Nghiên Cứu Ảnh Hưởng Của Phân Bón Đến Sinh Trưởng Và Năng Suất Quả Trám Trắng (Canarium Album) Trồng Sau Ghép Tịa Huyện Đồng Hỷ, Tỉnh Thái Nguyên - Pdf 36

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÁI NGUYÊN
-------------------

BÁO CÁO TỔNG KẾT
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP BỘ

NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA PHÂN BÓN ĐẾN SINH TRƯỞNG VÀ
NĂNG SUẤT QUẢ TRÁM TRẮNG (CANARIUM ALBUM) TRỒNG SAU
GHÉP TỊA HUYỆN ĐỒNG HỶ, PHÚ LƯƠNG TỈNH THÁI NGUYÊN
MÃ SỐ: B2010 – TN02 – 16

Chủ nhiệm đề tài:

ThS. Lương Thị Anh

Người tham gia:

Đào Hồng Thuận
Lê Sỹ Hồng
Phạm Thị Thu Hà

THÁI NGUYÊN - 2012


1

PHẦN I
MỞ ĐẦU
1.1.



2

định tăng năng suất rừng trồng. Thực tế cho thấy là bón phân cho rừng trồng đã mang
lại những hiệu quả rõ rệt làm nâng cao tỷ lệ cây sống, tăng sức đề kháng của cây đối
với các điều kiện bất lợi của môi trường, tăng sinh trưởng và nâng cao sản lượng chất
lượng sản phẩm rừng trồng. Các nước phát triển có nền lâm nghiệp phát triển cao thì
đều áp dụng bón phân cho rừng trồng và đạt được chỉ số sử dụng phân bón cao. Để
tăng cường hiệu lực của phân bón, điều quan trọng là phải bón đúng phân, đúng đất,
đúng cây trồng, đúng thời vụ, thời điểm sinh trưởng và đúng liều lượng cùng với kỹ
thuật thao tác hợp lý [1].
Nói cách khác Quy trình kỹ thuật phân bón yêu cầu phải hợp lý cân đối và
hiệu quả trên cơ sở: (i) Nhu cầu dinh dưỡng của từng loại cây trồng và trong từng thời
kỳ sinh trưởng riêng biệt; (ii) Khả năng cung cấp các chất dinh dưỡng của đất trên các
loại hiện trường cụ thể và (iii) Sự biến đổi của phân bón trong đất và hệ số sử dụng
phân bón.
Ở Việt Nam trong nhiều năm gần đây đã có nhiều những nỗ lực nghiên cứu về
nhu cầu dinh dưỡng và phân bón cho cây trồng rừng nhằm tạo cơ sở để đề xuất, áp
dụng một quy trình kỹ thuật phân bón hiệu quả hợp lý cho thâm canh trồng rừng sản
xuất. Trên cơ sở các kết quả nghiên cứu về nhu cầu dinh dưỡng cây trồng rừng, về kỹ
thuật áp dụng phân bón cho rừng trồng, kinh nghiệm sản xuất và tập quán sử dụng
phân bón tại các địa phương, nhiều hướng dẫn kỹ thuật liên quan tới bón phân cho
rừng trồng đã được xây dựng đề xuất ở nhiều quy mô phạm vi áp dụng khác nhau. Các
hướng dẫn kỹ thuật này đã tạo cơ sở pháp lý và kỹ thuật cho việc áp dụng phân bón
cho trồng rừng về chủng loại, liều lượng phân bón và phương pháp bón phân và đã
mang lại những hiệu quả nhất định góp phần làm nâng cao chất lượng rừng trồng. Tuy
nhiên, các hướng dẫn kỹ thuật này chưa có cho loài cây Trám Trắng trồng chuyên lấy
quả trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên. Vì vậy tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu ảnh
hưởng của phân bón đến sinh trưởng và năng suất quả Trám Trắng (Canarium

Bón phân quá nhiều hoặc với liều lượng cao đều gây tác hại cho cây, thậm chí
làm cho cây chết. Nguyên tố đồng (Cu) là phân vi lượng đối với cây, nhưng phun với
nồng độ cao (trên 1%) làm cho lá cây bị cháy. Trong việc bón phân cho cây, điều quan
trọng là không những không để cây bị thiếu đói, mà phải không bón thừa bất cứ chất
dinh dưỡng nào cho cây.
Cần lưu ý là sức chịu đựng cũng như mức độ tiếp thu các tác động từ bên ngoài
của các bộ phận trên cây rất khác nhau. Đối với một loại phân bón, có thể đối với bộ phận
này là thừa nhưng đối với bộ phận khác lại là chưa đủ. Chính vì thế mà có những loại hoá
chất chỉ có thể bón cho cây vào đất mà không thể phun lên lá được.


4

Điều đáng chú ý là cho đến nay, trồng trọt, do tâm lý sợ thiếu cho nên người nông
dân đã làm nhiều việc quá thừa, trong khi đó nhiều việc cần làm lại không biết làm.
Nếu có những hiểu biết đầy đủ hơn về cây trồng, hiểu được những nhu cầu của
cây và con đường mà thiên nhiên thường đáp ứng nhu cầu cho nó, hiểu được các mối
quan hệ giữa các loài sinh vật trong hệ sinh thái, con người có thể tiết kiệm được bao
nhiêu việc làm thừa đồng thời chỉ cần tiến hành những việc làm thật hợp lý để đạt
được những khối lượng nông sản lớn.
Ba là: Thiên nhiên còn nhiều điều mà con người chưa biết hết, vì vậy không
được chủ quan khi sử dụng phân bón.
Khoa học ngày càng phát triển nhanh, thành tựu khoa học ngày càng nhiều
nhưng con đường khám phá thiên nhiên đang còn dài và còn nhiều quanh co khúc
khuỷu. Thái độ chủ quan, cho rằng chúng ta đã có những hiểu biết quá đủ là không
phù hợp, là có thể dẫn đến những sai lầm.
Điều đáng lo ngại là con người coi thường những gì chưa biết trong thiên nhiên
và cho rằng những gì khoa học đã biết đủ cho con người hoạt động theo ý muốn của
mình. Nhiều thất bại trong sản xuất có nguồn gốc từ sự ngộ nhận này.
Để có thể bón phân hợp lý, cần thường xuyên quan sát và đúc rút kinh nghiệm

loại đối tượng tổng hợp mà càng chia nhỏ ra càng chuyên biệt hoá, càng đi xa khỏi
bản chất của đối tượng nghiên cứu.
Sáu là: Trong các hệ sinh thái, mỗi tác động từ bên ngoài đưa vào hệ sinh thái,
thường tạo ra những phản ứng dây chuyền, lan rộng ra trong không gian theo các
mạng lưới dinh dưỡng, năng lượng, thông tin, v.v... và kéo dài theo thời gian, cho đến
khi toàn bộ hệ sinh thái thiết lập được trạng thái cân bằng mới.
Mỗi hiện tượng xảy ra trong hệ sinh thái đều là kết quả của nhiều nguyên nhân,
mặt khác một nguyên nhân có thể dẫn tới những kết quả khác nhau.
Từ một hiện tượng là năng suất cây trồng có thể có một chuỗi các nguyên nhân
và kết quả với 7 bậc nhân - quả khác nhau. Trong thực tế, một hiện tượng xảy ra có
thể có nhiều nguyên nhân. Những nguyên nhân này lại có những nguyên nhân khác đi
trước trong một mạng lưới các sự kiện và yếu tố đan chéo nhau toả ra đến vô tận.
Bón phân cũng như những biện pháp kỹ thuật canh tác khác nhau, thường
không chỉ gây ra một tác động trực tiếp dẫn đến một kết quả nào đó mà thường có
nhiều tác động lên các thành tố trong hệ sinh thái và có thể dẫn đến những kết quả
khác nhau, trong đó có thể có những kết quả mà con người không ngờ tới.
Do đặc điểm của quá trình phản ứng dây chuyền và quá trình tiếp nhận các tác
động từ bên ngoài vào các hệ sinh thái mà có thể có những tác động rất mạnh nhưng


6

không gây ra hiệu quả gì đáng kể, trong khi đó, có những tác động nhẹ nhàng, nhưng
được nhân lên trong phản ứng dây chuyền và tạo nên những hiệu quả rất lớn.
Bón phân hợp lý có thể không cần sử dụng những lượng phân bón mà có thể
đạt được hiệu quả rất cao.
Bảy là: Đối với thiên nhiên không có cái gì là tốt, cũng không có cái gì là
xấu.Con người phân biệt ra trong thiên nhiên có cái tốt, cái xấu. Tốt xấu ở đây được
đánh giá trên cơ sở lợi ích của con người. Từ việc phân chia các sự vật và hiện tượng
thành 2 nhóm tốt và xấu, con người thường cố công để loại trừ, tiêu diệt những cái xấu

hài hoà trong toàn bộ hệ sinh thái đồng ruộng đồng thời thúc đẩy các hoạt động của
toàn bộ hệ sinh thái hướng tới việc tạo ra năng suất cao.
Chín là: Nền nông nghiệp tiến bộ phải là nền nông nghiệp nuôi dưỡng được
con người cả thể xác lẫn tinh thần.
Bón phân là để làm tăng năng suất cây trồng. Năng suất đó phải đáp ứng được
nhu cầu của con người. Vì vậy, nếu phân bón còn để lại dư lượng trong nông sản, nếu
trong nông sản có nhiều NO3, nhiều kim loại nặng thì nông sản không đáp ứng được
nhu cầu của con người.
Phân bón có ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng nông sản. Đối với các sản phẩm
cây công nghiệp, cây dược liệu, cây hương liệu, cây tinh dầu v.v... bón phân không
hợp lý có thể làm giảm phẩm chất nông sản rất đáng kể [2].
Phân bón có ảnh hưởng rất lớn đến khả năng cất giữ, bảo quản và chuyên chở
nông sản. Sản phẩm rau quả chứa nhiều đạm, nhiều nước rất chóng bị hỏng.
Ngoài việc đáp ứng nhu cầu của con người về vật chất, nông nghiệp còn đáp
ứng nhu cầu của con người được lao động, được tiếp xúc với thiên nhiên, được khám
phá những điều bí ẩn của tự nhiên.
Bón phân không hợp lý thường để lại trong môi trường đất, nước, không khí
những dư lượng phân bón có ảnh hưởng không tốt đến sức khoẻ, đến tâm trạng con
người [6].
Càng ngày việc thoả mãn nhu cầu đời sống tinh thần của con người càng tăng
lên. Vai trò của nông nghiệp trong việc đảm bảo ổn định cuộc sống, ổn định xã hội
cũng ngày một được nâng cao.
Bón phân hợp lý không những phát huy đến mức cao hiệu quả của phân bón
mà còn đảm bảo cho môi trường trong lành và thúc đẩy nông nghiệp phát triển theo
hướng tiến bộ.
Mười là: Cần có cách nhìn toàn diện, đừng để bị hoàn cảnh lung lạc.
Trong hoạt động sản xuất nông nghiệp, khi tiếp xúc với bất kỳ loại cây trồng
nào cũng không thể tách rời chúng ra khỏi điều kiện sống của nó mà phải có cách nhìn



Các số liệu khảo sát cho thấy, bình quân các nước châu Á sử dụng phân khoáng
nhiều hơn bình quân thế giới. Tuy nhiên, Ấn Độ (nước có khí hậu nóng) lại dùng phân
khoáng ít hơn bình quân toàn châu Á. Trong lúc đó Trung Quốc và Nhật lại sử dụng


9

phân khoáng nhiều hơn bình quân toàn châu Á. Hà Lan là nước sử dụng phân khoáng
nhiều nhất. Tuy nhiên lượng phân chủ yếu bón nhiều cho đồng cỏ, rau và hoa để thu
sản lượng chất xanh cao.
- Thái Lan: bình quân 95,83 (triệu tấn/năm)
- Philippin: bình quân 65,62 (triệu tấn/năm)
- Indonesia: bình quân 63,0 (triệu tấn/năm)
- Myanma: bình quân 14,93 (triệu tấn/năm)
- Lào: bình quân 4,50 (triệu tấn/năm)
- Campuchia: bình quân 1,49 (triệu tấn/năm)
Theo số liệu ghi nhận được ở trên cho thấy Campuchia, Lào và Myanma sử dụng
phân khoáng ít nhất, đặc biệt là Campuchia [5].
2.2.2. Tình hình nghiên cứu trong nước
Sự hiểu biết hiện đại về dinh dưỡng của cây trồng bắt đầu từ thế kỷ 19 và việc
quản lý độ phì nhiêu của đất đai đã là một vấn đề được các nông dân quan tâm từ hàng
nghìn năm nay. Việt Nam được coi là nước sử dụng nhiều phân khoáng trong số các
nước ở Đông Nam Á, số liệu tham khảo năm 1999 bình quân 241,82 kg NPK/ha.
Tính nhu cầu phân bón cho cây trồng là dựa trên cơ sở đặc điểm của đất đai,
đặc điểm của cây trồng để tính số lượng phân cần cung cấp làm cho cây trồng có thể
đạt được năng suất tối ưu (năng suất cao nhưng hiệu quả kinh tế cũng cao). Cho đến
năm 2010, ước tính tổng diện tích gieo trồng ở nước ta vào khoảng 12.285.500 ha,
trong đó cây có thời gian sinh trưởng hàng năm là 9.855.500 ha và cây lâu năm
khoảng 2.431.000 ha [5].
Để thoả mãn nhu cầu phân bón cho các loại cây trồng trên các diện tích này, ta

tăng dân số tự nhiên bình quân từ năm 2008 - 2010 là 1,36%. Xã Văn Lăng là một xã
vùng xa mật độ dân số thấp, trình độ dân trí thấp, tập quán canh tác lạc hậu, đời sống
kinh tế gặp nhiều khó khăn, số hộ đói nghèo (7,7%).
- Lao động: Lao động ở xã tập trung ở ngành nông nghiệp. Hầu hết số lao động
là lao động phổ thông, chưa qua đào tạo, chất lượng lao động thấp. Để sử dụng hết lực
lượng lao động này cần phải mở rộng đào tạo nghề, phát triển nghề phụ thu hút lao
động nông nghiệp lúc nông nhàn. Đồng thời phải tiến hành thâm canh tăng vụ, mở
rộng diện tích gieo trồng tân dụng triệt để nguồn lao động
- Dân tộc: Văn Lăng có 8 dân tộc anh em chung sống. Dân tộc kinh chiếm
khoảng 30,87%, dân tộc Nùng chiếm 16,83%, dân tộc Sán Dìu chiếm 0,43%, dân tộc
Dao chiếm 18,16%, dân tộc Hơ Mông chiếm 29,1%, dân tộc Sán Chí chiếm 0,41%,
dân tộc Mường chiếm 0,06%, dân tộc Tày chiếm 4,14% (nguồn từ dân số và kế hoạch
hóa xã Văn Lăng). Các dân tộc ít người trình độ dân trí thấp, tập quán canh tác lạc
hậu, giao thông đi lại khó khăn, hạ tầng cơ sở thấp kém là những hạn chế chủ yếu
khiến đời sống kinh tế - xã hội ở xã này chậm phát triển.
Dưới sự chỉ đạo của cấp ủy đảng, chính quyền xã. Phong trào kế hoạch hóa gia
đình được tuyên truyền sâu rộng và triển khai thực hiện tích cực. Mặc dù mức sinh đã
giảm đáng kể song chưa ổn định, tỉ lệ tăng dân số tự nhiên còn cao (1.36% năm 2010).


12

Sự gia tăng dân số kéo theo nhiều sức ép về việc làm, đời sống, y tế, giáo dục, trật tự
xã hội.
* Văn hóa xã hội
Quy mô trường học đang trên đà phát triển, chất lượng trường lớp được nâng
cao. Cụ thể: Đến nay 100% số phòng học ở xã được ngói hóa. Trong các năm học
thường xuyên tổ chức các đợt hội giảng, thi giáo viên dạy giỏi, tăng cường công tác
thanh kiểm tra, đổi mới nội dung,… Tuy nhiên chất lượng dạy và học, chất lượng phổ
cập giáo dục tiểu học chưa đạt được so với yêu cầu mục tiêu đạo tạo. Trang thiết bị cơ

Phú Đô có địa hình không đồng nhất, có nhiều núi cao xen lẫn đồi thấp và
thung lũng hẹp.
* Đất đai
Diện tích đất đai của Phú Đô là: 22224ha, đất rừng và đồi núi chiếm khoảng 75%
diện tích.
Đất thuộc loại đất Feralit màu đỏ vàng hoặc vàng nhạt, phát triển trên sa thạch,
nghèo dinh dưỡng.
* Dân số và lao động
- Dân số: Theo thống kê năm 2010, xã có tổng số dân là 12.102 người, là một xã
có mật độ dân số thưa. Tỉ lệ tăng dân số tự nhiên bình quân từ năm 2008 - 2010 là
1,16%. Trình độ dân trí thấp, tập quán canh tác còn lạc hậu, đời sống kinh tế gặp
nhiều khó khăn, số hộ đói nghèo (9,5%).
- Lao động: Lao động ở xã tập trung ở ngành nông nghiệp. Hầu hết số lao động
là lao động phổ thông, chưa qua đào tạo, chất lượng lao động thấp.
- Dân tộc: xã Phú Đô có 6 dân tộc anh em chung sống, gồm dân tộc kinh, dân
tộc Nùng, dân tộc Tày, dân tộc Dao, dân tộc Sán Dìu .
Các dân tộc ít người trình độ dân trí thấp, tập quán canh tác lạc hậu, giao thông
đi lại khó khăn, hạ tầng cơ sở thấp kém là những hạn chế chủ yếu khiến đời sống kinh
tế, xã hội ở xã chậm phát triển.
Dưới sự chỉ đạo của cấp ủy đảng, chính quyền xã. Phong trào kế hoạch hóa gia
đình được tuyên truyền sâu rộng và triển khai thực hiện tích cực. Mặc dù mức sinh đã
giảm đáng kể song chưa ổn định, tỉ lệ tăng dân số tự nhiên còn cao. Sự gia tăng dân số
kéo theo nhiều sức ép về việc làm, đời sống, y tế, giáo dục, trật tự xã hội.
* Văn hóa xã hội
Quy mô trường học đang trên đà phát triển, chất lượng trường lớp được nâng
cao, 100% số phòng học ở xã được xây. Trong các năm học thường xuyên tổ chức các
đợt hội giảng, thi giáo viên dạy giỏi, tăng cường công tác thanh kiểm tra, đổi mới nội
dung,… Tuy nhiên chất lượng dạy và học, chất lượng phổ cập giáo dục tiểu học chưa



gây ra các hiện tượng hạn, úng gây ảnh hưởng xấu đến sản xuất nông nghiệp, đời sống
và sinh hoạt của nhân dân trong xã, đặc biệt là đối với người nông dân vì sản xuất của
họ phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện thời tiết khí hậu.


15

Mỗi năm có khoảng 166 ngày mưa, lượng nước bốc hơi trung bình hàng năm là
710 mm. Số giờ nắng trung bình cả măm là 1.274 giờ (bảng 2.1).
Bảng 2.1: Đặc điểm cơ bản của khí hậu khu vực nghiên cứu năm 2010

Các yếu tố
Tháng
1

Nhiệt độ không
khí TB (0C)
17,7

Độ ẩm TB
(%)
78

Lượng mưa
TB(mm)
2,3

Số giờ nắng
TB (giờ)
45


5

26,5

81

391,3

154

6

29,0

82

233,5

160

7

29,1

85

262,7

168


11

23,7

79

87,3

122

12

17,3

78

6,3

89

1695.9

1.274

Cả năm
Trung bình

24,0


già thường bong vảy nhỏ. Vết vỏ đẽo thường có nhựa thơm hơi đục
- Rễ: Điểm nổi bật nhất của cây Trám mọc tự nhiên từ hạt là rễ cọc đơn trục,
thẳng đứng, phát triển rất sâu. Điều tra tại Phúc Kiến - Trung Quốc cho thấy cây mẹ từ
hạt với đường kính 40cm, trên đất đồi rễ cọc có thể ăn sâu tới 4 - 5m.
Rễ chính của Trám lớn, phát triển mạnh, ít rễ con. Rễ ăn sâu nhưng phân bố
sâu, nông tuỳ điều kiện cụ thể. Nơi có mực nước ngầm cao, đất xấu, rễ ăn nông và ăn
ngang, khoảng 2 - 3 lần tán cây. Ở đất có tầng dày, rễ có thể ăn sâu tới 3m, thậm chí
tới 5m nhưng chủ yếu ở tầng 20 - 120cm.
- Thân, cành: Là cây gỗ lớn có thể cao 25 - 30m, tán rộng 10 - 18m, thân
tròn thẳng, nhựa có màu trắng đục, thơm, vỏ màu xám trắng.
Khi cây Trám phát triển mạnh thì hàng năm có 4 - 5 lần ra lộc, cây đã ra quả
thì một năm ra lộc 2 -3 lần: lộc xuân phát triển vào lập xuân, lộc hạ ra vào tháng 6 - 7
và lộc thu ra vào tháng 8 - 9.
- Lá: Ở giai đoạn cây mạ là lá đơn xẻ thuỳ, sau đó là lá đơn nguyên, mép có
răng cưa. Khi định hình là lá kép lông chim một lần lẻ, có 7 - 13 lá chét, lá chét có


17

hình trái xoan hoặc ô van dài từ 6 -15 cm, rộng 3 - 7 cm, mặt trên màu xanh đậm. Gân
bên 12 - 16 đôi. Có lá kèm nhỏ sớm rụng.
- Hoa, quả: Hoa tự xim viên chuỳ ở nách lá gần đầu cành. Trám Trắng có hoa
lưỡng tính và hoa đực, đài dài 2,5 -3 mm. Hoa có màu trắng hoặc trắng vàng, cứ 3 đoá
hoa mọc thành chùm trên trục hoa, tràng hoa rời, bầu thượng.
Có 4 kiểu hoa: hoa đực, hoa cái, hoa lưỡng tính và hoa dị hình. Cây hoa tự đực
hoàn toàn không có quả, ngôn ngữ dân gian thường gọi là “cây đực”, cây toàn hoa cái
cho sản lượng tăng dần theo tuổi, vừa có hoa đực vừa có hoa cái cho sản lượng giảm
dần theo tuổi. Cây có hoa toàn đực, toàn lưỡng tính và toàn dị hình cho sản lượng quả
rất thấp và ít thay đổi theo tuổi.
Quả hạch hình trái xoan hai đầu nhọn, hạch thường chia thành các múi, thường

gần như nhựa thông nhưng khả năng cung cấp của nhựa Trám cao hơn nhiều. Một cây
Trám đường kính trên 20 cm có thể cho 10 - 15 kg nhựa một năm.
Sản phẩm có giá trị nhất và được sử dụng chủ yếu là quả Trám. Theo tài liệu của
Viện Y học Trung Quốc (1989), thành phần dinh dưỡng của quả Trám rất tốt, trong
100g ăn được của quả Trám có 1,2g protit; 1g chất béo; 12g chất đường bột: 60 mg
P2O5; 1,4 mg Mg; 204 mg Ca; 21 mg vitamin,... Quả Trám dùng để ăn tươi (có lợi cho
tiêu hoá, giải khát, chữa viêm họng,..) ngoài ra còn để làm các loại chế phẩm: đóng
hộp, muối,…
Quả Trám trắng có thể làm thực phẩm và sản xuất ô mai, làm thuốc chữa ho,
giải độc. Quả Trám có thể giải khát, giải độc đối với rượu. Ngoài ra còn dùng Trám để
chữa các bệnh sau: Đau răng, sâu răng, miệng khô, khát nước, dị ứng sơn [15].
Hạt Trám có thể được sử dụng làm than hoạt tính, nhân hạt Trám có hàm lượng
tinh dầu 20 - 25 %, có thể làm dầu công nghiệp.
Là cây bóng mát, vườn rừng, nông lâm kết hợp, làm giàu rừng và phục hồi
rừng tự nhiên. Nếu Trám trồng làm giàu rừng trong các loại hình rừng phục hồi hoặc
trong các vườn rừng với số lượng 50 cây/ha sau 8 - 10 năm có thể cho thu hoạch 20 25 kg quả/cây/năm và 10 - 15 kg nhựa/cây/năm. Với thời giá hiện nay có thể cho tổng
thu nhập là 5 - 6,75 triệu đồng/ha/năm.
* Kỹ thuật gây trồng
+ Yêu cầu ngoại cảnh
- Nhiệt độ: là nhân tố ảnh hưởng đến sự phân chia tế bào và các quá trình sinh
hóa trong cây, do đó là nhân tố quan trọng cho nhân giống sinh dưỡng. Đối với cây
con làm gốc ghép trong giai đoạn vườn ươm phải tuân thủ nghiêm ngặt chế độ chăm
sóc và che bóng, với cây ghép có thể lựa chọn thời vụ thích hợp, giảm thiểu ảnh
hưởng của thời tiết đến tỷ lệ sống của cây ghép.


19

Trám ưa khí hậu ấm áp, mùa đông không được quá lạnh. Trám trắng tính chịu rét
phụ thuộc vào từng loại giống thông thường giới hạn nhiệt độ thấp cực trị là - 30C.


20

+ Yêu cầu về giống
Trám có thể trồng bằng cây con từ hạt hoặc cây ghép tuy nhiên cây con trồng
từ hạt thường có tỷ lệ cây đực cao. Hạt Trám để ươm cây cần chọn quả đã chín, ngâm
vào nước nóng 60oC - 65oC. Khi thịt quả đã mềm thì tách hạt đem rửa sạch rồi hong
khô [10].
Trám trồng bằng cây ghép nên dùng gốc ghép 2 năm tuổi rồi mới ghép mắt.
Tốt nhất là dùng cây gốc ghép mọc từ hạt, trồng trong bầu, sau khi ghép cây con
trưởng thành tốt mới ra ngoài sẽ dễ sống và sớm ra quả.
Do Trám có cây đực và cây lưỡng tính, cây đực chỉ ra hoa đực, có ra hoa mà
không có quả, dùng mắt ghép từ cây lưỡng tính thì ra hoa kết quả bình thường và cho
năng suất ghép cao.


21

PHẦN III
NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. Đối tượng, phạm vi, địa điểm và thời gian nghiên cứu
Đề tài chọn đối tượng phỏng vấn là những hộ trồng Trám Trắng lấy quả từ
2007-2009, ở xã Phú đô, Phủ Lý, Hợp thành huyện Phú Lương; xã Văn Lăng, Tân
Long, Văn Hán huyện Đồng Hỷ Thái Nguyên.
Đề tài thử nghiệm 4 công thức bón phân cho Trám Trắng trồng sau ghép lấy
quả tuổi 4 ở xã:Văn Lăng huyện Đồng Hỷ và xã Phú đô huyện Phú Lương tỉnh Thái
Nguyên.
Đề tài được thực hiện từ tháng 2 năm 2010 đến tháng 12 năm 2011.
3.2. Nội dung nghiên cứu
Để đáp ứng được mục tiêu nghiên cứu đề tài thực hiện một số nội dung sau:

quả chúng tôi tiến hành phỏng vấn các hộ trên khu vực nghiên cứu bằng bộ câu hỏi đã
chuẩn bị sẵn (Phụ biểu IV). Số hộ được chọn để phỏng vấn là những hộ đã trồng Trám
Trắng lấy quả thuộc khu vực nghiên cứu. Từ đó chúng tôi chọn những hộ có trồng
Trám Trắng lấy quả với số lượng nhiều nhất và trồng tập trung để tiến hành thí
nghiệm bón phân.
* Để có được số liệu về ảnh hưởng của phân bón đến Trám trắng trồng lấy quả
ở khu vực nghiên cứu chúng tôi tiến hành thí nghiệm:
Bước 1: Chuẩn bị công cụ, vật tư phục vụ nghiên cứu
Thước sào dùng đo chiều cao cây, thước mét dùng để đo đường kính tán và
một số chỉ tiêu khác.
Ngoài ra còn có bảng biểu, giấy, bút, …và phân bón (phân chuồng hoai, đạm
URê, NPK, supelân, kali, phân đầu trâu).
Bước 2: Bố trí thí nghiệm
- Thí nghiệm 1: Được bố trí trên diện tích đất trồng Trám Trắng lấy quả của gia
đình ông Vi Tất Tuấn xóm Tháng Hai xã Phú Đô huyện Phú Lương tỉnh Thái Nguyên
(ảnh phụ biểu I), phần dưới chân đồi trồng Chè, phần sườn đồi trồng Trám Trắng,
phần đỉnh đồi trồng Keo.
Khu đất trồng Trám Trắng Lấy quả của gia đình ông Tuấn là đất đồi thoải, độ
dốc thấp (120), tầng đất tương đối dầy (50-60cm), dễ thoát nước.
Nguồn giống được trồng là Trám Trắng ghép được mua tại lâm trường Phú
Lương. Mật độ trồng là 500cây/ha tương ứng với khoảng cách 5mx4m.
- Thí nghiệm 2: Được bố trí trên diện tích đất trồng Trám Trắng lấy quả của gia
đình ông Trần Công Hiến xóm Khe Quân xã Văn Lăng huyện Đồng Hỷ tỉnh Thái
Nguyên (ảnh phụ biểu II).


23

Khu đất trồng Trám Trắng Lấy quả của gia đình ông Hiến là đất đồi thoải, độ
dốc thấp trung bình 150, tầng đất tương đối dầy (45-50cm), dễ thoát nước.

CT1

CT3

3

CT3

CT1

CT4

CT2

Bước 3. Theo dõi thí nghiệm và thu thập số liệu
Định kỳ sau mỗi lần bón phân chúng tôi đo đếm theo các chỉ tiêu:
Động thái tăng trưởng chiều cao cây: đo từ mặt đất tới đỉnh sinh trưởng cao
nhất của tán cây.
Động thái tăng trưởng đường kính tán: đo hướng Đông - Tây, Nam - Bắc sau
đó tính trung bình.
Theo dõi thời gian ra các đợt lộc: ngày nhú lộc (10% số cây), ngày lộc thành thục
(70% số cây).
-

Số lộc ra trên cây, đếm số lộc ra mỗi đợt, chiều dài các lộc, đo mỗi cây 5 cành

từ vị trí của vết sẹo lần lộc trước đến điểm ngừng sinh trưởng của đợt lộc sau, tính
trung bình.
-


2

Dt (m)
3

1

2

Lộc (cm)
3

1

2

3

Hoa (chùm)
/quả(kg)
1
2
3

1
2
3
4
5
.

- Chiều cao bình quân H VN :

2

3

1

Bệnh
2

3

1

2

3



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status