X
: Trị số quan sát, m:
Số tổ, fi : Tần số xuất hiện của trị số quan sát)
+ Phương sai (
2
x
S
)
1
2
2
x
S
: Phương sai,
X
: Trung bình mẫu, n: Dung lượng quan sát,
i
X
: Trị số
quan sát, m: Số tổ, fi : Tần số xuất hiện của trị số quan sát)
+ Sai tiêu chuẩn (S
x
)
S
x
=
2
x
S
(S
x
: Sai tiêu chuẩn,
2
x
S
: Phương sai)
+ Hệ số biến động (Sx%)
S
x
% =
Q
r
.
=
( 0
≤
r
≤
1 )
(r: Hệ số tương quan, Q
xy
: Sai tiêu chuẩn của giá trị xy, Q
x
: Sai tiêu
chuẩn của giá trị x, Q
y
: Sai tiêu chuẩn của giá trị y)
* Các quy luật cấu trúc:
- Phân bố N – D: Mô phỏng phân bố thực nghiệm bằng hàm Weibull
dạng phương trình: f(x) =
α
λα
λα
x
ex
.1
−−
với
λα
2
∑ ∑
−
=
flt
fttflt
χ
.
(f
lt
: tần số lý thuyết, f
tt
: tần số thực nghiệm)
- Tương quan H
vn
– D
1.3
: Xây dựng tương quan trên cơ sở phương trình:
H = a + b.logD
1.3
(a, b là tham số)
Từ số liệu thực tế, tính toán bằng phần mềm xử lý thống kê SPSS 15.0
ĐỂ LẠI TỚI NAY
(NĂM 2009)
Phần III
ĐIỀU KIỆN CƠ BẢN KHU VỰC NGHIÊN CỨU
3.1. Điều kiện tự nhiên
3.1.1. Vị trí địa lý
Công ty Lâm nghiệp Yên Sơn là một Công ty ở vùng cao, nằm ở phía
Đông Nam của tỉnh Tuyên Quang và cách thị xã Tuyên Quang khoảng 40km
về phía Đông Bắc. Công ty nằm trong phạm vi địa lý:
21
o
45’ đến 21
o
55’30’’ độ Vĩ Bắc
105
o
15’ đến 105
o
30’độ Kinh Đông
Công ty Lâm nghiệp Yên Sơn có ranh giới cụ thể là:
- Phía Đông giáp huyện Định Hoá - tỉnh Thái Nguyên.
- Phía Nam giáp huyện Sơn Dương.
- Phía Tây giáp sông Lô.
- Phía Bắc giáp xã Tân Tiến, xã Kiến Thiết - huyện Yên Sơn.
Diện tích đất quản lý của Công ty thuộc các xã: Phú Thịnh, Công Đa,
Thái Bình, Tiến Bộ, Đạo Viện, Trung Sơn và một phần nằm trên các xã: Kiến
Thiết, Trung Sơn, Hùng Lợi, Trung Minh, Kim Quan.
3.1.2. Địa hình, địa thế
Địa hình của Công ty Lâm nghiệp Yên Sơn chủ yếu là đồi núi cao bị
nhiều suối, khe chia cắt phức tạp. Độ cao trung bình là 350 m, trong đó có
o
C.
* Thuỷ văn:
- Trong khu vực Công ty có 2 hệ thống sông là: Sông Lô và sông Phó
Đáy, cùng với hệ thống suối lớn nhỏ. Hệ thống sông suối này vào mùa mưa
dễ tạo ra các đợt lũ gây thiệt hại đến con người và kinh tế trong vùng. Tuy
nhiên trong một số tháng hạn trong năm thì hệ thống sông suối bị can nước,
24
không đủ lượng nước tưới tiêu cho mùa vụ gây ra tình trạng khó khăn trong
sản xuất kinh doanh nông nghiệp.
3.1.5. Các nguồn tài nguyên
* Tài nguyên thực vật rừng
Trong diện tích đất do Công ty Lâm nghiệp Yên Sơn quản lý có hầu hết
là rừng tự nhiên và rừng trồng sản xuất kinh doanh. Tài nguyên thực vật rừng
là khá đa dạng và phong phú, trong đó tầng tán chính trong rừng tự nhiên còn
nhiều cây gỗ lớn như Nghiến, Táu, …, các loài thuộc họ tre, nứa; còn với
rừng trồng thì tầng tán chính chủ yếu là Mỡ, Bồ Đề đã được khai thác trong
nhiều năm, hiện nay chủ yếu là trồng nhiều Keo. Dưới tán rừng là tầng cây
bụi thảm tươi gồm nhiều loài cây thuộc họ: Cà phê, Trúc đào, họ Sim Mua…
Ngoài ra, tham gia vào tầng tán rừng còn có các quần phiến dây leo, cây phụ
sinh, cây kí sinh.
* Tài nguyên động vật rừng.
Trong địa bàn Công ty, tài nguyên động vật rừng khá phong phú với
nhiều loài chim thú phổ biến. Tuy nhiên ở đây vẫn chưa phát hiện ra loài động
vật quý hiếm nào có ghi trong Sách đỏ Quốc gia và Quốc tế.
3.1.6. Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên khu vực nghiên cứu
- Thuận lợi: Qua các thông tin về điều kiện tự nhiên trong địa bàn Công
ty Lâm nghiệp Yên Sơn có thể thấy là điều kiện ở đây khá thuận lợi cho việc
sản xuất kinh doanh rừng. Cây rừng có khả năng sinh trưởng và phát triển khá
tốt trên tài nguyên đất tốt, lượng mưa dồi dào, độ ẩm cao.