1
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
ĐÀO TRỌNG TUẤN NGHIÊN CỨU ẢNH HƢỞNG CỦA MẬT ĐỘ
CẤY VÀ CÁC MỨC PHÂN BÓN ĐẾN SINH
TRƢỞNG VÀ NĂNG SUẤT CỦA GIỐNG LÚA
J01 VỤ XUÂN VÀ VỤ MÙA 2011 TẠI TỈNH YÊN
BÁI
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
Chuyên ngành: khoa học cây trồng
Mã số: 60.62.01.10 Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: GS. TS Trần Ngọc Ngoạn
phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: Giống, kỹ thuật trồng trọt, thời tiết. Trong đó
kỹ thuật trồng trọt như mật độ và phân bón có ảnh hưởng quyết định đến năng
suất lúa. Mật độ cùng với tỷ lệ đẻ nhánh quyết định yếu tố cấu thành năng suất
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 3
cơ bản nhất đó là số bông/m
2
. Giống mới cũng chỉ phát huy được tiềm năng
của mình cho năng suất cao khi được bón đủ phân và bón phân hợp lý [18].
Yên Bái là tỉnh miền núi phía bắc Việt Nam, tổng diện tích đất tự nhiên
của tỉnh là 688.627,64 ha (theo số liệu thống kê năm 2011) trong đó diện
tích đất nông nghiệp là 538.541,05 ha, chiếm 78,20% diện tích đất tự nhiên.
Thành phố Yên Bái là đô thị loại 2, là trung tâm chính trị, kinh tế của
tỉnh. Có tiềm năng về phát triển sản xuất lúa, hiện nay diện tích ruộng cấy lúa
trên 979 ha, đất đai có độ phì cao, điều kiện tưới tiêu và thâm canh tốt; năng
suất lúa cả năm đạt 48,16 tạ/ha, [diện tích lúa đông xuân 508 ha, năng suất lúa
Đông xuân 48,50 tạ/ha, sản lượng lúa đông xuân 2.465 tấn], tổng sản lượng
lúa hàng năm đạt 4.716 tấn. Tuy nhiên, Yên Bái chưa phát huy được tiềm
năng thế mạnh trong sản xuất lúa, hiệu quả kinh tế mang lại từ sản xuất lúa
còn rất thấp vì nhân dân chủ yếu gieo trồng những giống lúa cũ năng suất và
chất lượng chưa cao. Từ năm 2009 tỉnh Yên Bái phối hợp với Viện di truyền
đưa một số giống lúa mới thuộc loài phụ Japonica có nguồn gốc từ Nhật Bản
vào sản xuất thủ nghiệm với diện tích 50 ha , đến diện tích gieo cấy những
giống lúa thuộc loài phụ Japonica đã tăng lên 700 ha, năng suất đạt trung bình
67 tạ/ha, so với các giống lúa đãng gieo cấy tại địa phương những giống lúa
này đang có ưu thế và hứa hẹn đam lại những thay đổi trong phát triển những
giống lúa có chất lượng cho tỉnh Yên Bái.
- Xác định được ảnh hưởng của các mức phân bón đến sinh trưởng,
phát triển và năng suất và hiệu quả kinh tế của giống lúa J01.
4. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
4.1. Ý nghĩa khoa học
- Bước đầu nghiên cứu được thời gian sinh trưởng, phát triển, khả năng
thích ứng, năng suất của giống lúa J01 cho vùng đất chủ động nước tại tỉnh
Yên Bái nhằm làm cơ sở khoa học cho các đề tài nghiên cứu tiếp theo.
- Kết quả thu được từ thí nghiệm là căn cứ khoa học để bổ sung, hoàn
thiện quy trình kỹ thuật thâm canh lúa trên đất chủ động nước tại tỉnh Yên
Bái nói riêng và các tỉnh miền núi phía Bắc nói chung.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 5
4.2. Ý nghĩa thực tiễn
- Xác định được mật độ cấy và mức phân bón phù hợpcho giống lúa
J01 trên đất ruộng chủ động nước, từ đó thay đổi phương pháp canh tác
truyền thống đang hạn chế đến tiềm năng năng suất của giống lúa này ở tỉnh
Yên Bái.
- Đề tài mang tính ứng dụng cao, khi ứng dụng vào thực tiễn sản xuất
sẽ thúc đẩy mở rộng diện tích trồng lúa trên đất ruộng chủ động nước từ đó
nâng cao hệ số sử dụng đất, tăng thu nhập cho người nông dân, góp phần xóa
đói giảm nghèo cho tỉnh Yên Bái nói riêng và các tỉnh miền núi phía Bắc nói
chung.
mỗi giống lúa, mỗi mức phân bón, mức đầu tư kỹ thuật trên các vùng khác
nhau thì cần có các nghiên cứu tìm ra phương pháp bón phân và mật độ cấy
hợp lý, đây là một việc làm thường xuyên của các nhà khoa học. Chính vì vậy
đề tài mang đủ cơ sở khoa học và thực tiễn.
1.2. Tình hình sản xuất và nghiên cứu lúa trên thế giới và Việt Nam
1.2.1. Tình hình sản xuất, nghiên cứu lúa trên thế giới
Hiện nay thế giới có trên 100 nước trồng lúa ở hầu hết các châu
lục. Tuy nhiên, sản xuất lúa gạo vẫn tập trung chủ yếu ở các nước châu Á nơi
chiếm tới 90% diện tích gieo trồng và sản lượng [41].
Sau đây chúng ta thấy biến động về diện tích, năng suất và sản lượng
lúa trên toàn thế giới trong vài thập kỷ gần đây.
Bảng 1.1 cho thấy: Diện tích canh tác lúa trên thế giới trong vài thập kỷ
gần đây có xu hướng tăng. Song tăng mạnh nhất vào những thập niên 70, 90
của thế kỷ XX và có xu hướng ổn định từ những năm đầu của thế kỷ XXI. Về
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 7
năng suất của lúa cũng tăng dần qua các năm và tăng nhanh nhất vào thập
niên 70, 80. Đến thập niên 90 và những năm đầu của thế kỷ XXI năng suất
lúa tăng chậm lại song nhìn chung năng suất tăng gần gấp đôi từ 23,81 tạ/ha
năm 1970 lên 42,04 tạ/ha vào năm 2009. Điều này cho thấy “cuộc cách mạng
xanh” từ giữa thập niên 60 đã ảnh hưởng tích cực đến sản lượng lúa của thế
giới nói chung và của châu Á nói riêng, những tiến bộ kỹ thuật mới nhất là
giống mới, kỹ thuật thâm canh tiên tiến được áp dụng rộng rãi trong sản xuất
đã góp phần làm cho sản lượng lúa tăng lên đáng kể.
Bảng 1.1. Tình hình sản xuất lúa trên thế giới trong vài thập kỷ gần đây
Năm
Diện tích
148,53
39,36
584,63
2004
150,54
40,37
607,79
2005
155,02
40,92
634,39
2006
155,74
41,16
641,09
2007
155,95
42,12
656,80
2008
159,25
43,07
685,87
2009
161,42
42,04
678,68
2010
159,41
43,680
65,481
197,212,010
Indonesia
13,253,500
50,152
66,469,400
Bangladesh
11,700,000
42,787
50,061,200
Thái Lan
10,990,100
28,751
31,597,200
Việt Nam
7,513,700
53,221
39,988,900
Philippines
4,354,160
36,222
15,771,700
Brazil
2,887,651
41,272
11,236,000
Pakistan
2,365,000
30,592
72,350,00
tiêu và đặc biệt là cho xuất khẩu để thu ngoại tệ. Tiêu chí chọn giống lúa của
các nhà khoa học Thái Lan là các giống phải có thời gian sinh trưởng trung
bình đến dài ngày (vì phần lớn lúa ở Thái Lan chỉ trồng được 1 vụ/năm) hạt
gạo dài và trong, ít dập gãy khi xay sát, có hương thơm, coi trọng chất lượng
hơn là năng suất. . . điều này cho chúng ta thấy tại sao giá gạo xuất khẩu của
Thái Lan luôn cao hơn của Việt Nam. Theo hướng này Thái Lan đã tạo ra các
giống lúa chất lượng nổi tiếng Thế giới, trong đó phải kể đến các giống như:
Khao đomali, Jasmin (Hương nhài) [41].
Theo dự báo của Ban Nghiên cứu Kinh tế, Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ
(2011) dự báo trong giai đoạn 2007 - 2017, các nước sản xuất gạo ở Châu Á
sẽ tiếp tục là nguồn cung cấp gạo xuất khẩu chính của thế giới: Bao gồm Thái
Lan, Việt Nam, Ấn Độ. Riêng xuất khẩu gạo của hai nước Thái Lan và Việt
Nam sẽ chiếm khoảng nửa tổng lượng gạo xuất khẩu của thế giới. Việt Nam
xuất khẩu gạo hạt dài là chủ yếu. Thái Lan xuất khẩu gạo thơm, gạo hạt dài
đặc biệt và gạo dính.
Dự báo, một số nước khác cũng sẽ đóng góp giúp tăng sản lượng gạo
thế giới như: Ấn Độ, các tiểu vùng Saharan Châu Phi, Bangladesh,
Philippines, Brazil.
Ấn Độ dự báo vẫn đứng ở vị trí thứ tư trong số các nước xuất khẩu gạo
lớn trên thế giới. Xuất khẩu gạo của Ấn Độ thất thường. Gạo Ấn Độ xuất
khẩu chủ yếu là gạo basmati. Tuy nhiên trong những năm gần đây, lũ và hạn
hán xảy ra ở nước này gây thiệt hại lớn về sản lượng lương thực, giá lúa mỳ
tăng cao đã đẩy nhu cầu tiêu thụ gạo tăng. Chính phủ nước này đang xem xét
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 10
ban hành chính sách cấm xuất khẩu các loại gạo thường không phải basmati.
Theo dự báo của USDA trong thập kỷ tới, dự báo xuất khẩu gạo Ấn Độ sẽ
Năm 2011, sản xuất lúa gạo trên thế giới nhìn chung không có thay đổi
lớn so với năm 2010 nhưng nhóm các nước tiêu dùng lớn như: Trung Quốc,
Pakistan, Indonesia, Philippines đang đẩy mạnh chiến lược tự cân đối nhu cầu
trong nước, do đó thị trường thế giới sẽ chỉ có đột biến khi bất ổn về thiên tai
xảy ra.
Đầu năm 2011, lượng cung thương mại gạo toàn cầu vẫn khá dồi dào,
trong khi đó, nhu cầu thế giới chưa có dấu hiệu khan hiếm; do đó thị trường
gạo toàn cầu chỉ chịu tác động trong hai trường hợp: Nếu các nước vừa chịu
ảnh hưởng nặng nề về hạn hán và lũ lụt như Trung Quốc, Pakistan, Ấn Độ,
Philippines tăng lượng dự trữ thông qua nguồn cung trong nước hoặc mua bổ
sung vào lượng dự trữ; hoặc thiên tai bất ngờ xảy ra tại các nước sản xuất và
tiêu dùng gạo.
Trong các nước xuất khẩu gạo với khối lượng nhỏ hơn như Úc,
Achentina, các nước Nam Mỹ khác (Uruguay, Guyana, Surinam) dự kiến sẽ
tăng xuất khẩu trong giai đoạn tới. Úc dự kiến sẽ tăng xuất khẩu từ 150 nghìn
tấn năm 2007/08 lên 220 nghìn tấn vào năm 2008/09, do sự khôi phục của sản
lượng gạo sau hạn hán. Mặc dù vậy, xuất khẩu gạo Úc vấn sẽ thấp hơn mức
kỷ lục 662 nghìn tấn gạo xuất khẩu vào năm 1998/99. Xuất khẩu gạo
Achentina dự kiến sẽ tăng 3 - 4% năm trong giai đoạn 2007/08 đến 2016/17,
do sản lượng gạo tăng dự kiến vượt nhu cầu gạo nội địa. Xuất khẩu gạo của
các nước Nam Mỹ (chủ yếu từ Uruguay) dự báo tăng 2 - 3% mỗi năm, do
tăng trưởng sản lượng thấp hơn mức tăng tiêu dùng. Các nước Úc, Achentina,
Uruguay xuất khẩu hầu hết các nông sản của họ.
Ai Cập và EU cũng xuất khẩu gạo, nhưng dự báo xuất khẩu gạo của Ai
Cập dự báo sẽ giảm trong 10 năm tới, do tăng trưởng tiêu dùng gạo mạnh
vượt mức tăng sản lượng. Xuất khẩu gạo Ai Cập hiện đã đạt gần tới mức kỷ
lục. Diện tích trồng lúa dự báo sẽ không tăng và năng suất lúa Ai Cập đạt mức
gần cao nhất của thế giới. Xuất khẩu gạo EU dự báo không tăng và ổn định
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
khoảng nửa tổng lượng gạo xuất khẩu của thế giới. Một số nước khác cũng sẽ
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 13
đóng góp giúp tăng sản lượng gạo thế giới như: Ấn Độ, các tiểu vùng Sahara
châu Phi, Bangladesh, Philippines, Brazil [2].
Nhật Bản là một trong mười nước có diện tích trồng lúa nhiều nhất thế
giới. Nhật Bản cũng là nước đạt năng suất cao đứng hàng đầu thế giới, tuy có
diện tích không lớn song sản lượng năm 2005 đạt trên 11,4 triệu tấn. Để đáp
ứng thị hiếu người tiêu dùng. Nhật Bản tập trung vào công tác nghiên cứu
giống lúa ở các viện. Các nhà khoa học Nhật Bản đã lai tạo và đưa vào sản
xuất các giống vừa có năng suất cao, chất lượng tốt đặc biệt là 2 giống:
Miyazaki1 và Miyazaki2. Cho đến giờ các giống này vẫn giữ được vị trí hàng
đầu về 2 chỉ tiêu quan trọng đó là hàm lượng Protein cao tới 13%, hàm lượng
Lysin cũng rất cao (Nguyễn Hữu Hồng, 1993) [14].
1.2.2. Tình hình sản xuất, nghiên cứu lúa ở Việt Nam
Việt Nam là một nước có nền nông nghiệp với khoảng 80% dân số làm
nghề nông, chính vì vậy mà trải qua 4000 năm lịch sử cây lúa luôn gắn liền
với sự phát triển của dân tộc.
Nước ta thuộc vùng nhiệt đới nằm ở toạ độ 8
0
30
’
- 23
0
22
’
vĩ tuyến Bắc,
(Triệu tấn)
1970
4,724,400
21,533
10,173,300
1980
5,600,200
20,798
11,647,400
1990
6,042,800
31,814
19,225,104
2000
7,666,300
42,431
32,529,500
2001
7,492,700
42,852
32,108,400
2002
7,504,300
45,903
34,447,200
2003
7,452,200
46,387
34,568,800
2004
còn 7,207 nghìn ha (2007). Đất trồng lúa chủ yếu được chuyển sang các mục
đích phi nông nghiệp: Khu công nghiệp, sân golf. . . Nên mặc dù năng suất
trong giai đoạn này liên tục tăng, từ 45,9 tạ/ha (2002) lên 48,5 tạ/ha (2004) và
duy trì ổn định trong giai đoạn 2004 - 2006, đến năm 2007 năng suất lúa ước
đạt 49,8 tạ/ha tăng 0,9 tạ/ha so với năm trước nhưng sản lượng lúa trong giai
đoạn 2003 - 2009 đã tăng rất nhanh 4,327 triệu tấn. Nói tóm lại, diện tích lúa
có xu hướng giảm nhưng sản lượng sẽ vẫn duy trì ở mức ổn định và có thể
tăng vì chúng ta sẽ không ngừng cải thiện công tác giống trong sản xuất lúa,
đây cũng chính là chiến lược sản xuất của Việt Nam trong thời gian tới, phấn
đấu đạt và duy trì sản lượng lúa hàng năm là 40 triệu tấn/năm, đẩy mạnh sản
xuất giống lúa có chất lượng cao xuất khẩu hàng năm từ 4 - 5 triệu tấn. Như
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 15
vậy việc nghiên cứu, chọn lọc, lai tạo và nhập khẩu các loại giống lúa có chất
lượng cao phục vụ cho yêu cầu sản xuất là một nhiệm vụ sống còn và phải đặt
thành chương trình cấp Quốc gia và phải huy động cả “4 nhà” (Nhà nước,
Nhà khoa học, Nhà nông và Nhà Doanh nghiệp) cùng tham gia thì mới có hy
vọng đạt kết quả như mong muốn.
Trong giai đoạn từ năm 2000 - 2007, tổng diện tích lúa của cả năm có
xu hướng giảm liên tục, trong khi đó sản lượng lại có biến động tăng đạt mức
cao nhất là 36 triệu tấn/năm vào năm 2004. Điều này thể hiện trình độ thâm
canh cây lúa của Việt Nam đã có những tiến bộ nhất định. Năm 2008, sản
xuất lúa đã tăng cả về diện tích và sản lượng. Diện tích lúa đã tăng trở lại (gần
7,40 triệu ha), gần bằng mức của năm 2004 (hơn 7,44 triệu ha). Đây cũng là
năm được mùa về lúa gạo của Việt Nam.
Lúa là cây lương thực quan trọng hàng đầu trong sản xuất nông nghiệp
của nước ta, hàng năm cây lúa cung cấp 85 - 87% tổng sản lượng lương thực
Việt Nam vẫn là một trong những nước xuất khẩu gạo lớn nhất và được
chứng minh bằng việc Việt Nam tiếp tục giành nhiều lợi thế cạnh tranh trong
sản xuất gạo so với những nhà sản xuất khác và lợi thế này ngày càng mạnh
đối với sản phẩm gạo chất lượng cao. Tuy nhiên vẫn còn những câu hỏi đặt ra
là làm thế nào để gạo đạt được chất lượng cao và duy trì tốc độ xuất khẩu như
hiện nay. Sự tăng trưởng đầy ấn tượng về năng suất và sản lượng lúa là thành
quả của những nỗ lực tổng hợp của cả nước trong việc tìm kiếm những giải
pháp để đẩy mạnh phát triển kinh tế. Cộng đồng quốc tế đánh giá cao những
thành tựu của Việt Nam trong việc giải quyết các vấn đề an ninh lương thực.
Có được sự tăng tiến như trên chủ yếu vẫn nhờ vào công tác cải tiến giống.
Chọn tạo giống được coi là giải pháp hữu hiệu nhất để nâng cao sản lượng lúa
vì đầu tư thấp nhưng hiệu quả cao, vì vậy công tác chọn tạo giống lúa phải
được tiến hành thường xuyên và liên tục [41].
Ngoài hàng loạt những biện pháp đổi mới của Chính Phủ, công tác cải
tiến giống lúa có vai trò quan trọng về mặt kỹ thuật và sau đó là những thay
đổi kỹ thuật trồng lúa như việc chuyển đổi mùa vụ, giải quyết vấn đề thủy lợi
để tưới tiêu, cải tạo đất phèn ở ĐBSCL. Năng suất và sản lượng lúa tăng còn
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 17
do tăng diện tích gieo trồng. Từ năm 1980 - 2000 tổng diện tích gieo trồng lúa
đã tăng từ 5,6 triệu ha lên 7,66 triệu ha. Đặc biệt việc áp dụng những tiến bộ
khoa học kỹ thuật, mở rộng diện tích giống lúa lai, lúa thuần có năng suất cao
kết hợp với các biện pháp thâm canh tổng hợp đã góp phần chủ yếu làm tăng
năng suất lúa với tốc độ cao ổn định. Tỷ lệ diện tích gieo cấy bằng các giống
lúa lai, lúa thuần có năng suất cao tăng từ 50% (1991-1995) lên 80% thời kỳ
1996-2000 và trở thành yếu tố cơ bản đưa năng suất lúa một vụ từ 34,3 tạ/ha
lên 42,24 tạ/ha và 52,2 tạ/ha năm 2008. Hiện nay các giống lúa mới chiếm
1.3.1. Tình hình nghiên cứu phân bón cho lúa trên thế giới
Theo Patrich (1968) [32], và cộng sự, Kobayashi (1995) [30], Khi nghiên cứu
khả năng cạnh tranh của 2 giống lúa Hokuriki 52 và Yamakogame cho biết:
phản ứng với điều kiện phân bón khác nhau cho thấy cây có tính thích ứng
cao trong điều kiện tự nhiên ít phân và tăng số lượng cây con ở mỗi đối
tượng, trong khi đó các giống cạnh tranh yếu bị thất bại nghiêm trọng trong
điều kiện trồng trọt bình thường, điều đó có nghĩa là giống khoẻ (Hokuriki
52) sẽ làm hại nhiều cho giống yếu (Yamakogame) khi có đủ phân bón.
Theo Shi (1986) và cộng sự cho rằng: Phân bón có tác dụng thúc đẩy
hoạt động quang hợp. Kết quả nghiên cứu các giống lúa Indica có phản ứng
với phân bón là tăng diện tích lá lớn hơn so với giống lúa Japonica nhưng lại
phản ứng yếu hơn khi hàm lượng phân bón tăng. Khi bàn về năng suất tác giả
cho biết: năng suất là kết quả của những giống có phản ứng tốt với phân bón
và biện pháp kỹ thuật. Ở vùng ôn đới, giống Japonica thường cho năng suất
cao vì nó phản ứng tốt với phân bón [35].
Theo kết quả nghiên cứu của Sinclair (1989): Hiệu suất bón đạm cho
lúa rất khác nhau: 1kg N cho từ 3,1 - 23 kg thóc [34].
Các công trình nghiên cứu của De Datta (1978), [29], Koyama (1981),
[31], Sinclair (1989), [34], Vlek (1986), [36] về đặc điểm bón phân cho các
giống lúa đều đi đến kết luận: Giống mới yêu cầu về phân bón nhất là lân cao
hơn giống cũ. Bón lân làm tăng khả năng hút đạm và kali. Là cơ sở để tăng
năng suất cây trồng. Để đánh giá khả năng cung cấp lân của đất cho cây
trồng, người ta dựa vào hàm lượng lân tổng số, phân lân bón cho lúa có hiệu
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 19
quả đứng thứ 2 sau đạm, nhưng trong một vài trường hợp, ở những đất nghèo
màu thì phân lân lại làm tăng năng suất nhiều hơn đạm. Tuy nhiên bón phân
Bón đạm với liều lượng cao thì hiệu suất cao nhất và bón vào lúc lúa đẻ
nhánh, sau đó giảm dần. Với liều lượng thấp thì bón vào lúc lúa đẻ nhánh và
trước trỗ 10 ngày có hiệu quả cao. Có hai đỉnh về hiệu suất đỉnh thứ nhất xuất
hiện ở giai đoạn lúa đẻ nhánh, đỉnh thứ hai xuất hiện ở 19 - 9 ngày trước trỗ,
nếu lượng đạm nhiều thì không có đỉnh thứ 2.
Tác giả đã đề nghị: Nếu lượng đạm ít sẽ bón vào 20 ngày trước trỗ.
Khi lượng đạm trung bình bón hai lần lúc lúa con gái và 20 ngày trước trỗ
bông, khi lượng đạm nhiều bón vào lúc lúa con gái [17].
Các nhà khoa học Trung Quốc đã kết luận: Với cùng một mức năng
suất, lúa lai hấp thu lượng đạm và lân thấp hơn so với lúa thuần, ở mức năng
suất 75 tạ/ha lúa lai hấp thu đạm thấp hơn lúa thuần 4,8% hấp thu P
2
0
5
thấp
hơn 18,2%. Nhưng hấp thu K
2
0 cao hơn 30%. Với ruộng lúa cao sản thì hấp
thu N cao hơn lúa thuần 10%, hấp thu K
2
0 cao hơn 45% còn hấp thu P
2
0
5
bằng lúa thuần [40].
1.3.2.Tình hình nghiên cứu phân bón cho lúa ở Việt nam
Theo Bùi Đình Dinh (1999) cho rằng: Phân bón có từ rất lâu đời cùng
với sự ra đời của nền nông nghiệp và bắt đầu bằng việc sử dụng các loại phân
hữu cơ. Từ trước Công Nguyên con người đã quan tâm đến việc bón phân hữu
đất một lượng dinh dưỡng tương tự lượng dinh dưỡng mà cây trồng đã lấy đi.
Tuy nhiên, việc bón phân cho cây trồng lại không chỉ hoàn toàn dựa vào dinh
dưỡng cây trồng hút từ đất và phân bón, mà phải dựa vào lượng dinh dưỡng dự
trữ trong đất và khả năng hấp thu dinh dưỡng của cây.
Lúa yêu cầu đạm ngay từ lúc nảy mầm và gần như đến cuối cùng của
thời kỳ sinh trưởng sinh thực. Tỷ lệ đạm trong cây so với trọng lượng chất
khô ở các thời kỳ như sau: thời kỳ mạ 1,54%, đẻ nhánh 3,65%, làm đòng
3.06%, cuối làm đòng 1,95%, trổ bông 1,17% và chín 0,4% [3].
Đối với nhiều loại đất, ngay từ đầu cần phải bón đạm kết hợp với lân
mới cho năng suất cao. Cũng theo nghiên cứu của Lê Văn Căn (1968): Sự tích
luỹ đạm, lân, kali ở các cơ quan trên mặt đất không kết thúc ở thời kỳ trỗ mà
còn được tiến hành ở giai đoạn tiếp theo của cây. Tuy nhiên, từ khi cây bắt
đầu đẻ nhánh đến làm đòng, cây lúa phản ứng mạnh với dinh dưỡng N, K
2
O ở
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 22
mức độ cao [4].
Theo Đào Thế Tuấn (1970) trong thí nghiệm 3 vụ liền ở đất phù sa
Sông Hồng đã rút ra kết luận: “Vụ lúa chiêm cũng như vụ lúa mùa, chia đạm
ra bón nhiều lần để bón thúc đẻ nhánh, nếu bón tập trung vào thời kỳ đầu đẻ
nhánh thì số nhánh tăng lên rất nhiều về sau lụi đi cũng nhiều và thiếu dinh
dưỡng. Nếu bón tập trung vào cuối thời kỳ đẻ nhánh thì số nhánh lụi đi ít
nhưng tổng số nhánh cũng ít vì vậy cần chú ý cả hai mặt. Trong trường hợp
đạm bón tương đối ít thì nên bón tập trung vào thời kỳ đẻ nhánh rộ [25].
Theo các công trình đã nghiên cứu, muốn đạt năng suất 50 tạ/ha/vụ cần bón
100 - 120 kg N/ha. Lượng đạm này lấy từ các loại phân vô cơ và hữu cơ bón
nhánh về sau. Vì vậy, khi bón phân lân đơn độc, số nhánh không tăng mà lại
lụi đi nhiều, do đó cần bón kết hợp đạm, lân và kali [28].
Việt Nam có hàng nghìn giống lúa được gieo trồng trong cả nước, có
nhiều bộ giống tốt phù hợp với nhiều vùng sinh thái khác nhau. Một số giống
lúa chất lượng cao như giống Tám thơm, lúa Dự, Nàng thơm, Nếp cái Hoa
Vàng, Nếp Cẩm, Nếp Tú Lệ, các giống Nếp Nương, Tẻ Nương…đã được đưa
vào cơ cấu gieo cấy ở các tỉnh phía Bắc Việt Nam. Chúng ta đã nhập và thuần
hoá nhiều giống lúa tốt từ nước ngoài mà nay đã trở thành các giống lúa đặc
sản của Việt Nam có thương hiệu như: IR64 Điện Biên, Bao Thai Định Hoá,
Khaodômaly Tiền Giang [24].
Phân bón có tác dụng rất lớn đến năng suất lúa. Tại nước ta từ năm
1990 trở lại đây bình quân lương thực bội thu nhờ phân bón hàng năm là
38%. Việc bón đạm ở vụ xuân có ảnh hưởng rõ rệt đến năng suất lúa, hiệu
suất sử dụng đạm cao nhất khi bón với lượng đạm 102 kgN/ha (16,6 kg
thóc/kgN). Ở vụ mùa ít ảnh hưởng đến năng suất lúa, còn với nguyên tố lân ở
vụ Xuân hiệu suất sử dụng lân cao nhất khi bón với lượng 120 kg P
2
0
5
(cho
2,99kg thóc/kg P
2
0
5
). Hiệu suất sử dụng kali cao nhất khi bón với lượng 60 kg
K
2
0 (4,02 kg thóc/kg K
2
0). Vụ mùa hiệu suất sử dụng lân cao nhất ở mức bón
. Lúa cấy được tính bằng khóm, lúa gieo
được tính bằng hạt mọc. Về nguyên tắc thì mật độ gieo hoặc cấy càng cao thì
số bông càng nhiều. Trong một giới hạn nhất định, việc tăng số bông không
làm giảm số hạt trên bông, nhưng nếu vượt qua giới hạn đó thì số hạt trên
bông bắt đầu giảm đi do lượng dinh dưỡng phải chia sẻ cho nhiều bông. Theo
tính toán thống kê cho thấy tốc độ giảm số hạt/bông mạnh hơn tốc độ tăng của
mật độ cấy, vì vậy cấy dầy đối với lúa lai gây giảm năng suất nhiều hơn so
với lúa thường. Tuy nhiên, nếu cấy quá thưa đối với giống có thời gian sinh
trưởng ngắn thì khó đạt được số bông tối ưu cần thiết theo dự định.
Mật độ cấy là một biện pháp kỹ thuật quan trọng nó phụ thuộc vào điều
kiện tự nhiên, dinh dưỡng, đặc điểm của giống… Khi nghiên cứu về vấn đề
này S.Yoshida (1978) đã kết luận: Trong điều kiện dễ canh tác, lúa mọc tốt thì
nên cấy mật độ thưa, ngược lại phải cấy dầy. Giống lúa cho nhiều bông thì
cấy dầy không có lợi bằng giống bông to. Vùng lạnh nên cấy dầy hơn vùng
nóng ẩm, mạ dảnh to nên cấy thưa hơn mạ dảnh nhỏ, lúa gieo muộn nên cấy
dầy hơn so với lúa gieo sớm.
Nghiên cứu về khả năng đẻ nhánh S.Yoshida (1978) đã khẳng định:
Trong ruộng lúa cấy, khoảng cách thích hợp cho lúa đẻ nhánh khỏe và sớm
thay đổi từ 20 x 20 cm đến 30 x 30 cm. Theo ông việc đẻ nhánh chỉ xẩy ra
đến mật độ 300 cây/m
2
, nếu tăng số dảnh cấy lên nữa thì chỉ có những dảnh
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 25
chính cho bông. Năng suất hạt tăng lên khi mật độ cấy tăng lên 182 - 242
dảnh/m
2