Nghiên cứu ảnh hưởng của một số yếu tố đến khả năng tạo mô sẹo và tiếp nhận gen gus của một số giống lúa thông qua vi khuẩn agrobacterium tumerfaciens - Pdf 29


ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
LÂM THỊ MẠNH Tên đề tài:

NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ YẾU TỐ
ĐẾN KHẢ NĂNG TẠO MÔ SẸO VÀ TIẾP NHẬN GEN GUS
CỦA MỘT SỐ GIỐNG LÚA THÔNG QUA VI KHUẨN
AGROBACTERIUM TUMERFACIENS”

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy
Chuyên ngành : Công nghệ sinh học
Khoa : CNSH - CNTP
Lớp : 42 - CNSH
Khoá học : 2010 – 2014
Giáo viên hướng dẫn : 1. PGS.TS. Ngô Xuân Bình
2.ThS. Lương Thị Thu Hường
Khoa CNSH & CNTP Trường ĐH Nông Lâm Thái Nguyên

Lâm Thị Mạnh
MỤC LỤC

Phần 1: MỞ ĐẦU 1
1.1. Đặt vấn đề 1
1.2. Mục đích nghiên cứu 2
1.3. Yêu cầu 2
1.4. Ý nghĩa của đề tài 2
Phần 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1. Tổng quan về cây lúa 3
2.1.1. Nguồn gốc cây lúa 3
2.1.2. Phân loại cây lúa 3
2.1.3. Sinh thái học của cây lúa 4
2.1.4. Giá trị cây lúa 6
2.2. Vi khuẩn Agrobacterium tumerfaciens và cơ chế chuyển gen vào thực vật 6
2.2.1. Đặc điểm chung về vi khuẩn Agrobacterium tumerfaciens 6
2.2.2. Cấu trúc và chức năng của Ti-plasmid và T-DNA 7
2.2.3. Cơ chế biến nạp gen thông qua vi khuẩn A.tumerfaciens vào thực vật 9
2.3. Hệ thống gen chỉ thị sử dụng để biến nạp vào tế bào thực vật thông qua vi
khuẩn A. tumefaciens được sử dụng trong nghiên cứu 10
2.3.1. Gen gus 10
2.3.2. Gen bar 10
2.4. Một số phương pháp biến nạp gen ở lúa 11
2.4.1. Phương pháp vi tiêm 11
2.4.2. Chuyển gen bằng xung điện 11
2.4.3. Chuyển gen qua ống phấn (pollen tube) 11
2.4.4. Chuyển gen bằng súng bắn gen 12
2.5. Tình hình sản xuất lúa gạo trên thế giới và Việt Nam 12
2.5.1. Trên thế giới 12
2.5.2. Ở Việt Nam 13

5.2. Đề nghị 36
TÀI LIỆU THAM KHẢO 37
DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT

As :

Acetosyringone (3,5-dimethoxy-4-hydrroxy Acetophenone)
A. tumefaciens :

Agrobacterium tumefaciens
BAP :

6- Benzyl Amino Purine
CCM :

Co-Cultivation Medium
CMV :

Cucumber Mosaic Virus
Cs :

Cộng sự
CT :

Công thức
CV :


Tumor Including Plasmid
TB :

Thái Bình
X-gluc :

5-Bromo-4-Chloro-3-Indolyl-β-D-Glucuronidase Acid
2,4D 2,4-Dichlorophenoxyacetic acid

DANH MỤC CÁC BẢNG Bảng 2.1. Một số loài lúa Oryza, nhiễm sắc thể, và sự phân bố 4
Bảng 2.2. Đặc điểm sinh thái của một số bộ phận cấu tạo cây lúa 5
Bảng 2.3 . Diện tích, năng suất và sản lượng lúa trên thế giới qua các năm 13
Bảng 2.4. Diện tích, năng suất và sản lượng lúa của Việt nam qua các năm 13
Bảng 4.1: Ảnh hưởng của môi trường đến khả năng tạo mô sẹo của một số
giống lúa 22
Bảng 4.2: Ảnh hưởng của nồng độ 2,4D đến khả năng tạo mô sẹo của một số
giống lúa 25
Bảng 4.3: Ảnh hưởng của nồng độ 2,4D kết hợp kinetin đến khả năng tạo mô
sẹo của một số giống lúa 27
Bảng 4.4: Ảnh hưởng của tuổi mô sẹo đến khả năng tiếp nhận gen gus của
một số giống lúa 30
Bảng 4.5: Ảnh hưởng của nồng độ AS đến khả năng tiếp nhận gen gus của
một số giống lúa 33
DANH MỤC CÁC HÌNH Hình 2.1. Vi khuẩn A. tumefaciens 6

phần ăn do trong lúa gạo có hàm lượng tinh bột cao, giàu protein và các acid amin
thiết yếu như Lysine, Threonine, Methionine, Tryptophan. Vì vậy lúa gạo đóng vai
trò to lớn trong đảm bảo an ninh lương thực toàn cầu. Bên cạnh đó, lúa còn là mặt
hàng xuất khẩu quan trọng của nhiều nước trên thế giới, trong đó bao gồm cả Việt
Nam và có tiềm năng rất lớn trong các ngành công nghiệp sản xuất thức ăn chăn
nuôi, sản xuất rượu cồn và ngành thương mại [11]. Với những giá trị đó, lúa được
trồng ở nhiều quốc gia trên trế giới như Thái Lan, Việt Nam, Trung Quốc, Ấn
Độ,…Năm 2011, FAO thống kê sản lượng lúa trên thế giới đạt đến 721 triệu tấn
(tương đương 481 triện tấn gạo), tăng lên 3% hay 24 triệu tấn so với 2010 [1]. Ở
Việt Nam, sản lượng lúa cả năm 2012 đạt 43,7 triệu tấn, tăng 1,3 triệu tấn so với
năm trước do diện tích và năng suất đều tăng, trong đó diện tích gieo trồng đạt
7753,2 nghìn ha, tăng 97,8 nghìn ha; năng suất đạt 56,3 tạ/ha, tăng 0,9 tạ/ha [15].
Tuy nhiên, năng suất và chất lượng lúa gạo phụ thuộc rất nhiều yếu tố như khí
hậu, thời tiết, đặc điểm thổ nhưỡng, giống và đặc biệt là yếu tố sâu bệnh hại đã gây
thiệt hại nghiêm trọng. Để đáp ứng nhu cầu lương thực ngày càng tăng và hạn chế
các tác nhân làm giảm năng suất và chất lượng lúa gạo, hiện nay xu hướng sử dụng
các giống lúa biến đổi gen đang được các nhà nghiên cứu khoa học đặc biệt quan
tâm. Một số các nhà nghiên cứu cũng đã thành công trong tạo giống lúa biến đổi
gen như:
- Daisuke Tokuhara và cs đã tạo ra giống lúa chuyển gen MucoRice-ARP1có
khả năng cung cấp kháng thể chống Rotavirus [29].
- Nhóm nghiên cứu tại Viện Di truyền Nông nghiệp đã chuyển gen thành công
vào giống lúa IR64 [13].
- Phan Tố Phượng và cộng sự đã thành công trong việc chuyển gen Xa21
kháng bệnh bạc lá vào cây lúa thông qua A.tumerfaciens [17].
2
Trên thực tế hiệu quả chuyển gen ở lúa còn gặp nhiều hạn chế: tỷ lệ tạo mô

dụng công nghệ chuyển gen cho các giống lúa và các loài cây trồng khác.
3
Phần 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1. Tổng quan về cây lúa
2.1.1. Nguồn gốc cây lúa
Theo kết quả nghiên cứu của các nhà khảo cổ học, lúa có nguồn gốc từ vùng
Đông Nam Á và Đông Dương, những nơi có nhiều di tích phổ biến của cây lúa phát
triển khoảng 10.000 năm trước Công Nguyên. Các giống lúa Indica được trồng ở
vùng nhiệt đới Đông Nam Á, các giống Japonica được trồng phổ biến ở vùng
Trung và Nam Trung Quốc, Triều Tiên, Nhật Bản, Đài Loan có điều kiện khí hậu
lạnh hơn [11].
2.1.2. Phân loại cây lúa
- Về mặt phân loại thực vật, cây lúa thuộc họ Poacae (hòa thảo), chi Oryza.
Oryza có khoảng 20 loài phân bố chủ yếu ở vùng nhiệt đới ẩm của Châu Phi, Nam
và Đông Nam Châu Á, Nam Trung Quốc, Nam và Trung Mỹ và một phần ở Châu
Úc [12]. Loài lúa trồng quan trọng nhất, thích nghi rộng rãi và chiếm đại bộ phận
diện tích lúa thế giới là Oryza sativa L. Loài lúa này có mặt ở khắp nơi như vùng
đầm lầy, sườn núi, vùng nước ngọt, nước mặn, vùng xích đạo,và cả vùng nhiệt và
ôn đới. Loài Oryza glaberrima Steud., chỉ được trồng giới hạn ở một số quốc gia
Tây Phi Châu và hiện đang bị thay thế dần bởi Oryza sativa L. [15].
Chi Oryza có 23 loài, có 3 loài phụ là Indica, Japonica và Javanica [11].
Lúa Indica thường trồng ở khí hậu nhiệt đới và cận nhiệt đới có thân
cao, dễ đổ ngã, nhiều nhánh, lá xanh nhạt, cong và kháng được nhiều sâu bệnh. Hạt
gạo dài và trung bình, chứa nhiều tinh bột nhưng năng suất kém hơn Japinica.
Lúa Japonica thường được trồng ở những vùng ôn đới hoặc nơi có độ cao trên

Châu Phi
Trung và Nam Mỹ
O. latifolia Desv. 24 Châu Úc, Trung và Nam Mỹ
O. longiglumis Jansen 48
Đông Nam Á, Nam Trung
Quốc, New Guinea
Nguồn: Nguyễn Ngọc Đệ,2008[11].
2.1.3. Sinh thái học của cây lúa
Các giống lúa có những đặc điểm như chiều cao, thời gian sinh trưởng (dài
hay ngắn), chịu thâm canh, chịu chua mặn, chống chịu sâu bệnh khác nhau. Song
cây lúa đều có những đặc tính chung về hình thái, giải phẫu và đều có chung các bộ
phận rễ, thân, lá bông và hạt. Mỗi bộ phận đều có đặc điểm sinh thái phù hợp với
các chức năng nhất định [15].
5
Bảng 2.2. Đặc điểm sinh thái của một số bộ phận cấu tạo cây lúa
Bộ phận Đặc điểm sinh thái
Thân
Lúa thuộc loại thân thảo. Ở thời kì mạ và giai đoạn lúa non thân
lúa do các bẹ lá tạo thành. Sau khi làm đốt, thân lúa do các lóng và
đốt tạo thành. Chỉ vài lóng ở ngọn dài ra, số còn lại ngắn và dày đặc.

Lá lúa điển hình gồm: bẹ lá, phiến lá, lá thìa và tai lá. Lá được
hình thành từ các mầm lá ở mắt thân. Tốc độ ra lá thay đổi theo thời
gian sinh trưởng và điều kiện ngoại cảnh. Lá mầm mọc ra trong quá
trình ngâm ngủ và thời kì đầu khi gieo mạ. Lá thật mọc trong quá
trình sinh trưởng và tồn tại trong suốt quá trình sinh trưởng của lúa.
Rễ

Methionine, Tryptophan… có cao hơn lúa mì [11].
- Về giá trị sử dụng: Ngoài làm nguồn lương thực chính, gạo còn dùng để chế
biến nhiều loại bánh, sản xuất rượu, cồn, thức ăn chăn nuôi… Cám là các lớp vỏ
ngoài của hạt gạo do chứa nhiều protein, chất béo, chất khoáng, vitamin, nhất là
vitamin nhóm B, nên được dùng làm bột dinh dưỡng trẻ em và điều trị người bị
bệnh phù thũng và là thành phần cơ bản trong thức ăn gia súc, gia cầm,…Trấu
ngoài công dụng làm chất đốt, chất độn chuồng còn dùng làm ván ép, vật liệu cách
nhiệt, cách âm, chế tạo carbon và silic….[11].
- Về mặt giá trị thương mại: Trên thị trường thế giới, giá gạo xuất khẩu tính
trên đơn vị trọng lượng cao hơn rất nhiều so với các loại hạt ngũ cốc khác. Nói
chung, giá gạo xuất khẩu cao hơn lúa mì từ 2 – 3 lần và hơn ngô 4 lần [11].
2.2. Vi khuẩn Agrobacterium tumerfaciens và cơ chế chuyển gen vào thực vật
2.2.1. Đặc điểm chung về vi khuẩn Agrobacterium tumerfaciens

Hình 2.1. Vi khuẩn A. tumefaciens
7
A.tumefaciens là loài vi khuẩn đất, có dạng hình gậy, kích thước 2,5-3,0 x 0,7-
0,8µm, dạng đơn bào, không tạo ra bào tử, có vỏ và lông roi, là vi khuẩn hiếu khí,
nhuộm màu gram âm (-), khuẩn lạc tròn và rìa nhẵn. A.tumefaciens là loài vi khuẩn
gây ra bệnh khối u hình chóp ở các vị trí tổn thương của thực vật hai lá mầm. Chỉ
rất ít thực vật một lá mầm thuộc họ Liliaceae và Amaryllidaceae là dễ bị bệnh khối
u hình chóp [2].

Hình 2.2. Sơ đồ cấu trúc tế bào vi khuẩn Agrobacterium tumefaciens
2.2.2. Cấu trúc và chức năng của Ti-plasmid và T-DNA
- Ti-plasmid


một đoạn liên tục dài 22 kb. Trong khi ở Ti-plasmid dạng octopine, T-DNA là một
đoạn gen liên tục dài 13 kb. T-DNA mang rất nhiều gen như: (1) Các gen mã hoá
những enzyme cần thiết cho quá trình sinh tổng hợp opine; (2) Các gen gây khối u
như tms1, tms2, tmr mã hoá cho các enzyme liên quan đến quá trình sinh tổng hợp
auxin và cytokinine. Trong các vùng DNA của Ti-plasmid, ngoài T-DNA vùng
được nghiên cứu nhiều hơn cả là vùng DNA phụ trách khả năng lây nhiễm còn gọi
là vùng vir. Sản phẩm hoạt động của các gen nằm trong vùng vir là một loạt các
protein đặc hiệu như virE
2
, virB, virD, virD
2
[31].

9

Hình 2.4. Cấu trúc T-DNA

2.2.3. Cơ chế biến nạp gen thông qua vi khuẩn A.tumerfaciens vào thực vật
Các tế bào cây khi bị tổn thương sẽ tiết ra các hợp chất hoá học dẫn dụ vi
khuẩn như: acetosyringon (As), alpha hydroxy-acetosyringon Dưới tác dụng của các
hợp chất này, A. tumefaciens nhận biết rồi bám vào thành tế bào chủ và chuyển T-
DNA vào tế bào thực vật. Quá trình này được sự trợ giúp đặc biệt của các gen vir và
RB, LB. Cũng chính các hợp chất này, với vai trò cảm ứng, giúp cho các gen vùng
vir hoạt động và tăng cường biểu hiện [20]. Sự tiếp xúc của A.tumerfaciens với các
hợp chất giải phóng từ mô thực vật bị tổn thương đã làm cho vùng vir của Ti-
plasmid được hoạt hóa và phiên mã.


X-Gluc không màu thành màu xanh lam dưới tác dụng xúc tác của β-Glucuronidase
(gus) [10].
Gen gusA lần đầu tiên được phân lập từ E. coli. β-glucuronidase thường được
sử dụng để làm chỉ thị chọn lọc để nhận biết cây chuyển gen bởi ưu điểm dễ nhận biết
thông qua nhuộm màu, phản ứng có độ nhạy và độ ổn định cao. Hoạt tính gus trong tế
bào, dịch chiết, cặn tế bào còn có thể định lượng được thông qua phản ứng xúc tác cơ
chất huỳnh quang MUG (4-methylumbelliferyl β-D-Glucuronide) và đo bằng RE-
Mini 150 Fluometer (Schimadzu; Columbia) với chất chuẩn là MU (4-
methylumbelliferone, Sigma) ở bước sóng 360 và 460 nm. [42].
2.3.2. Gen bar
Gen bar được tạo dòng đầu tiên từ dòng vi khuẩn Streptomyses hygroscopicus,
là tên gọi của gen mã hóa cho enzyme phosphinothricin acetyltransferase (PAT), có
tác dụng làm mất độc tính của phosphinothricin (PPT) là hoạt chất chính của thuốc
trừ cỏ như Bialaphos, Finale, Buster, Harvest và Basta. Glufosinate là hợp chất tự
nhiên được phân lập từ 2 loài nấm Streptomyces, ức chế hoạt tính của enzyme tổng
11
hợp glutamin, enzyme cần thiết cho sự tạo thành glutamin và độc tính ammonia.
Việc sử dụng glufosinate dẫn đến làm giảm hàm lượng glutamin và làm tăng
ammonia trong mô thực vật. Điều này làm cho quá trình quang hợp ngừng và cây
chết sau này [14].

2.4. Một số phương pháp biến nạp gen ở lúa
Ngoài phương pháp biến nạp gen gián tiếp thông qua vi khuẩn A. tumefaciens,
các phương pháp biến nạp gen trực tiếp cũng đã được ứng dụng nhiều trong chuyển
gen vào lúa, cụ thể:
2.4.1. Phương pháp vi tiêm
Các nhà nghiên cứu sử dụng kim vi tiêm và kính hiển vi để tiêm một lượng

(1991) và được cải tiến bởi Cao và cs, (1992) [21]; Li và cs, (1993) [49]. Sau đó kỹ
thuật này đã được áp dụng rộng rãi ở các phòng thí nghiệm chuyển gen lúa
Japonica. Cheng và cs (1998) đã có những cải tiến rất có ý nghĩa trong việc chuyển
nhiều gen vào lua Japonica sử dụng súng bắn gen [25]. khi sử dụng súng bắn gen
tạo áp lực đẩy viên đạn được làm bằng kim loại đã được bọc plasmid mang gen
thiết kế, có kích thước khoảng 1µm, với vận tốc 130m/s, xuyên qua các lớp tế bào
biểu bì, đi vào tế bào bên trong và gen sẽ được biểu hiện ở đó khi hợp nhất với bộ
gen của tế bào chủ. Hiệu quả chuyển gen lúa thông qua phương pháp này cũng khá
cao [6].
2.5. Tình hình sản xuất lúa gạo trên thế giới và Việt Nam
2.5.1. Trên thế giới
Theo FAO, sản lượng lúa thế giới năm 2011 đạt 724 triệu tấn (tương đương
480 triệu tấn gạo) so với 703 triệu năm 2010, tăng 3%. Sản lượng tăng cao do mở
rộng diện tích canh tác lên đến 163,6 triệu ha, chủ yếu diễn ra ở các nước châu Á,
đặc biệt là Trung Quốc, Ấn Độ và Indonesia. Tại châu Á sản lượng lúa đạt 653 triệu
tấn, tăng 10% so với năm 2010. Tại châu Phi sản lượng cũng đạt 25,5 triệu tấn, tăng
1% so với năm 2010 do được mùa ở Ai Cập, Guinea, Nigeria a Sierra Leone.
Nhưng mất mùa cũng diễn ra ở Mali và Madagascar. Châu Mỹ La-tinh và vịnh
Caribea cũng tăng sản lượng ở các nước ngoại trừ Ecuador và Peru và một số châu
lục khác như Úc, Nga và Mỹ.
Năng suất lúa cao nhất đạt 204,285 triệu tấn tại Trung Quốc, Ấn Độ đạt 152,6
triệu tấn (FAO, 2012). Trong đó sản lượng lúa Châu Á đạt 651,58 triệu tấn, tổng sản
lượng trên thế giới năm 2005 đạt 632,176 triệu tấn tăng lên 703,154 triệu tấn năm 2010
và đạt 719,738 triệu tấn vào năm 2012 (FAO, 2014).
13
Bảng 2.3 . Diện tích, năng suất và sản lượng lúa trên thế giới qua các năm
Năm

2009 7,44 5,23 38,95
2010 7,49 5,34 40,01
2011 7,66 5,53 42,40
2012 7,75 5,63 43,66
Nguồn: FAO, 2014
Việt Nam có khoảng 9,3 triệu ha đất nông nghiệp, phần lớn diện tích đất dành
cho trồng lúa là chính khoảng 4,3 triệu ha (chiếm khoảng 46% diện tích đất nông
nghiệp). Năm 2009, diện tích canh tác lúa là 7,44 triệu ha, năm 2011 tăng thêm 0,21
triệu ha (7,66 triệu ha). Theo số liệu tính đến tháng 11/2012 cả nước đã gieo trồng
được 7 triệu ha lúa. Năng suất lúa bình quân 4,2 tấn/ha vào năm 2000 đã tăng lên 5,3
14
tấn/ha vào năm 2010. Năm 2012 theo số liệu tính năng suất đạt mức cao nhất từ trước
đến nay là 5,6 tấn/ha [4].
Sản lượng lúa gạo Việt Nam đạt với tới 32,9 triệu tấn 2002 và lượng gạo xuất
khẩu hàng năm khoảng 3,5 triệu tấn gạo. Năm 2009, lần đầu tiên Việt Nam đạt 6,05
triệu tấn gạo xuất khẩu. Sản lượng xuất khẩu cũng tăng liên tiếp trong năm 2010
(6,75 triệu tấn) và năm 2011 (7,10 triệu tấn). Sản lượng gạo xuất khẩu của Việt
Nam đã cung cấp lương thực cho 120 nước trên toàn thế giới [4].
2.6. Tình hình nghiên cứu chuyển gen vào lúa ở thế giới và Việt Nam
2.6.1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Theo thông báo tóm tắt của ISAAA, năm 1995, diện tích gieo trồng cây chuyển
gen đầu tiên là 0,5 triệu ha, tăng lên 67 triệu ha năm 2003 và có gần 100 triệu ha cây
trồng chuyển gen được trồng trên phạm vi toàn cầu vào năm 2005. Trong giai đoạn
1986 – 1997 trên toàn cầu có tới 25,000 thử nghiệm trên đồng ruộng đối với các cây
biến đổi di truyền với trên 60 loại cây trồng khác nhau [10].
Ở Philippine lúa là cây trồng chuyển gen đầu tiên được chính thức cho phép
thương mại hóa vào năm 2002. Trong năm 2004, Nam Phi đã trồng 84.000 ha lúa

CNSH đã thực hiện đề tài cấp Nhà nước đó là : “ Chuyển gen Xa21 kháng bệnh bạc
lá ở lúa“[15]. Giai đoạn 2001 – 2005, Viện CNSH thực hiện đề tài KC,04,13 :
“ Nghiên cứu áp dụng công nghệ gen để tạo cây chuyển gen nâng cao sức chống chịu
sâu bệnh và ngoại cảnh bất lợi”

[9]

. Theo đó, Nhóm nghiên cứu tại Viện Di truyền
Nông nghiệp đã chuyển gen thành công vào giống lúa IR64 [13]. Phan Tố Phượng
và cộng sự đã thành công trong việc chuyển gen Xa21 kháng bệnh bạc lá vào cây
lúa thông qua A.tumerfaciens [17].
16
Nos ployA

LacZ
35S
gus
35S
bar
LB

RB

Phần 3
17
đoạn Intron Catalase, đoạn kết thúc chuỗi là NOS polyA, vị trí đa điểm là pUC18-
lacZa, dưới sự điều khiển của promoter CaMV35S (Cauliflower Mosaic Virus) và
được quy định bởi trình tự CaMV35S polyA. Chủng vi khuẩn Agrobacterium được sử
dụng là chủng EHA105 [53].
3.2. Địa điểm, thời gian và phạm vi nghiên cứu
- Địa điểm: Phòng thí nghiệm khoa Công nghệ Sinh học và Công nghệ Thực
phẩm, trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên.
- Thời gian: Từ 12/2013 - 06/2014
- Phạm vi nghiên cứu: Đánh giá khả năng tiếp nhận gen gus của các giống lúa
U17, Syn6, Khang Dân ở quy mô phòng thí nghiệm.
3.3. Hóa chất và thiết bị
3.3.1. Hóa chất
- Các muối đa lượng, vi lượng, vitamin là thành phần của môi trường MS
(Murashige & Skoog, 1962); các chất kích thích sinh trưởng: BAP (Duchefa), IAA
(Trung quốc), GA3 (Duchefa), IBA (Duchefa), NAA (Trung quốc), Acetoseringone
(Sigma), L-pyroglutamic (Duchefa), L-asparagine (Duchefa),
- Kháng sinh: Rifamycin, spectomycin, cefotaxim, vancomycin, ticarcillin,
- Hóa chất khác: Yeast tract, pepton, NaCl, agarose, sucrose,
3.3.2. Thiết bị
Các thiết bị thí nghiệm chính dùng cho nghiên cứu bao gồm: Cân điện tử
(Olhous- Vietlabcu) (Mỹ), nồi hấp khử trùng ALP (Nhật Bản), tủ sấy Memmert
(Đức), tủ cấy vô trùng cấp II Airtech (Hàn Quốc), máy chuẩn pH Hanna HI2210
(Đức), tủ nuôi lắc LSI (Hàn Quốc), lò vi sóng Sanyo (Nhật Bản), tủ lạnh Sanyo
(Nhật bản), micropipette,
3.4. Nội dung nghiên cứu
- Nghiên cứu ảnh hưởng của môi trường đến khả năng tạo mô sẹo của một số
giống lúa.

nhận gen của một số giống lúa ở Việt Nam được tiến hành như sau:
Thí nghiệm 1: Nghiên cứu ảnh hưởng của môi trường đến khả năng tạo
mô sẹo của một số giống lúa
Mẫu hạt lúa chín được sử dụng làm vật liệu tạo mô sẹo phục vụ cho biến nạp
gen. Mẫu hạt được rửa bằng nước xà phòng loãng, để ráo nước. Tiến hành bóc bỏ

Trích đoạn Kết quả ảnh hưởng của nồng độ2,4D kết hợp với kinetin đến khả năng tạo
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status