ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
GIANG VŨ HOÀNG ANH
Tên đề tài:
“NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA LOẠI HOM, THỜI VỤ ĐẾN SỰ HÌNH
THÀNH CÂY HOM PHAY (Duabanga grandis flora Roxb.ex DC)
TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÁI NGUYÊN”
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo
: Chính quy
Chuyên nghành : Quản lý tài nguyên rừng
Khoa
: Lâm Nghiệp
Khóa học
: 2011 -2015
Giảng viên hướng dẫn : ThS. Lê Sỹ Hồng
Khoa Lâm Nghiệp - Trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên
Thái Nguyên, năm 2015
i
Xuất phát từ nguyện vọng của bản thân, được sự đồng ý của Ban chủ
nhiệm Khoa Lâm nghiệp, Ban giám hiệu trường Đại học Nông Lâm Thái
Nguyên, giáo viên hướng dẫn, tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng
của loại hom, thời vụ đến khả năng hình thành cây hom Phay (Duabanga
grandis flora Roxb.ex DC) tại trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên”
Trong quá trình thực tập được sự giúp đỡ, chỉ bảo, hướng dẫn tận tình
của các thầy cô trong khoa, cán bộ ở vườn ươm, đặc biệt thầy hướng dẫn ThS
Lê Sỹ Hồng là người trực tiếp hướng dẫn tôi thực hiện đề tài này, cùng với sự
nỗ lực, cố gắng của bản thân đã giúp tôi hoàn thành khóa luận này.
Cũng nhân dịp này cho phép tôi bày tỏ lòng biết ơn chân thành, sâu sắc tới
tất cả sự giúp đỡ đó.
Do điều kiện và thời gian có hạn, trình độ bản thân còn hạn chế nên khóa
luận không tránh khỏi những thiếu sót nhất định.Vì vậy tôi kính mong nhận
được sự góp ý của các thầy cô để khóa luận của tôi được hoàn thiện hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên,ngày 20 tháng 5 năm 2015
Sinh viên
Giang Vũ Hoàng Anh
iii
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Thời gian và tỷ lệ ra rễ của hom Phi lao......................................... 10
Bảng 2.2: Thí nghiệm với Bạch đàn trắng tại Đông Nam bộ cho kết quả ...... 10
Bảng 3.2: Bảng phân tích phương sai 1 nhân tố ANOVA .............................. 24
Bảng 4.1: Tỷ lệ sống của hom cây Phay ở các thời vụ giâm hom .................. 26
Bảng 4.2: Các chỉ tiêu ra rễ của hom cây Phay ở các thời vụ giâm hom ....... 27
v
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
CTTN
: Công thức thí nghiệm
CT
: Công thức
Tb
: Trung bình
IAA
: Axit Indol axetic
NAA
: Axit Naphtylaxetic
IPA
: Axit Indol propionicv
IBA
3.4.2. Phương pháp thu thập số liệu.......................................................... 20
3.4.3. Phương pháp xử lý số liệu .............................................................. 23
vii
3.4.4. Phương pháp khác........................................................................... 25
PHẦN 4: KẾT QỦA VÀ PHÂN TÍCH KẾT QUẢ .......................................................26
4.1. Kết quả về tỷ lệ sống, ra rễ, chồi của hom cây Phay ở các thời vụ giâm
hom............................................................................................................... 26
4.1.1. Kết quả về tỷ lệ sống của hom cây Phay ở các thời vụ giâm hom . 26
4.1.2. Kết quả vê khả năng ra rễ của hom cây Phay các thời vụ giâm hom
................................................................................................................... 27
4.1.3. Kết quả về tỷ lệ ra chồi của hom cây Phay ở thời vụ giâm hom .... 31
4.2. Kết quả về tỷ lệ sống, ra rễ, chồi của hom cây Phay ở các công thức về
loại hom giâm............................................................................................... 34
4.2.1. Tỷ lệ sống của hom cây Phay ở các công thức về loại hom giâm .. 34
4.2.2. Kết quả về chỉ tiêu ra rễ của hom cây Phay ở các loại hom giâm .. 36
4.2.3. Kết quả về tỷ lệ ra chồi của hom Phay ở các CTTN về loại hom
giâm........................................................................................................... 41
PHẦN 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ............................................................................45
5.1. Kết luận ................................................................................................. 45
5.2. Kiến nghị ............................................................................................... 46
TÀI LIỆU THAM KHẢO......................................................................................................47
1
PHẦN 1
MỞ ĐẦU
đặc tính sinh lý, sinh thái khác nhau, trong nhân giống cần các những kết quả
thử nghiệm làm cơ sở cho sản xuất đại trà. Xuất phát từ vấn đề trên, tôi thực
hiện đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng loại hom và thời vụ giâm hom đến khả
năng hình thành cây hom Phay (Duabanga granhis flora Roxb.ex DC) tại
trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên”.
1.2. Mục đích nghiên cứu
Đề tài góp phần tạo giống cây con của cây Phay cung cấp cho trồng
rừng lấy gỗ lớn, phòng hộ.
1.3. Mục tiêu nghiên cứu
Lựa chọn được thời vụ và loại hom giâm cho tỷ lệ ra rễ, chồi tốt nhất
trong nhân giống cây Phay bằng phương pháp giâm hom.
1.4. Ý nghĩa của đề tài
1.4.1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học
- Biết vận dụng những kiến thức lý thuyết vào thực tế
- Biết phương pháp nghiên cứu.
- Thực hiện được các khâu kỹ thuật trong nhân giống bằng hom
1.4.2. Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất
Kết quả nghiên cứu đề tài sẽ được vận dụng vào thực tế để sản xuất
giống cây Phay bằng phương pháp giâm hom.
3
PHẦN 2
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.1. Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu
Theo nghĩa rộng thì nhân giống sinh dưỡng bao gồm nhân giống bằng
hom, chiết cành, ghép cây, nuôi cấy mô phân sinh,….
Trong các biện pháp sinh sản vô tính, giâm hom là hình thức phổ biến
nhất và là một trong những công cụ có hiệu quả cho việc lưu giữ, bảo vệ và
Các tế bào lân cận của vùng tượng tầng mạch và libe gỗ bắt đầu hình
thành rễ bất định. Chính vì vậy việc giâm hom cành để hình thành bộ rễ mới
là quan trọng nhất, sau đó là số lượng rễ/hom và chiều dài rễ.
2.1.2. Cơ sở sinh lý của sự hình thành chồi và rễ bất định
Có rất nhiều nhân tố ảnh hưởng tới tỷ lệ ra rễ trong quá trình giâm hom,
về cơ bản có thể chia thành 2 nhóm là: Các nhân tố nội sinh và nhóm cá nhân
tố ngoại sinh [10].
* Các nhân tố nội sinh:
+ Đặc điểm di truyền loài:
Nhiều nghiên cứu cho thấy không phải tất cả các loài cây đều có khả
năng ra rễ như nhau. Do đặc điểm di truyền, biến dị, các xuất xứ và các cá thể
khác nhau cũng có khả năng ra rễ khác nhau.
Theo kết quả nghiên cứu của nhiều tác giả khác nhau (D.Akomixarop,
1964, B.matin,1974, Nauda,1977) đều đi đến kết luận là: Các loài khác nhau có
đặc điểm ra rễ khác nhau. Các tác giả này đã dựa vào khả năng ra rễ, (theo
Qujada,1985 và Nauda,1970) để chia ra các loại cây gỗ thành 3 nhóm:
- Nhóm dễ ra rễ, bao gồm: Các loại không cần xử lý bằng chất kích
thích ra rễ vẫn ra rễ với tỷ lệ cao, nhóm này gồm các loài như: Đa (Ficus
hoxb), Sung (F.glonerala) rất dễ ra rễ. Một số loài khác như Dương (Populus),
Liễu (Salix), Lõi thọ thuộc nhóm dễ ra rễ. Một số loại thuộc họ Bambusaccac
5
như tre, vầu, luồng được trồng bằng hom thân không cần xử lý chất kích thích
ra rễ.
- Nhóm ra rễ trung bình: bao gồm các loài chỉ cần xử lý bằng chất kích
thích ra rễ với nồng độ thấp cũng có thể ra rễ với tỷ lệ cao. Nhóm này gồm
các loài như Bạch đàn (E camaldunensis, E.Deglupta, E.Teretcomis), Thông
(Pinusssco carpa, P.patula, P.caribe ….)
Xuất phát từ nguyện vọng của bản thân, được sự đồng ý của Ban chủ
nhiệm Khoa Lâm nghiệp, Ban giám hiệu trường Đại học Nông Lâm Thái
Nguyên, giáo viên hướng dẫn, tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng
của loại hom, thời vụ đến khả năng hình thành cây hom Phay (Duabanga
grandis flora Roxb.ex DC) tại trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên”
Trong quá trình thực tập được sự giúp đỡ, chỉ bảo, hướng dẫn tận tình
của các thầy cô trong khoa, cán bộ ở vườn ươm, đặc biệt thầy hướng dẫn ThS
Lê Sỹ Hồng là người trực tiếp hướng dẫn tôi thực hiện đề tài này, cùng với sự
nỗ lực, cố gắng của bản thân đã giúp tôi hoàn thành khóa luận này.
Cũng nhân dịp này cho phép tôi bày tỏ lòng biết ơn chân thành, sâu sắc tới
tất cả sự giúp đỡ đó.
Do điều kiện và thời gian có hạn, trình độ bản thân còn hạn chế nên khóa
luận không tránh khỏi những thiếu sót nhất định.Vì vậy tôi kính mong nhận
được sự góp ý của các thầy cô để khóa luận của tôi được hoàn thiện hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên,ngày 20 tháng 5 năm 2015
Sinh viên
Giang Vũ Hoàng Anh
7
Thường hom chồi ở phần gần gốc của một cây dễ ra rễ hơn ở phần
ngọn. Theo Hartney (1980) có thể do 2 lý do:
- Gốc của cây con là nơi tích tụ các chất cần cho ra rễ.
- Tồn tại 1 sự chênh lệch về các chất kích thích và ức chế sự ra rễ ở các
phần khác nhau của cây.
- Theo thuyết phát triển giai đoạn thì gốc là phần non nhất của một cây
vì vậy lấy hom ở phần này cho tỷ lệ ra rễ cao nhất.
tuổi cho tỷ lệ ra rễ từ 75-80%. Điều này cho phép sử dụng chồi ở các cây trội
để nhân giống phục vụ công tác trồng rừng.
- Các chất điều hòa sinh trưởng:
Auxin được coi là chất quan trọng nhất đối với quá trình ra rễ của hom.
Ngoài ra, nhiều chất khác tác động cùng Auxin và thay đổi hoạt tính của
Auxin, cũng tồn tại 1 cách tự nhiên trong các mô của hom giâm và tác động
đến quá trình ra rễ của hom giâm. Những chất quan trọng nhất là Zhizocalin,
đồng nhân tố ra rễ, kích thích ra rễ và chất kìm hãm ra rễ (Teweli-1993).
Chất đặc biệt Zhizocalin được coi là cần thiết cho sự hình thành rễ của
cây. Theo Hess (1961) cho rằng: một số chất nội sinh điều phối hoạt tính của
IAA gây nên khởi động ra rễ gọi là đồng nhân tố ra rễ (Rootingco-factons).
Một số chất loại này được xác định là axít Chorogennic, axít Isochlogenic.
Nhiều công trình nghiên cứu đã nêu lên sự tồn tại của chất kích thích ra
rễ trong các loài cây dễ ra rễ như Sesquite peniclacton được chiết tách từ
Hướng dương là chất kích thích ra rễ cho Đậu xanh. Một số tác giả còn nêu
lên sự tồn tại của chất kìm hãm ra rễ như: Xanthoxin, Axít abscosis (ABA)
được chiết tách từ hom khó ra rễ. Các chất kích thích và kìm hãm ra rễ của
hom giâm được xác định bằng nồng độ tương đối của các chất này. Các loài
cây dễ ra rễ chứa các chất kích thích ra rễ với nồng độ thấp, còn các loài cây
khó ra rễ chứa các chất kìm hãm ra rễ với nồng độ cao.
9
Nghiên cứu của Tures Kaia (1975) cho hom của loài cây dễ ra rễ như
Anh đào (Serassus, SP), Nho (Vitis Vine feru) đã chỉ ra rằng: Quá trình ra rễ
thì hoạt tính của các chất kìm hãm ra rễ giảm xuống rất nhanh, còn các chất
kích thích được xuất hiện và sử dụng.
*Nhóm nhân tố môi trường:
Nhóm nhân tố môi trường có tác dụng tổng hợp ảnh hưởng tới quá trình
Tỷ lệ ra rễ
Tháng 11/1991
35
63,6%
Tháng 01/1992
57
65,5%
Tháng 3/1992
27
92%
Bảng 2.2: Thí nghiệm với Bạch đàn trắng tại Đông Nam bộ cho kết quả
Thời gian giâm hom
Tỷ lệ ra rễ %
Thời gian giâm hom
Tỷ lệ ra
rễ %
14,8
Như vậy, với Bạch đàn ở Đông Nam bộ thời kỳ giâm hom thích hợp từ
tháng 5 đến tháng 7. Nhìn chung trong điều kiện khí hậu Việt Nam thời kỳ giâm
hom thích hợp là các tháng xuân, hè, thu [2].
+ Nhiệt độ không khí và giá thể hom:
Nhiệt độ không khí là 1 yếu tố quyết định đến tốc độ hình thành rễ của
hom. Nhìn chung nhiệt độ thích hợp cho nhiều loài cây từ 25-30oC, ở nhiệt độ
đất, các chất vô cơ như Vani calete (hợp chất chứa Mica) peclite (đá chân
trâu) dung nhan phun thạch núi lửa … Nếu chỉ giâm để cây hom ra rễ mới
13
giâm vào bầu thì giá thể thường là cát thô, còn khi giâm hom trực tiếp vào bầu
thì giá thể thường là mùn cưa để mục, sơ dừa băm nhỏ đặt ở vườn ươm.
Những nghiên cứu về ảnh hưởng của giá thể giâm hom Bạch đàn trắng
trong các ruột bầu khác nhau, tại Đông Nam bộ của Lê Đình Khả, Trần Cự,
Đoàn Thị Bích cho thấy:
- Nếu ruột bầu là 50% cát vàng + 50% sơ dừa thì tỷ lệ ra rễ của hom là
74,1%
- Nếu ruột bầu là 50% cát vàng + 50% than trấu thì tỷ lệ ra rễ của hom là 72,1%.
- Nếu ruột bầu là 50% sơ dừa + 50% than trấu thì tỷ lệ ra rễ của hom là
69,3%.
- Nếu ruột bầu là 100% cát vàng thì tỷ lệ ra rễ của hom là 67,3%.
- Nếu ruột bầu là 100% sơ dừa thì tỷ lệ ra rễ của hom là 48,3%
- Nếu ruột bầu là than trấu thì tỷ lệ ra rễ của hom là 62,5%.[2].
Như vậy trong cùng 1 loài cây, các điều kiện như nhau nhưng giá thể
khác nhau cũng cho tỷ lệ ra rễ khác nhau.
* Ảnh hưởng của chất kích thích ra rễ:
+ Các chất điều hòa sinh trưởng có vai trò quan trọng trong quá trình
hình thành rễ của hom giâm. Trong đó Auxin được sử dụng nhiều nhất, các
Auxin được chia làm 2 nhóm là Auxin tự nhiên và Auxin tổng hợp.
- Auxin tự nhiên được biết đến như: Axit Indol axete (IAA).
- Các Auxin tổng hợp như là: Axit indol butylic (IBA), Axit indol
propionicv (IPA) và Axit napthalen axetic (NAA), các chất được dùng chủ
yếu hiện nay là thích ứng với 1 loại chất kích thích, nồng độ chất kích thích,
thời gian xử lý thuốc và phương pháp xử lý hom cũng khác nhau.
như mong muốn.
2.2. Những nghiên cứu trên thế giới
Trong Lâm nghiệp, nhân giống sinh dưỡng cho cây rừng đã được sử
dụng trên 100năm nay. Ngay từ 1840, Marrier de Boisdyver (người Pháp) đã
15
ghép 10000 cây Thông Đen. Năm 1883, Velinski A.H công bố công trình
nhân giống một số loài cây lá kim và cây lá rộng thường xanh bằng hom.Ở
Pháp năm 1969, Trung tâm Lâm nghiệp nhiệt đới bắt đầu chương trình nhân
giống cho Bạch đàn, năm 1973 mới có 1ha rừng trồng bằng cây hom, đến
1986 có khoảng 24000ha rừng trồng bằng cây hom, các rừng này đạt tăng
trưởng bình quân 35m3/ha/năm [12].
Theo tài liệu của Trung tâm Giống cây rừng Asean - Canada (gọi tắt là
ACFTSC), những năm gần đây, nghiên cứu và sản xuất cây hom được tiến
hành ở các nước Đông Nam Á.
Ở Thái Lan, Trung tâm Giống cây rừng Asean - Canada đã có những
nghiên cứu nhân giống bằng hom từ năm 1988, nhân giống với các hệ thống
phun sương mù tự động không liên tục được xây dựng tại các chi nhánh vườn
ươm của Trung tâm, đã thu được nhiều kết quả đối với các loài cây họ Dầu,
với 1 ha vườn giống Sao đen 5 tuổi có thể sản xuất 200.000 cây hom, đủ trồng
455 đến 500 ha rừng.
Ở Malaysia, nhân giống sinh dưỡng các loại cây họ Sao dầu bắt đầu từ
những năm 1970, hầu hết các nghiên cứu được tiến hành ở Viện nghiên cứu
Lâm nghiệp Malaysia, ở trường Đại học Tổng hợp Pertanian, Trung tâm
nghiên cứu Lâm nghiệp ở Sepilok, cũng đã báo cáo các công trình có giá trị
về nhân giông sinh dưỡng cây họ Dầu. Tuy nhiên, tỷ lệ ra rễ của các cây họ
Dầu còn chưa cao, sau khi thay đổi các phương tiện nhân giống như: các biện
pháp vệ sinh tốt hơn, che bóng hiệu quả hơn, phun xương mù, kỹ thuật trẻ hóa
17
Thảo luận, từ những kết quả nghiên cứu trong và ngoài nước đã nêu, tại
Việt Nam chưa có công bố nào về nhân giống bằng hom cho cây Phay. Vì vậy
tôi đã tiến hành đề tài:“Nghiên cứu ảnh hưởng của giá thể và thuốc kích thích
ra rễ IBA đến khả năng hình thành cây hom Phay (Duabanga grandis flora
Roxb.ex DC) tại Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên".
2.4. Đặc điểm chung của Phay [13]
Tên khoa học: Duabanga grandis flora Roxb.ex DC
Họ: Bần (Sonneratiaceae)
Cây gỗ thuộc nhóm VI
Mô tả nhận dạng: Cây gỗ lớn, cao 30m, đường kính tới 130cm, gốc
cây có bạnh vè nhỏ. Thân thẳng, tròn, chiều cao dưới cành 10 - 15 m.
Vỏ nhẵn màu xám hồng hay xám trắng. Cành phân ngang, đầu cành rủ
xuống, cành non có cạnh.
Lá đơn mọc đối có lá kèm. Lá hình trái xoan thuỗn đầu lá tù, đuôi lá
tròn hay hình tim, mép lá gợn sóng, khi non có màu hồng nhạt, dài 12-17cm,
rộng 5-10cm. Gân bên 10-14 đôi gần song song, nổi rõ ở mặt sau lá. Lá kèm
nhỏ hình tam giác dài sớm rụng để lại vết sẹo rõ. Cuống lá ngắn 0,5cm.
Hoa tự xim viên chuỳ mọc ở đầu cành. Hoa lưỡng tính, cánh đài 4-7
hợp ở gốc, cánh tràng 4-7 màu trắngvàng, nhị đực nhiều, chỉ nhị cong. Bầu
trung 6-8 lá noãn hợp 6-8 ô, mỗi ô nhiều noãn, vòi nhuỵ dài.
Quả nang hình cầu bẹt, chẻ ô, hạt hình que hai đầu có đuôi nhọn.
Công dụng: Được sử dụng nhiều trong các công trình tạm, hoặc
đóng đồ đạc thông thường.
2.5. Tổng quan khu vực nghiên cứu
Địa điểm nghiên cứu đề tài tại Trung tâm nghiên cứu Lâm nghiệp vùng
núi phía Bắc-Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên.