PHẦN I
ĐẶT VẤN ĐỀ
Đất đai là một dạng tài nguyên vô cùng quý giá. Từ xưa tới nay đất đai
luôn gắn bó mật thiết với đời sống của con người. Đất là môi trường sống, là
địa bàn phân bố dân cư và là nơi làm nền tảng cho mọi hoạt động sản xuất của
con người. Đối với các hoạt động sản xuất nông - lâm nghiệp của con người thì
đất đai không chỉ là đối tượng lao động mà còn là tư liệu sản xuất không thể
thay thế được. Và ngày nay khi quỹ đất càng khan hiếm thì "tấc đất tấc vàng".
Rừng là một hệ sinh thái có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong đời sống
của con người cũng như vô số loài sinh vật khác. Rừng cung cấp rất nhiều lâm
sản, giúp duy trì cân bằng sinh thái, phòng hộ và bảo vệ môi trường. Tuy nhiên,
cây rừng muốn sinh trưởng và phát triển tốt phải phụ thuộc rất nhiều vào điều
kiện đất đai. Đất tốt, độ phì cao, khá năng thấm và giữ nước tốt thì mới đảm bảo
cho cây rừng sinh trưởng và phát triển tốt. Ngược lại, sự sinh trưởng và phát
triển của cây rừng cũng tác động trở lại đối với đất, đối với các tính chất lý hoá
học của đất có thể theo chiều hướng tích cực hoặc tiêu cực. Tác động tích cực
thông qua các vật rơi rụng để trả lại chất hữu cơ làm giàu cho đất, bảo vệ đất
trước những tác động xấu của môi trường xung quanh. Tác động tiêu cực có thể
là do trong quá trình sống cây rừng tiết ra một số chất hoá học làm đất bị suy
thoái. Vì vậy, việc nghiên cứu ảnh hưởng của một số loài cây trồng lâm nghiệp
đến tính chất lý hoá học của đất là việc làm cần thiết và có ý nghĩa rất lớn về
khoa học cũng như trong thực tiễn sản xuất, để từ đó có thể đề xuất ra các giải
pháp nhằm quản lý và sử dụng đất có hiệu quả cao hơn.
BQL rừng phòng hộ Nam Đàn thuộc huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An là
nơi có tiềm năng phát triển rất lớn với quỹ đất dồi dào và nguồn nhân lực trình
độ cao. Vì vậy, vấn đề đặt ra đối với BQL không những là nâng cao độ che phủ
của rừng mà còn phải nâng cao hiệu quả mà rừng mang lại, phát huy tối đa súc
1
sản xuất của rừng và đất rừng. Hiện nay tại BQL chưa có các nghiên cứu sâu về
đất, các nghiên cứu chỉ mang tính khái quát cụ thể cho khu vực nên gây khó
khăn cho công tác trồng rừng, đặc biệt trong khâu lựa chọn loài cây trồng phù
Lômônôxôp đã nêu ra một cách đúng đắn sự phát triển của đất theo thời gian,
do tác động của thực vật vào đá [9].
Những năm đầu thế kỉ XIX, các nhà khoa học thổ nhưỡng đã có những
phương pháp cơ bản về nghiên cứu đất trong đó các nhà khoa học Nga như
V.V.Docutraev (1846 - 1903), V.P.Viliam (1863 - 1939), Kosovic (1862 -
3
1915)…đã công bố nhiều công trình nghiên cứu về đất nói chung và phân loại
đất nói riêng [8].
V.V.Docutraev (1979) cho rằng: Đất là vật thể tự nhiên luôn luôn biến đổi
là sản phẩm chung được hình thành dưới tác động tổng hợp của 5 nhân tố hình
thành đất: Đá mẹ, Khí hậu, Địa hình, Sinh vật (động vật và thực vật) và thời
gian. Trong đó ông đặc biệt nhấn mạnh vai trò của thực vật trong quá trình hình
thành đất “nhân tố chủ đạo trong quá trình hình thành đất ở nhiệt đới là nhân tố
thảm thực vật rừng”. Bởi nhân tố thực vật là nhân tố sáng tạo ra chất hữu cơ và
khi chết đi nó tạo thành mùn [11].
V.P.Viliam đã kết luận, vòng tuần hoàn sinh học là cơ sở của sự hình
thành đất và độ phì nhiêu của nó. Ông đã chỉ ra vai trò quan trọng của sinh vật
trong việc hình thành những tính chất của đất, đặc biệt là cây xanh, vi sinh vật,
thành phần và hoạt động sống của chúng ảnh hưởng tới chiều hướng của quá
trình hình thành đất.
Trong lĩnh vực đất rừng, đã có nhiều công trình của các tác giả trên thế
giới đi sâu nghiên cứu về tính chất của đất ở các khu vực khác nhau, ở các trạng
thái khác nhau và đã rút ra được kết luận là: Nhìn chung độ phì của đất dưới
rừng trồng đã được cải thiện tăng dần theo tuổi (Shosh, 1978; Iha.M.N, Pande.P
và Rathore, 1984; Basu.P.K và Aparajita Mandi, 1987; Chakraborty.R.N và
Chakraborty.D, 1989; Ohta, 1993). Các loài cây khác nhau có ảnh hưởng rất
khác nhau đến độ phì của đất, cân bằng nước, sự thuỷ phân thảm mục và chu
trình dinh dưỡng khoáng (Bernhard Reversat.F, 1993; Trung tâm lâm nghiệp
quốc tế (CIFOR), 1998; Chandran.P, Dutta.D.R, Gupta.S.K và Baaerjee.S.K,
1988) [9].
Nghiên cứu quá trình tích luỹ chất hữu cơ trong đất rừng, cũng như đặc
điểm về thành phần mùn trong các loại đất rừng, đồng thời nghiên cứu ảnh
hưởng của các loại rừng khác nhau đến quá trình tích luỹ chất hữu cơ và đặc
5
điểm hình thành phần mùn của đất (Nguyễn Ngọc Bình, 1968, 1978; Hoàng
Xuân Tý, Nguyễn Đức Minh, 1978; Đỗ Đình Sâm, Ngô Đình Quế, 1990…)
[10].
Đỗ Đình Sâm có công trình nghiên cứu: “Cơ sở hình thái thổ nhưỡng
đánh giá độ phì của đất rừng Việt Nam” đã nghiên cứu tác dụng của nhiều yếu
tố ảnh hưởng tới độ phì của đất rừng, trong đó ông nhấn mạnh tới mối quan hệ
giữa đất rừng và quần xã thực vật rừng.
Đỗ Đình Sâm (1984) nghiên cứu độ phì đất rừng và vấn đề thâm canh
rừng trồng cho rằng đất có độ phì hoá học không cao. Nơi đất còn rừng thì độ
phì được duy trì chủ yếu qua con đường sinh học. Các trạng thái rừng khác
nhau, các biện pháp kỹ thuật tác động khác nhau cho thấy sự biến đổi hoá tính
không rõ nét (trừ yếu tố mùn, đạm). Tuy nhiên các tính chất về lý tính của đất
đặc biệt là cấu trúc và nhiệt là nhân tố dễ biến đổi và bị ảnh hưởng nhiều, có lúc
quyết định đến sinh trưởng cây rừng[9].
Tiếp thu những thành tựu nghiên cứu của các nước , Việt Nam đã sớm áp
dụng các phương pháp đánh giá đất đai vào thực tiễn. “Trong đánh giá tiềm
năng sản xuất đất lâm nghiệp” Đỗ Đình Sâm - Nguyễn Ngọc Bình đã dựa vào 8
yếu tố chuẩn đoán là: nhiệt độ bình quân năm, nhiệt độ trung bình thấp nhất,
nhiệt độ trung bình cao nhất, lượng mưa bình quân năm, nhóm hay loại đất đai
cao so với mặt biển, độ dày tầng đất và độ dốc để đánh giá mức độ thích hợp
của cây trồng với điều kiện tự nhiên [4].
Năm 2005, Đỗ Đình Sâm – Ngô Đình Quế - Vũ Tấn Phương đã xuất bản “Hệ
thống đánh giá đất lâm nghiệp Việt Nam”, các tác giả đã đưa ra 6 yếu tố chuẩn
đoán bao gồm: Thành phần cơ giới đất, độ dốc, độ dày tầng đất, độ cao, trạng
thái thực vật và lượng mưa bình quân năm để đánh giá mức độ thích hợp của
loài cây trồng với điều kiện tự nhiên. Từng yếu tố chuẩn đoán được phân ra dựa
PHẦN III
ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN CỦA KHU VỰC NGHIÊN CỨU
3.1. Vị trí địa lý, hành chính
Khu vực rừng phòng hộ Nam Đàn thuộc huyên Nam Đàn - Nghệ An,
cách thành phố Vinh khoảng 20 km.
Tọa độ địa lý:
18
0
33
'
15" - 18
0
47
'
37" vĩ độ Bắc.
105
0
26
'
29" - 105
0
36
'
25" kinh độ Đông.
- Phía Bắc giáp huyện Nghi Lộc và Đô Lương.
- Phía Nam giáp huyện Hương Sơn và Đức Thọ (Hà Tĩnh).
- Phía Đông giáp huyện Hưng Nguyên.
- Phía Tây giáp huyện Thanh Chương.
3.2. Địa hình
Toàn bộ diện tích tự nhiên của BQL nằm trong lưu vực hạ lưu sông Lam
0
C. Nhiệt độ cao tuyệt đối là 40
0
C,
nhiệt độ thấp tuyệt đối là 6,2
0
C.
- Chế độ mưa:
Lượng mưa bình quân trong năm là 1.900mm.
Năm mưa lớn nhất là 2.600mm.
Năm mưa thấp nhất là 1.100m.
Lượng mưa phân bố không đều, chủ yếu vào các tháng 7,8,9 trong năm
gây ngập úng nhiều nơi.
Độ ẩm không khí bình quân trong năm là 83%, lượng bốc hơi nước bình
quân là 943mm/năm.
- Chế độ gió:
Hàng năm có hai mùa gió chính: Gió phơn Tây Nam kéo dài từ tháng 4
đến tháng 8, nhiệt độ trong ngày có khi lên đến 38 - 40
0
C, độ ẩm chỉ còn 55 -
60%, có khi lại mưa to gây ngập úng. Gió mùa Đông Bắc từ tháng 11 đến tháng
3 năm sau thường mang theo mưa phùn và gió rét.
9
3.4. Địa chất, thổ nhưỡng
Theo kết quả điều tra của chuyên đề "Điều tra xây dựng bản đồ lập địa"
thì hiện nay, BQL rừng phòng hộ Nam Đàn đang quản lý và sử dụng 3294,7 ha
đất lâm nghiệp với cơ cấu như sau:
tt Hạng mục Tổng
ha
Đặc dụng
loài cây bản địa hỗn giao như: Săng lẻ, Trai bà, Lim xanh, Xà cừ, Lát hoa, Long
não, Chò nâu,
- Thực vật ở rừng tự nhiên bao gồm 2 loại rừng phục hồi là trạng thái IIa
và IIb, diện tích khoảng 177,5ha. Đây là những loại rừng phục hồi từ đất trống
cây bụi do được khoanh nuôi bảo vệ, tổ thành gồm các loài đặc trưng như: Giẻ,
Ràng ràng xanh, Thẩu tấu,
Cây bụi thảm tươi ở khu vực nghiên cứu chủ yếu là Sim, Mua, Tế guột,
Cỏ lào,… sinh trưởng trung bình.
*) Động vật: Gồm các loài vật do người dân chăn thả như Trâu, Bò, Lợn, Dê,
Gà,… Động vật tự nhiên chỉ có Chuột, Giun, Dế,… ngoài ra còn có nhiều loài
chim sinh sống.
3.6. Tác động của con người vào khu vực nghiên cứu
Phần lớn người dân trong khu vực nghiên cứu sinh sống bằng nghề nông
là chủ yếu, vì thế các hoạt động như chăn thả gia súc, kiếm củi, quét lá, cắt
cỏ… của người dân vẫn xảy ra thường xuyên; công tác quản lý bảo vệ rừng
chưa nghiêm ngặt. Chính những hoạt động đó của người người dân địa phương
đã làm cho tính chất đất rừng tại khu vực nghiên cứu bị xáo trộn và ảnh hưởng
rất lớn. Đất tại khu vực nghiên cứu bị bí chặt, kém thoát nước, giảm độ tơi xốp
do chăn thả gia súc bừa bãi; dễ xảy ra hiện tượng xói mòn do rừng bị cháy,…
Sự thay đổi về tính chất đất rừng đã gây ảnh hưởng không nhỏ tới sự sinh
trưởng, phát triển chung của cây rừng, theo hướng không ổn định. Và cũng
chính sự không ổn định đó của cây rừng cũng có ảnh hưởng ngược lại rất lớn
tới đất, làm giảm độ phì của đất và giảm khả năng bảo vệ, nuôi dưỡng, duy trì
đất của rừng. Tác động của con người là một trong những tác nhân quan trọng
làm ảnh hưởng tới đất.
11
PHẦN IV
MỤC TIÊU,NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
4.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu là đất trồng 2 loài cây Thông Nhựa
2
O
5
, K
2
O)
3. Nghiên cứu ảnh hưởng của 2 loài cây trồng đến tính chất lý hoá học
của đất.
4. Đánh giá mức độ thích hợp của loài cây trồng tại khu vực nghiên cứu:
Sử dụng phương pháp so sánh yêu cầu của các loài cây trồng với điều
kiện tự nhiên của đơn vị đất đai, kết hợp với đánh giá tăng trưởng bình quân
chung của chiều cao vút ngọn cho từng loài cây trồng.
5. Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất bền
vững tại khu vực nghiên cứu.
4.4. Phương pháp nghiên cứu
4.4.1. Cơ sở lý luận
Giữa đất và cây trồng luôn tồn tại một mối quan hệ qua lại rất mật thiết
với nhau. Trong quá trình sinh trưởng và phát triển cây trồng sử dụng các chất
dinh dưỡng có trong đất, khi chết đi cây trồng trả lại cho đất các chất hữu cơ
thông qua vật rơi rụng làm cho đất trở nên phì nhiêu và giàu chất dinh dưỡng
hơn, đồng thời làm thay đổi tính chất đất theo hướng có lợi. Ngược lại, các tính
chất của đất cũng ảnh hưởng đến sinh trưởng của cây trồng. Từ xưa đã có câu
"đất nào, cây ấy" , tức là một loài cây chỉ phù hợp với một hay một số loại đất
nào đó, và ngược lại một loại đất chỉ thích hợp cho một hay một số loài cây sinh
trưởng và phát triển chứ không phải là tất cả. Chính vì vậy, việc hiểu biết và
nắm bắt được các yêu cầu về đất đai của một loài cây nào đó, đồng thời từ
những kết quả nghiên cứu về đất ta sẽ đánh giá được mức độ thích hợp của loại
đất đó với từng loài cây trồng cụ thể là rất cần thiết. Từ đó, có thể đề xuất được
một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất bền vững.
Qúa trình nghiên cứu được tiến hành theo sơ đồ sau:
Đánh giá tính
thích hợp của
cây trồng
Đề xuất các giải
pháp sử dụng đất
bền vững
Đánh giá ảnh
hưởng của cây
trồng đến đất
15
- Xác lập ô nghiên cứu dưới 2 loài cây trồng khác nhau. Cây trồng có đủ
tuổi để đảm bảo tính ổn định và độ tàn che cao. Dưới mỗi loài cây trồng tiến
hành lập một ô nghiên cứu điển hình tạm thời và một ô đối chứng để so sánh.
Các ô nghiên cứu phải giống nhau về độ cao, độ dốc, hướng phơi và đá mẹ hình
thành đất.
- Đào và mô tả phẫu diện: Tại trung tâm ô nghiên cứu của mỗi loài cây
trồng và ô đối chứng của nó ở nơi không có cây trồng, một phẫu diện đất được
đào và mô tả. Các đặc điểm hình thái phẫu diên được mô tả theo bảng mô tả
phẫu diện của bộ môn Khoa Học Đất-Trường Đại học Lâm Nghiệp, trong đó có
một số nội dung chính cần quan tâm như sau:
+ Màu sắc các tầng phát sinh đất: Được xác định bằng mục trắc.
+ Độ dày tầng đất: Được đo bằng thước dây.
+ Độ chặt của các tầng đất: Xác định bằng dao nhọn.
+ Thành phần cơ giới: Xác định bằng phương pháp xoe con giun.
+ Độ ẩm các tầng đất: Xác định bằng phương pháp nắm đất trong lòng
bàn tay.
+ Tỷ lệ % đá lẫn, tỷ lệ % chất mới sinh (kết von) có trong đất: Xác định
bằng mục trắc theo tỷ lệ % hoặc thể tích.
+ Khả năng đâm rễ của thực vật: Xác định bằng tổng rễ cây có đường
kính nhỏ hơn 2mm trên 1dm
rây qua rây có đường kính 1mm, trộn đều rồi đưa vào phân tích. Riêng đất để
phân tích mùn thì giã bằng cối và chày mã não rồi rây qua rây có đường kính
0.25mm.
b. Phân tích mẫu đất:
- Các tính chất lý học của đất:
+ Xác định độ ẩm bằng phương pháp tủ sấy.
17
+ Xác định thành phần cơ giới bằng phương pháp ống hút Robinxon.
+ Xác định tỷ trọng đất bằng phương pháp bình tỷ trọng (picnoomete)
+ Xác định dung trọng thông qua cân sấy.
+ Xác định độ xốp thông qua tỷ trọng và dung trọng theo công thức:
X% = x 100%
Trong đó: X% là độ xốp của đất
D là dung trọng của đất (g/cm
3
)
d là tỷ trọng của đất (g/cm
3
)
- Các tính chất hoá học của đất:
+ Xác định phản ứng của đất: pH
H2O
, pH
KCl
bằng máy đo pH
metter
cầm tay.
+ Xác định độ chua thuỷ phân bằng phương pháp Kapen.
+ Xác định độ chua trao đổi bằng phương pháp Đaikuhara.
+ Xác định tổng bazơ trao đổi theo Kapen và Gincovic.
- Tiến hành lập bảng biểu và so sánh tỷ lệ biến động của các chỉ tiêu lý,
hoá học của đất dưới các loài cây trồng được nghiên cứu so với đất trống có
cùng điều kiện hình thành (đá mẹ, vị trí, địa hình, độ dốc, hướng dốc, hướng
phơi) làm đối chứng ( Đối chứng bằng 0 ). Từ đó đưa ra được những nhận xét
về ảnh hưởng của từng loài cây trồng tới đất.
- Tập hợp đơn vị đất đai tại các vị trí nghiên cứu theo " Cẩm nang đánh
giá đất phục vụ trồng rừng " của Đỗ Đình Sâm, Ngô Đình Quế, Vũ Tấn
Phương, NXB Khoa học và Kỹ thuật, 2005.
- Đánh giá mức độ thích hợp của cây trồng cho từng đơn vị đất đai dựa
theo bảng tiêu chuẩn thích hợp chuẩn của khoảng 30 loài cây trồng lâm nghiệp
phổ biến (" Cẩm nang đánh giá đất phục vụ trồng rừng ") hoặc theo đặc điểm
sinh thái của các loài cây không có trong bảng tiêu chuẩn trên. Cũng theo tài
liệu này việc tiến hành đánh giá tính thích hợp của cây trồng được thực hiện
theo phương pháp điều kiện giới hạn và được chia làm 4 cấp sau: Thích hợp cao
(S1), thích hợp trung bình (S2), thích hợp kém (S3) và không thích hợp (N). Độ
thích hợp cây trồng được xác định dựa trên nguyên tắc yếu tố hạn chế, cụ thể là:
+ Nếu một trong 6 tiêu chí đánh giá ở mức độ không thích hợp (N) thì
cây trồng thuộc cấp không thích hợp (N).
+ Nếu một trong 2 tiêu chí độ dốc, độ dày tầng đất ở cấp thích hợp kém
(S3) thì cây trồng thuộc cấp thích hợp kém (S3).
19
+ Nếu đa số (trên 50%) các tiêu chí đánh giá nằm ở cấp thích hợp nào thì
cây trồng thuộc cấp thích hợp đó.
- Tính giá trị trung bình và giá trị tăng trưởng bình quân của Hvn, từ đó
đánh giá độ thích hợp của các loài cây trồng.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm quản lý và sử dụng đất có hiệu quả cao
hơn dựa trên các số liệu thu thập được và kết quả nghiên cứu.
20
PHẦN V
KẾT QUẢ VÀ PHÂN TÍCH KẾT QUẢ
2
),
kết cấu viên hạt, đất hơi chặt, thành phần cơ
giới thịt nặng, chất mới sinh có phân mối, đá
lẫn khoảng 5-10%, có một hang mối, chuyển
lớp rõ về màu sắc.
+ Tầng B
k
: Độ sâu 16-80 cm, màu đỏ vàng, hơi ẩm, rễ cây rất ít
(4rễ/dm
2
), kết cấu hạt viên, đất chặt, thành phần cơ giới thịt nặng, kết von giả
20-25%, đá lẫn 10-15%, chuyển lớp rõ về màu sắc.
+ Tầng BC: Độ sâu 80-105 cm, màu vàng đỏ, hơi ẩm, không có rễ cây,
kết cấu hạt viên, đất chặt, thành phần cơ giới không xác định, kết von giả 10-
15%, đá lẫn 5-10%, chuyển lớp rõ về màu sắc.
+ Tầng C: độ sâu 105-120 cm, màu xám, hơi ẩm.
- Tên đất : Đất xám feralit phát triển trên đá sét, tầng dày (Theo phân loại
đất Việt Nam năm 1976).
b) Hình thái phẫu diện đất trống làm đối chứng với rừng Keo lá tràm.
- Vị trí: Sườn giữa của đồi Khe Điếc, xã Nam Hưng, Nam Đàn, Nghệ An.
- Địa hình: Độ dốc 11
0
; hướng dốc Tây Bắc; độ cao tuyệt đối : 135 m;
độ cao tương đối : 105 m; dạng địa hình : Sườn dốc thoải
- Đá mẹ: Đá sét
- Thực vật: Chủ yếu là cây bụi thảm
tươi như: tế guột, cỏ lá tre, độ che
phủ 40%, chiều cao trung bình khoảng 0,4 m.
- Xói mòn mặt trung bình, không có đá ong và đá lộ đầu.
kết cấu hạt viên, đất chặt, thành phần cơ giới không xác đh, kết von giả 10-
15%, đá lẫn khoảng 5-10%, chuyển lớp rõ về màu sắc.
+ Tầng C: Độ sâu 110-120 cm, màu vàng xám, hơi ẩm.
- Tên đất: Đất xám feralit phát triển trên đá sét, tầng dày(Theo phân loại
đất Việt Nam năm 1976).
5.1.2. Hình thái phẫu diện đất dưới rừng trồng Thông nhựa và đối chứng
a) Hình thái phẫu diện đất dưới rừng trồng Thông nhựa.
- Vị trí: Sườn giữa núi Đụn, xã Vân Diên, Nam Đàn, Nghệ An.
- Địa hình: Độ dốc 22
0
; hướng dốc Đông Bắc; độ cao tuyệt đối : 255m;
độ cao tương đối : 215m; dạng địa hình : Sườn dốc thoải.
- Đá mẹ: Đá sét
- Thực vật: Rừng Thông nhựa 16 tuổi trồng thuần loài có độ tàn che 0,7.
+
Cây bụi thảm tươi gồm có: Tế guột, Sim, mua
, độ che phủ 40%,
chiều cao trung bình khoảng 0,5 m.
23
Sơ đồ phẫu diện
A
B
k
BC
C
0 cm
9 cm
72 cm
110 cm
- Đá mẹ: Đá sét
- Thực vật: Chủ yếu là cây bụi thảm tươi như: Tế guột, sim, mua, độ
che phủ 40% , chiều cao trung bình khoảng 0,5m.
- Xói mòn mặt yếu, không có đá ong, đá lộ đầu khoảng 25-30%.
- Các tầng phát sinh và đặc điểm của chúng:
24
Sơ đồ phẫu diện
A
B
C
0 cm
14 cm
57 cm
120 cm
+ Tầng A: Độ sâu 0-11 cm, màu
nâu thẫm, hơi ẩm, rễ cây ít (10rễ/dm
2
),
kết cấu viên hạt, đất hơi chặt, thành
phần cơ giới thịt trung bình, đá lẫn
khoảng 5-10%, không có kết von,
chuyển lớp rõ về màu sắc.
+ Tầng B: Độ sâu 11-52 cm, màu
vàng đỏ,hơi ẩm, rễ cây ít (6rễ/dm
2
) kết cấu viên hạt, đất chặt, thành phần cơ
giới thịt nặng, không có kết von và đá lẫn, chuyển lớp rõ về màu sắc.
+ Tầng C: Độ sâu 52-120 cm, màu vàng, hơi ẩm, đất rất chặt.
- Tên đất: Đất xám Feralit phát triển trên đá sét, tầng trung bình(Theo
phân loại đất Việt Nam năm 1976).