nghiên cứu ảnh hưởng của phân bón đến sinh trưởng và năng suất của dong riềng tại thái nguyên - Pdf 24

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM


HOÀNG MINH ĐỨC
NGHIÊN CỨU ẢNH HƢỞNG CỦA PHÂN BÓN
ĐẾN SINH TRƢỞNG VÀ NĂNG SUẤT CỦA
DONG RIỀNG TẠI THÁI NGUYÊN

LUẬN VĂN THẠC SĨ
KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP

Ngƣời hƣớng dẫn Khoa học: TS. NGUYỄN THỊ LÂN Thái Nguyên - 2014 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/

i

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi. Những kết quả và
các số liệu trong luận văn chưa được ai công bố dưới bất cứ hình thức nào.
Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm trước nhà trường về sự cam đoan này. Thái Nguyên, ngày tháng năm 2014
Tác giả luận văn

iii

Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
M iii
D viii
D x
MỞ ĐẦU 1
1. Tính cấp thiết của đề tài 1
2. Mục đích và yêu cầu của đề tài 3
2.1. Mục đích của đề tài 3
2.2. Yêu cầu của đề tài 3
3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 3
3.1. Ý nghĩa khoa học 3
3.2. Ý nghĩa thực tiễn 3
Chƣơng 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1. Cơ sở khoa học 4
1.2. Nguồn gốc, đặc điểm thực vật học và yêu cầu sinh thái của cây dong riềng . 5
1.2.1. Nguồn gốc 5
1.2.2. Phân loại cây dong riềng 6
1.2.3. Phân bố và các giống dong riềng 6
1.2.4. Đặc điểm thực vật học cây dong riềng 6
1.2.5. Yêu cầu sinh thái của cây dong riềng 8
1.3. Tình hình sản xuất và tiêu thụ dong riềng 9
1.3.1. Tình hình sản xuất và tiêu thụ dong riềng trên thế giới 9
1.3.2. Tình hình sản xuất và tiêu thụ dong riềng tại Việt Nam 9
1.4. Tình hình nghiên cứu dong riềng trên Thế giới và ở Việt Nam 12
1.4.1. Tình hình nghiên cứu dong riềng trên thế giới 12
1.4.2. Tình hình nghiên cứu dong riềng ở Việt Nam 14


3.2. Nghiên cứu ảnh hưởng của một số loại phân hữu cơ vi sinh đến sinh trưởng
và năng suất của dong riềng 36

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/

v
3.2.1. Ảnh hưởng của một số loại phân hữu cơ vi sinh đến thời gian sinh trưởng,
phát triển của cây dong riềng 36
3.2.2. Ảnh hưởng của một số loại phân hữu cơ vi sinh đến khả năng sinh trưởng,
phát triển của dong riềng 37
3.2.3. Ảnh hưởng của một số loại phân hữu cơ vi sinh đến một số đặc điểm hình
thái của dong riềng 37
3.2.4. Ảnh hưởng của một số loại phân hữu cơ vi sinh đến khả năng chống đổ và
sâu bệnh của cây dong riềng 39
3.2.5. Ảnh hưởng của một số loại phân hữu cơ vi sinh đến năng suất cây dong
riềng 40
3.2.6. Ảnh hưởng của một số loại phân hữu cơ vi sinh đến chất lượng củ dong
riềng 42
3.1.7. Hiệu quả kinh tế của các loại phân bón hữu cơ vi sinh 44
3.3 Nghiên cứu ảnh hưởng của liều lượng phân hữu cơ vi sinh NTT đến sinh
trưởng và năng suất của dong riềng 44
3.3.1. Ảnh hưởng của liều lượng phân hữu cơ vi sinh NTT đến thời gian sinh
trưởng, phát triển của cây dong riềng 44
3.3.2 : Ảnh hưởng của liều lượng phân hữu cơ vi sinh NTT đến khả năng sinh
trưởng, phát triển của dong riềng 46
3.3.3: Ảnh hưởng của liều lượng phân hữu cơ vi sinh NTT đến một số đặc điểm
hình thái của dong riềng 47
3.3.4 : Ảnh hưởng của liều lượng phân hữu cơ vi sinh NTT đến khả năng chống
đổ và sâu bệnh của cây dong riềng 49
3.3.5: Ảnh hưởng của liều lượng phân hữu cơ vi sinh NTT đến năng suất cây

CV : Hệ số biến động
LSD : Sai khác có ý nghĩa
KHSS : Khoa học sự sống
IDRC : Trung tâm nghiên cứu và phát triển quốc tế Canada
CIP : Trung tâm khoai tây quốc tế

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/

viii
ẢNG
Bảng 3.1: Ảnh hưởng của một số tổ hợp NPK đến thời gian sinh trưởng, phát
triển của cây dong riềng 25
Bảng 3.2: Ảnh hưởng của một số tổ hợp NPK đến tỷ lệ nảy mầm và độ đồng đều
của dong riềng 26
Bảng 3.3: Ảnh hưởng của một số tổ hợp NPK đến một số đặc điểm hình thái của
dong riềng 28
Bảng 3.4: Ảnh hưởng của một số tổ hợp NPK đến khả năng chống đổ và sâu
bệnh của cây dong riềng ở các công thức trong thí nghiệm 30
Bảng 3.5: Ảnh hưởng của một số tổ hợp NPK đến các yếu tố cấu thành năng
suất và năng suất của dong riềng trong các công thức thí nghiệm 31
Bảng 3.6: Ảnh hưởng của một số tổ hợp NPK đến chất lượng củ dong riềng
trong các công thức thí nghiệm 34
Bảng 3.7: Sơ bộ hạch toán kinh tế của các tổ hợp phân bón trong thí nghiệm 35
Bảng 3.8: Ảnh hưởng của một số loại phân hữu cơ vi sinh đến thời gian sinh
trưởng, phát triển của cây dong riềng 36
Bảng 3.9: Ảnh hưởng của một số loại phân hữu cơ vi sinh đến tỷ lệ nảy mầm và
độ đồng đều của dong riềng 37
Bảng 3.10: Ảnh hưởng của một số loại phân hữu cơ vi sinh đến một số đặc điểm
hình thái của dong riềng 38
Bảng 3.11: Ảnh hưởng của một số loại phân hữu cơ vi sinh đến khả năng chống

Hình 3.1: Năng suất thực thu và năng suất tinh bột của các công thức thí nghiệm 33
Hình 3.2: Tỷ lệ chất khô và hàm lượng tinh bột của các công thức thí nghiệm 35
Hình 3.3: Năng suất thực thu và năng suất tinh bột của các công thức thí nghiệm 42
Hình 3.4: Tỷ lệ chất khô và hàm lượng tinh bột của các công thức thí nghiệm 43
Hình 3.5: Năng suất thực thu và năng suất tinh bột của các công thức thí nghiệm 51
Hình 3.6: Tỷ lệ chất khô và hàm lượng tinh bột của các công thức thí nghiệm 53

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/

1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Cây dong riềng có tên khoa học là Canna edulis (Indica), họ Dong riềng
(Cannaceae) . Dong riềng có nguồn gốc phát sinh ở Peru, Nam Mỹ (Trương
Văn Hộ và cs. 1993) [7] được người Pháp giới thiệu và trồng ở nước ta vào
đầu thế kỷ 19. Dong riềng là cây trồng sinh trưởng phát triển mạnh, có khả
năng thích ứng rộng, trồng được trên nhiều loại đất kể cả các vùng đất nghèo
dinh dưỡng, có khả năng chống chịu tốt với điều kiện bất thuận đặc biệt là
chịu hạn, năng suất củ tươi có thể đạt từ 45 - 60 tấn/ha, hàm lượng tinh
bột 13,36- 16,4% (Nguyễn Thiếu Hùng và cs., 2010)[6]. Do có hàm lượng
tinh bột cao nên củ dong riềng thường được dùng để chế biến tinh bột, chăn
nuôi gia súc, đặc biệt là được sử dụng để làm miến dong, bánh đa, bánh mì,
bánh bao, kẹo … Ngoài ra, thân, lá dong riềng còn dùng cho chăn nuôi gia
súc nên góp phần tận dụng thúc đẩy chăn nuôi phát triển. Theo đánh giá của
người dân, dong riềng dễ trồng, ít tốn công chăm sóc nên trồng dong riềng có
hiệu quả kinh tế cao, lãi xuất có thể đạt 50 – 60 triệu đồng/ha. Trước kia do
không thấy được giá trị của cây dong riềng nên chúng chủ yếu được trồng trên
đất cằn cỗi, đất tận dụng mà các cây khác không phát triển được hoặc trên đất
đồi núi. Từ năm 1980 cây dong riềng đã được chú ý phát triển như là cây
hàng hóa, có giá trị kinh tế. Một số địa phương đã chuyển đổi dong riềng

yếu tố dinh dưỡng, không những gây ra giảm chất lượng nông sản mà còn làm
ô nhiễm môi trường, làm cạn kiệt màu mỡ và làm chai cứng đất và hậu quả là
năng suất có xu hướng chững lại.
Để giải quyết vấn đề này, một loạt các vấn đề kỹ thuật được đặt ra và
quan tâm như vấn đề quản lý tổng hợp dinh dưỡng, vấn đề sử dụng phân bón
sao cho hợp lý, cân đối và đặc biệt xu hướng chung trên thế giới và nước ta
hiện nay là: tăng cường sử dụng các loại phân hữu cơ và phân hữu cơ vi sinh
để đạt hiệu quả cao mà vẫn giữ được độ phì cho đất, góp phần bảo vệ môi
trường, đảm bảo năng suất cao và ổn định.
Xuất phát từ thực tế đó tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài: “ Nghiên cứu
ảnh hưởng của phân bón đến sinh trưởng và năng suất của dong riềng tại
Thái nguyên”.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/

3
2. Mục đích và yêu cầu của đề tài
2.1. Mục đích của đề tài
Xác định tổ hợp N P K thích hợp nhằm nâng cao năng suất và chất
lượng dong riềng. Lựa chọn loại phân và liều lượng vi sinh thích hợp nhất
nhằm thay thế phân chuồng trong sản xuất dong riềng.
2.2. Yêu cầu của đề tài
- Theo dõi tình hình sinh trưởng của dong riềng ở các thí nghiệm.
- Theo dõi tình hình sâu, bệnh hại và khả năng chống đổ của dong riềng
ở các thí nghiệm.
- Đánh giá các yếu tố cấu thành năng suất, năng suất và chất lượng củ
của dong riềng ở các thí nghiệm.
3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
3.1. Ý nghĩa khoa học
Kết quả của đề tài sẽ bổ sung tài liệu cho công tác nghiên cứu, và

lá do vậy không nên bón nhiều đạm vì bón nhiều đạm dong riềng sẽ chủ yếu
phát triển thân lá và ảnh hưởng đến năng suất.
Lân có vai trò quan trọng trong quá trình quang hợp, quá trình hình
thành và phát triển của bộ rễ, đặc biệt là rễ củ, bón đầy đủ lân sẽ làm cho số
lượng rễ củ nhiều góp phần tăng năng suất và hàm lượng tinh bột, giảm tỷ lệ
chất xơ trong củ. Kali có tác dụng thúc đẩy mạnh quá trình hoạt động của bộ
rễ, đẩy mạnh khả năng quang hợp hình thành và vận chuyển gluxit về củ,
thiếu kali dong riềng chậm lớn, ít củ, tỷ lệ tinh bột giảm, tỷ lệ xơ tăng và thời
gian bảo quản giảm.
Để đạt được năng suất cao, chất lượng tốt, dong riềng cần bón cân đối
N:P:K phối hợp với phân chuồng (phân hữu cơ), tuỳ thuộc vào loại đất đai,
mùa vụ, giống và các vùng sinh thái
- Phân bón hữu cơ cho Dong riềng
Khi Dong riềng không được bón đủ phân, đất quá nghèo dinh dưỡng,
bộ lá xuống mã sớm thì lượng vật chất khô tạo thành ít, dẫn đến năng suất
thân lá và năng suất củ đều giảm. Phân hữu cơ có tác động tốt thúc đẩy sinh

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/

5
trưởng và tăng năng suất khoai lang. Phân trâu bò hay phân chuồng hoai mục
đều có tác dụng . Xét về hàm lượng đạm nguyên chất cung cấp cho cây,
Nedunchezhiyan (2001)[17] cho rằng không có sự sai khác đáng kể giữa phân
hữu cơ trang trại, phân chuồng hay phân đại gia súc.
Cây dong riềng có phản ứng tốt với phân hữu cơ. Phân hữu cơ làm cho
đất tơi xốp, giúp cho quá trình hình thành và phình to củ được thuận lợi.
Nguyên nhân là quá trình phân giải chất hữu cơ đã tạo nên sự chênh lệch nhiệt
độ: nhiệt độ trong luống luôn cao hơn nhiệt độ bên ngoài và trên mặt luống.
Nhờ vậy đã tạo nên sự chênh lệch áp suất làm thành quá trình đối lưu không
khí từ hai bên sườn luống xuống gốc cây dong riềng, giúp quá trình vận chuyển

2n = 2X = 27
1.2.3. Phân bố và các giống dong riềng
Trên thế giới dong riềng được trồng ở quy mô thương mại tại các nước
vùng nam Mỹ, châu Phi, và một số nước nam Thái Bình Dương. Tại châu Á,
dong riềng được trồng tại Thái Lan, Indonesia, Nam Trung Quốc, Úc và Đài
Loan (Hermann, M. và cs., 2007)[15].
1.2.4. Đặc điểm thực vật học cây dong riềng
Thân: Thân của cây dong riềng gồm 2 loại là thân khí sinh và thân củ.
Thân khí sinh trung bình cao từ 1,2m đến 1,5m có những giống có thể cao
trên 2,5m. Thân cây thường có mầu xanh hoặc xen tím. Thân gồm những lóng
kéo dài, giữa các lóng là các đốt; Thân khí sinh được tính từ đốt tiếp phần củ.
Giải phẫu thân khí sinh cho thấy bên ngoài thân được cấu tạo bởi lớp biểu bì
gồm những tế bào dẹt, dưới biểu bì có những bó cương mô xếp thành những
bó tròn có tác dụng chống đỡ cho cây, tiếp đến là những bó libe và mạch gỗ
và trong cùng là nhu mô.
Củ: Củ cây dong riềng hình thành từ thân rễ phình to, những củ to có thể
đạt chiều dài 60 cm. Thân rễ phân thành nhiều nhánh và chứa nhiều tinh bột,
thân rễ nằm trong đất; Thân rễ gồm nhiều đốt, mỗi đốt có một lá vảy, lúc mới
ra lá vảy có hình chóp nhọn dần dần to ra sẽ bị rách và tiêu dần; Trên mỗi đốt
của thân củ có nhiều mầm có thể phát triển thành nhánh, nhánh có thể phân

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/

7
chia thành các nhánh cấp 1 hay đến cấp 3. Vỏ của thân có thể có màu trắng,
vàng kem đến màu tía hồng. Kích thước củ biến động khá lớn phụ thuộc vào
giống và điều kiện chăm bón. Giải phẫu thân rễ cho thấy phía ngoài cùng của
củ là biểu bì gồm những tế bào dẹt, tiếp là nhu mô bên trong có những bó
cương mô và những bó mạch dẫn libe và gỗ, tiếp là lớp tế bào nhu mô chứa ít
một số hạt tinh bột, vào trong nữa là lớp trụ bì rất rõ và trong cùng là nhu mô

có từ 6 – 8 noãn, phía trên bầu có tuyến tiết mùi. Thời gian từ nụ đến nở hoa
từ 3 – 5 ngày, hoa nở theo thứ tự từ thấp đến cao, từ trong ra ngoài; Hoa nở
vào buổi sáng, mỗi hoa nở từ 1 - 2 ngày.
Quả: Quả của cây dong riềng thuộc dạng qủa nang, hình trứng ngược,
kích thước khoảng 3cm, trên quả nang có nhiều dai mềm.
Hạt: Hạt của cây dong riềng có màu đen, hình tròn đường kính 3,5 – 5
mm. Khối lượng 1000 hạt khoảng 12 - 13g.
1.2.5. Yêu cầu sinh thái của cây dong riềng
Yêu cầu về nhiệt độ: Cây dong riềng thích hợp từ 25-30
o
C, điều kiện ấm
áp dong riềng sinh trưởng phát triển khỏe hơn, tốc độ đồng hóa cao và đẩy
nhanh quá trình hình thành thân củ, thời tiết hanh và hơi lạnh đẩy nhanh quá
trình vận chuyển tinh bột từ thân lá xuống củ và dong riềng chịu lạnh khá nên
có khả năng trồng ở độ cao trên 2.500m so với mặt nước biển.
Yêu cầu ánh sáng: Dong riềng không cần nhiều ánh sáng, nên có thể
trồng dưới tán cây ăn quả, cây sinh trưởng bình thường nơi cớm nắng. Ngày
dài có ảnh hưởng lớn đến việc hình thành củ. Điều kiện ngày ngắn, cường độ
ánh sáng mạnh thúc đẩy sự hình thành phát triển củ, trong khi ngày dài lại
thúc đẩy sự phát triển thân lá.
Yêu cầu đất trồng: Dong riềng là cây có yêu cầu về đất không khắt khe
so với cây trồng khác, nên có thể trồng trên nhiều loại đất khác nhau. Tuy
nhiên trồng trên đất cát pha, nhiều mùn, đủ ẩm là tốt nhất để cho năng suất
cao. Dong riềng là loại cây chịu úng kém do vậy đất trồng dong riềng phải là
nơi dễ thoát nước. Đất đọng nước làm cho bộ rễ hô hấp kém có thể dẫn đến
thối củ.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/

9


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/

10
áp dụng các biện pháp kỹ thuật trồng trọt phù hợp với mục đích sử dụng. Hiện
nay, dong riềng được chú trọng đâu tư và mang lại hiệu quả kinh tế cho một
số tỉnh như: Bắc kạn, Cao Bằng….Người sử dụng chỉ quan tâm đến củ, còn
thân là lại được trả lại cho đất sau thu hoạch. Dong riềng hiện nay chủ yếu
được chế biến thành miến để xuất khẩu cũng như tiêu thụ trong nước.
Diện tích dong riềng của Việt Nam đạt khoảng 30.000 ha. Sản lượng
hàng năm đạt 450.000 tấn củ tươi. Dong riềng được trồng ở những chân đất
khô hạn, trên đất dốc hoặc những nơi sản xuất tinh bột và miến. Các tỉnh
trồng nhiều dong riềng để sử dụng làm miến là Hà Nội, Hưng Yên, Hòa Bình
và Đồng Nai.
Tại những vùng có diện tích trồng đáng kể, dong riềng hầu hết được chế
biến thành tinh bột, sau đó làm miến (N. K. Quỳnh và T. V. Hộ, 1996)[8].
Tuy nhiên, các quy trình chế biến miến dong ở nước ta hiện nay vẫn mang
tính thủ công chưa đảm bảo chất lượng và chỉ có một số ít nhà máy sử dụng
tinh bột dong để sản xuất miến ăn liền. Dong riềng hiện nay được chế biến
với khối lượng lớn chủ yếu tại một số làng nghề tại Quốc Oai, Hoài Đức, Ba
Vì (Hà Nội), Trảng Bom (Đồng Nai), Yên Mỹ, Khoái Châu (Hưng Yên).
Hiện nay nhu cầu sử dụng miến ngày càng tăng, trong khi đó nguồn nguyên
liệu cho chế biến lại chưa đủ nên hàng năm nước ta vẫn phải nhập hàng ngàn
tấn tinh bột dong ẩm từ tỉnh Vân Nam, Trung Quốc.
* Điển hình như sản xuất dong riềng tại Bắc Kạn
Bắc Kạn là tỉnh miền núi phía Bắc, có địa hình phức tạp lớn, độ dốc
cao. Việc đưa các loại cây trồng vào địa bàn Bắc Kạn trong những năm
qua đã có nhiều nghiên cứu, nhiều mô hình được áp dùng để tạo vùng sản
xuất phù hợp với điều kiện địa lý, thổ nhưỡng và cả tập quán canh tác của
đồng bào dân tộc thiểu số.

riềng và sản xuất miến dong.
Các cơ sở sản xuất miến từ nguyên liệu dong riềng lớn nhất của tỉnh Bắc
Kạn là: Nhất Thiện (huyện Ba Bể), HTX miến dong Côn Minh, Kim Lư, Cư
Lễ, Lạng San (huyện Na Rì). Sắp tới, Bắc Kạn sẽ có những cơ sở sản xuất
miến dong quy mô lớn hơn, thực hiện sự cam kết giữa doanh nghiệp và người
dân trong việc trồng và tiêu thụ sản phẩm dong riềng.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/

12
Cùng với việc các hợp tác xã chế biến dong riềng được thành lập
mới, hiện nay một số cơ sở chế biến dong riềng hoạt động với quy mô nhỏ
đang chuẩn bị đầu tư mới để sản xuất với quy mô lớn hơn. Theo số liệu
thống kê của Sở Công Thương, trên địa bàn tỉnh hiện có 26 cơ sở đang dự
kiến đầu tư dây chuyền chế biến tinh bột với tổng công suất 940 tấn
củ/ngày; 04 đơn vị đang dự kiến đầu tư mới dây chuyền sản xuất miến
dong với tổng công suất đạt 13,7 tấn củ/ngày. Như vậy, năm 2012 tổng
công suất chế biến tinh bột dong riềng (bao gồm cả hiện có và dự kiến đầu
tư mới) trên địa bàn toàn tỉnh có thể đáp ứng được 99,04%, nếu tăng thêm
thời gian chế biến thì công suất hiện tại sẽ đủ để chế biến hết khối lượng
củ dong riềng năm nay. Năm 2014, diện tích trồng mà tỉnh xây dựng kế
hoạch khoảng 1700 ha để phù hợp với công suất chế biến của các cơ sở
sản xuất, chế biến (Phương Thảo, 2014) [10].
1.4. Tình hình nghiên cứu dong riềng trên Thế giới và ở Việt Nam
1.4.1. Tình hình nghiên cứu dong riềng trên thế giới
Cây dong riềng có tên khoa học là Canna edulis (Indica), thuộc nhóm
cây nông nghiệp có nguồn gốc phát sinh ở Nam Mỹ. Ngày nay dong riềng
được trồng rộng rãi ở các nước nhiệt đới và á nhiệt đới trên thế giới. Nam Mỹ
là trung tâm đa dạng của dong riềng nhưng châu Á, châu Úc và châu Phi là
những nơi trồng và sử dụng dong riềng nhiều nhất (Cecil, 1992; Hermann,

mực nước biển, trong điều kiện nhiệt độ bình quân 15 - 17
0
C. Trong 6 tháng
đầu người ta trồng xen với khoai tây, sau 12 tháng thu hoạch cho năng suất củ
trung bình 56 tấn/ha.
Nghiên cứu đánh giá 26 mẫu giống dong riềng từ ngân hàng gen dong
riềng quốc tế của CIP tại Ecuador, trong nhà lưới ở độ cao 2400 m, biên độ
12- 27
0
C với mật độ 2 cây/m
2
, trên nền đất cát pha, không bón phân, Hermann
và cộng sự đã thu được kết quả rất thú vị. Năng suất củ tươi đạt từ 17-96
tấn/ha, hàm lượng tinh bột trong củ tươi đạt 4 - 22% và đạt 12 - 31% qui về
chất khô, hàm lượng đường hòa tan trong củ tươi là 5 - 11 độ Brix.

Trích đoạn Nghiên cứu ảnh hưởng của một số tổ hợp NPK đến sinh Hiệu quả kinh tế của các tổ hợp phân bón
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status