ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
PHAN THẾ VINH
Tên đề tài:
“NGHIÊN CỨU ẢNH HƢỞNG CỦA PHÂN BÓN ĐẾN SINH TRƢỞNG VÀ
PHÁT TRIỂN CỦA GIỐNG CHUỐI TIÊU MỚI TỪ NGUỒN NGUYÊN
LIỆU NGOẠI NHẬP TRONG VỤ XUÂN 2015 TẠI THỊ XÃ SÔNG CÔNG TỈNH THÁI NGUYÊN”
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo: Chính quy
Chuyên ngành: Trồng Trọt
Khoa: Trồng Trọt
Lớp: k43 TT – N02
Khóa học: 2011 - 2015
Thái Nguyên - 2015
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
PHAN THẾ VINH
Tên đề tài:
“NGHIÊN CỨU ẢNH HƢỞNG CỦA PHÂN BÓN ĐẾN SINH TRƢỞNG VÀ
PHÁT TRIỂN CỦA GIỐNG CHUỐI TIÊU MỚI TỪ NGUỒN NGUYÊN
LIỆU NGOẠI NHẬP TRONG VỤ XUÂN 2015 TẠI THỊ XÃ SÔNG CÔNG TỈNH THÁI NGUYÊN”
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo
những kinh nghiệm, khả năng tư duy… và đó là tiền đề, động lực cho tôi sau
này ra trường.
Đến nay tôi đã hoàn thành đề tài, để có được kết quả thực tập này tôi
xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Ban giám hiệu nhà trường, Ban chủ
nhiệm Khoa Nông học cùng toàn thể các thầy, cô trong và ngoài khoa đã tạo
điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập tại trường.
Đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy giáo TS. Nguyễn
Minh Tuấn và TS. Lê Sỹ Lợi , hai giáo viên đã tận tình chỉ bảo tôi trong thời
gian thực tập tốt nghiệp và hoàn thành đề tài.
Qua đây tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến gia đình, người
thân, bạn bè và đồng nghiệp đã giúp đỡ, động viên, dành những tình cảm vô
cùng quý báu giúp tôi hoàn thiện khóa luận tốt nghiệp này.
Cuối cùng tôi xin kính chúc các thầy, cô giáo trong trường và các thầy cô
trong khoa Trồng trọt luôn luôn mạnh khỏe, hạnh phúc, đạt nhiều thành tích
trong công tác và nhiều thành công trong nghiên cứu khoa học và giảng dạy.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2015
Sinh viên
Phan Thế vinh
ii
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1:
Bảng đặc tính phân biệt M.acuminata và M.balbisiana............... 8
Bảng 2.2:
Bảng 4.1.
Ảnh hưởng của phân bón tới động thái tăng trưởng chiều cao
thân giả từ trồng đến 20 tuần tuổi............................................... 44
Bảng 4.2:
Ảnh hưởng của phân bón tới động thái tăng trưởng đường kính
thân giả từ trồng đến 20 tuần tuổi............................................... 48
Bảng 4.3.
Ảnh hưởng của phân bón tới số lá của chuối từ khi trồng đến 20
tuần tuổi ...................................................................................... 51
Bảng 4.4.
Ảnh hưởng của phân bón tới chỉ số diện tích lá từ khi trồng đến
20 tuần tuổi ................................................................................. 53
Bảng 4.5.
Ảnh hưởng của phân bón đến thành phần sâu hại và tỷ lệ hại ... 55
iii
DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 4.1: Ảnh hưởng của phân bón tới động thái tăng trưởng chiều cao thân
v
MỤC LỤC
Phần 1: MỞ ĐẦU ............................................................................................ 1
1.1. Đặt vấn đề................................................................................................... 1
1.2.Mục tiêu và yêu cầu của đề tài .................................................................... 2
1.2.1.Mục đích của đề tài .................................................................................. 2
1.2.2.Yêu cầu của đề tài .................................................................................... 2
1.3. Ý nghĩa của đề tài ....................................................................................... 2
1.3.1. Ý nghĩa trong khoa học ........................................................................... 2
1.3.2. Ý nghĩa trong thực tiễn ........................................................................... 3
Phần 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU ................................................................. 4
2.1. Cơ sở khoa học của đề tài .......................................................................... 4
2.1.1. Giới thiệu chung về cây chuối ................................................................ 4
2.1.2. Nguồn gốc, phân loại cây chuối .............................................................. 5
2.1.3 Giá trị của cây chuối .............................................................................. 10
2.1.4. Đặc điểm thực vật học của cây chuối ................................................... 14
2.1.5. Yêu cầu sinh thái ................................................................................... 19
2.2. Tình hình sản xuất và nghiên cứu chuối trên thế giới và ở Việt Nam ..... 22
2.2.1. Tình hình sản xuất và nghiên cứu chuối trên thế giới........................... 22
2.2.2. Tình hình sản xuất và nghiên cứu chuối trên Việt Nam ....................... 26
2.3. Một số kết quả nghiên cứu về phân bón cho chuối.................................. 30
2.3.1. Khái niệm về phân bón ......................................................................... 30
2.3.2. Các chất dinh dưỡng cần thiết cho cây ................................................. 31
2.3.3. Phân hữu cơ ........................................................................................... 32
2.3.4. Phân vô cơ ............................................................................................. 34
2.3.5. Vôi ......................................................................................................... 36
2.3.6. Tình hình sử dụng phân bón ở Việt Nam ............................................. 36
2.4. Điều kiện tự nhiên tại thị xã Sông Công tỉnh Thái Nguyên. ................... 37
5.2. Đề nghị ..................................................................................................... 56
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1
Phần 1
MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Chuối là một họ rất lớn và đa dạng thuộc bộ gừng (Zingiberales), bao
gồm rất nhiều giống chuối trồng và hàng trăm loài chuối dại. Tuy nhiên, tất
cả chúng đều có nguồn gốc từ hai loài hoang dại là: Musa acuminata và
Musa balbisiana, thuộc nhiều kiểu gen từ nhị bội thể đến tứ bội thể. Trong
đó, có ý nghĩa kinh tế lớn nhất, với sản phẩm quả được tiêu thụ và thương
mại hóa nhiều nhất trên thế giới. Hiếm có một loại quả nào lại được sử dụng
để ăn tươi phổ biến như chuối tiêu, chúng trở thành món tráng miệng quen
thuộc trong các bữa ăn của hàng triệu người trên khắp thế giới. Không những
là một loại quả giàu dinh dưỡng, chuối tiêu còn có nhiều tác dụng trong
phòng ngừa và chữa một số bệnh như cao huyết, bệnh đường ruột,vì lý do đó
mà càng ngày càng có nhiều người coi chuối tiêu như một món ăn bổ dưỡng
và rất có lợi cho sức khỏe.
Nằm trong trung tâm phát sinh của cây chuối nên Việt Nam có nhiều
giống chuối tiêu triển vọng có khả năng đáp ứng tiêu chuẩn xuất khẩu. Tuy
vậy, nhưng sản xuất chuối nói chung và chuối tiêu nói riêng ở nước ta còn ở
quy mô nhỏ lẻ, sản phẩm quả thường không đáp ứng được tiêu chuẩn xuất
khẩu, nên phục vụ nhu cầu nội tiêu là chủ yếu, vì vậy hiệu quả kinh tế do sản
xuất chuối mang lại thấp.
Cũng giống với tình hình chung của cả nước, trong sản xuất chuối tiêu
ở vùng Trung du và miền núi phía Bắc sử dụng nhiều giống chuối khác nhau,
năng suất và chất lượng quả thấp. Nguyên nhân một phần là do chúng ta
1.3.1. Ý nghĩa trong khoa học
- Kết quả nghiên cứu của đề tài cung cấp những thông tin khoa học có
giá trị và có tính hệ thống về ảnh hưởng của phân bón đến đặc điểm sinh
trưởng, phát triển của giống chuối tiêu mới từ nguồn nguyên liệu ngoại nhập.
- Bổ sung nguồn tài liệu tham khảo phục vụ nghiên cứu, giảng dạy và
sản xuất giống chuối tiêu mới thương phẩm có năng suất cao.
3
1.3.2. Ý nghĩa trong thực tiễn
Cung cấp những thông tin về sự ảnh hưởng của phân bón đến đặc điểm
sinh trưởng, phát triển của giống chuối tiêu mới từ nguồn nguyên liệu ngoại
nhập trong vụ Xuân 2015, làm cơ sở để lựa chọn công thức bón phân phù
hợp, góp phần hoàn thiện quy trinh kỹ thuật trồng và chăm sóc cho giống
chuối tiêu mới tại tỉnh Thái Nguyên nói riêng và vùng Trung du miền núi phía
Bắc nói chung.
4
Phần 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. Cơ sở khoa học của đề tài
2.1.1. Giới thiệu chung về cây chuối
Theo Chu Thị Thơm (2007)[10] chuối là loại cây ăn quả nhiệt đới,
ngắn tuần, dễ trồng và cho sản lượng khá cao, trung bình có thể đạt năng suất
20 - 30 tấn/ha. Chuối có giá trị kinh tế khá lớn và là mặt hàng xuất khẩu của
nhiều nước. Bên cạnh đó, chuối cũng là cây có giá trị dinh dưỡng cao: gồm
nhiều chất bột, chất đạm, chất xơ, sinh tố và khoáng chất. Đặc biệt chuối có
chuối, nâng cao thu nhập cho người dân, mở rộng thêm nguồn cung cấp chuối
cho thị trường nội địa và xuất khẩu (Hwang SC và cs, 2010) [14].
2.1.2. Nguồn gốc, phân loại cây chuối
2.1.2.1. Nguồn gốc
Theo Recel (2004) [16] cây chuối là một cây được con người sớm biết
đến và được đưa về trồng cách đây 3000 - 4000 năm. Là thức ăn chính của
người nguyên thủy, còn cung cấp xơ bẹ để làm quần áo cho họ che thân; khi
biết chuyển từ kinh tế hái lượm sang trồng tỉa, con người đã biết đưa cây
chuối về trồng.
Về nguồn gốc cây chuối, nhiều tác giả nghiên cứu đã thống nhất là
chuối có nguồn gốc ở vùng nhiệt đới Đông Nam Á, Ấn Độ, Nê Pan, Miến
Điện, bán đảo Đông Dương, Malaixia, Philippin...
Từ vùng khởi sinh cây chuối được đưa đi theo 2 đường:
- Phát triển về phía Tây: Ấn Độ - Ả Rập - Trung Mỹ - Nam Mỹ.
- Phát triển về phía Đông: Indonesia - châu Úc, Tân Ghinê và các quần
đảo Thái Bình Dương, Trung Mỹ.
Cây chuối được trồng ở Nam Ấn Độ từ cách đây khoảng 500 năm trước
công nguyên và từ nơi này chúng được đưa đến Malaixia qua Mandagaca rồi
chuyển dịch về phương đông qua Thái Bình Dương đến Nhật Bản và Samoa ở
6
miền trung Thái Bình Dương khoảng 1000 năm sau công nguyên. Có lẽ chuối
được du nhập vào Đông Phi khoảng 500 năm sau công nguyên và được ổn
định ở Tây Phi khoảng 1400 năm sau công nguyên, cuối cùng chuối đã có mặt
ở vùng Caribê và Mỹ La Tinh ngay sau năm 1500 sau công nguyên
(Simmond và cs, 1995)[17]. Cuối thế kỷ XI cây chuối đã được trồng phổ biến
khắp các vùng nhiệt đới. Ở Nam Mỹ người ta đã thấy cây chuối được trồng
nhiều ở phía Nam Bolivia và hầu khắp Braxin. Ở châu Phi khu vực trồng
2010 là 4.771.944 ha tập trung chư yếu ở các nước Trung và Nam Mỹ, châu
Á và châu Phi. Các nước trồng nhiều chuối là: Ấn Độ, Braxin, Ecuador,
Honduras, Philippin, Columbia, Panama, Thái Lan, Trung Quốc, Venezuela...
(dẫn theo Yi Ganjun, 2010)[19].
2.1.2.2. Phân loại
Cây chuối nói chung có tên khoa học là Musa do nhà phân loại học
người Anh Chline (1707 - 1778) đặt ra để tưởng nhớ đến Antonius Musa một
thầy thuốc sống vào thời hoàng đế Rome thứ nhất Octavius Agnstus (dẫn theo
Trần Như Ý, 2000)[11].
Việc phân loại chuối từ lâu đã là một vấn đề lớn đối với phân loại học.
Ban đầu chuối được sắp xếp vào 2 loại chuẩn theo Linmaur là chuối ăn tươi và
chuối ăn luộc vì tinh bột ở những quả này khi chín không chuyển hóa thành
đường dễ tan. Nhưng sau đó những dòng chuối thu thập được tuần càng nhiều,
có những dòng có thể vừa ăn tươi vừa ăn luộc được (khi quả xanh có thể ăn
luộc, khi quả chín tinh bột lại chuyển hóa thành đường dễ tiêu). Trước sự đa
dạng của các giống chuối người ta nghĩ ra việc gọi tên chúng bằng cả ngôn ngữ
Latin và tên gọi thông thường của địa phương.Việc phân loại đã trở nên lộn
xộn khi các giống chuối tuần càng tăng. Sau đó vấn đề phân loại chuối được
các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu nhiều hơn, tiêu biểu là công trình phân
loại của tác giả Kurs (1865) sau đó là học giả Chesman (1948) và gần đây nhất
là Simmond và cs (1996) (dẫn theo Chu Thị Thơm, 2007)[10].
8
Tất cả các loài chuối trồng hiện nay đều bắt nguồn từ 2 loài chuối dại là
Musa acuminata và Musa balbisiana. Tùy theo mức độ lai của 2 loài này mà
cho ra các giống chuối khác nhau (dẫn theo Nguyễn Văn Luật, 2010) [4].
Bảng 2.1: Bảng đặc tính phân biệt M.acuminata và M.balbisiana
(theo Simmonds 1966)
Hẹp (x/y < 0,28)
Rộng (x/y > 0,30)
Đầu bẹ nải
Nhọn
Hình trứng không nhọn
Do chuối có lịch sử trồng trọt lâu đời, biến dị cũng rất đa dạng nên việc
phân loại chuối gặp nhiều khó khăn. Theo một số nhà khoa học người Anh thì
hiện nay chuối có trên 300 giống (trong đó có 150 giống được tạo thành do
đột biến mầm) và họ phân loại dựa vào hệ thống phân loại trên cơ sở nhiễm
sắc thể của Simmond (1966). Theo hệ thống phân loại này chi Eumusa, thuộc
loài M.paradisiaca, có số nhiễm sắc thể là 11 và có 131 giống chuối ăn được
xếp trong 9 - 10 loài của chi Eumusa (Simmond 1982) (dẫn theo Nguyễn Văn
Luật, 2010)[4].
9
Bảng 2.2: Phân loại chuối theo số nhiễm sắc thể cơ sở
(Theo Simmonds 1982)
Số nhiễm sắc
Chi
Số loại
Phân bố
thể cơ sở
Ấn Độ đến Đông Nam Á
Ingentimusa
14
1
Tân Ghine
Cho đến nay tuần càng có nhiều phương pháp phân loại chuối bổ xung
khác nhưng hệ thống phân loại dựa trên số nhiễm sắc thể của Simmonds và cs
(1995) [17] vẫn là phương pháp có vai trò quan trọng, không thể thiếu được
mặc dù còn hạn chế là chưa đề cập đến sự có mặt của dòng thuần
M.balbisiana colla và không đưa ra giới hạn cho nhóm này.
Các loài chuối trồng hiện nay thuộc dòng Musa acuminata có các loài như:
- Loại chuối có lưỡng bội thể AA: cây có đặc điểm màu lá xanh vàng,
vỏ mỏng, cây mảnh mai, quả ngắn, mập, thịt quả ngọt, thơm nhưng do vỏ
mỏng, vận chuyển gặp nhiều khó khăn nên ít xuất khẩu. Là loại chuối tiêu thụ
nội địa ăn tráng miệng tốt. Ở Việt Nam có giống chuối ngự thuộc nhóm này.
- Loại chuối có tam bội thể AAA: nhóm này gồm hầu hết các loài chuối
trồng xuất khẩu hiện nay như Grosmichel, cây cao trồng nhiều ở châu Mỹ
Latinh, Cavendis, Lacatan, Grandenaine, và Naine, giống chuối tiêu (chuối
già) ở Việt Nam cũng thuộc nhóm này.
- Loại tam bội thể có tính trội acuminata (AAB): loại này quả thường
phải nấu mới ăn được, trồng nhiều ở châu Phi và châu Mỹ. Ở Việt Nam có
giống chuối tây (chuối sứ) thuộc nhóm này.
10
Chuối là loại cây trồng có giá trị kinh tế cao và cần ít vốn đầu tư. Hàng
năm kim ngạch xuất khẩu chuối của Việt Nam sang Trung Quốc chiếm tỷ lệ
lớn và ổn định. Do vậy chuối luôn luôn là mặt hàng có giá trị cao trong các
nông sản xuất khẩu ở nước ta.
2.1.3.2. Giá trị dinh dưỡng
Theo Đào Thanh Vân và cs (2002)[13] Chuối là cây trồng được sử
dụng triệt để nhất. Người Trung Quốc có nói bộ phận nào của cây chuối cũng
đều là của quý giá. Từ củ chuối, thân chuối, lá khô lá tươi, hoa, trái xanh trái
chín đều có thể sử dụng được: để ăn, làm rau sạch, làm kẹo chuối, mứt chuối,
lá tươi và khô làm nguyên liệu gói, trái chuối chín để cải thiện dinh dưỡng
cho mọi người và làm hàng hoá.
Chuối có vỏ màu vàng, quả no tròn và dài, vỏ mỏng, thịt dẻo và mềm,
mùi vị thơm ngon, dinh dưỡng phong phú. Chuối có chứa 16 loại Acid amin
và nhiều Vitamin, thích hợp dùng cho cả người lớn và trẻ em.
Quả chuối chứa nhiều thành phần dinh dưỡng thiết yếu mà cơ thể cần,
vì thế mà nó còn được xem là kho cung cấp năng lượng trong thiên nhiên. Hiện
nay trên thế giới có 1/2 sản lượng chuối được dùng ăn tươi, 1/2 còn lại được sử
dụng dưới dạng nấu chín và chế biến thành các loại thực phẩm khác.
Ngoài Vitamin C trong quả chuối còn có một lượng Vitamin B1
(0,04%), B2 (0,05%) và rất giàu khoáng chất như P, Ca, Fe...
Về giá trị năng lượng : 1kg quả chuối cho 1.100 - 1300 calo
1kg chuối khô cho 2790 calo
1kg hoa chuối cho 200 calo
1kg thân cây chuối cho 50 - 60 calo
Thành phần dinh dưỡng tính trên 100g chuối ăn được (Theo cách tính
của Tổ chức Nông - Lương thế giới - FAO, 1976) : protein hàm lượng 1,8g,
lipid hàm lượng 0,2g, glucid hàm lượng 18,0g, vitamin A hàm lượng 80,0UI,
carotene hàm lượng 60IU, canxi hàm lượng 10,0mg, vitamin C hàm lượng
8,0mg, năng lượng 72,0 calo, kẽm hàm lượng 0,18g, sắt hàm lượng 0,4mg.
13
4 lần, Vitamin A và sắt cao gấp 5 lần, những loại Vitamin và khoáng chất
khác cao gấp 2 lần, hàm lượng Phosphorus cao gấp 3 lần
Chuối dùng tốt cho trẻ thơ, trẻ em đang độ lớn, cho người dưỡng sức,
cho người già, cũng như cho những người lao động trí óc và chân tay. Nó
giúp ích cho hệ xương, cho sự sinh trưởng, cho sự cân bằng thần kinh. Cũng
dùng tốt cho những người bị bệnh khớp. Người suy nhược nên dùng ăn hàng
tuần. Nhưng do vì nó giàu hydrat carbon nên không phù hợp với người bị
bệnh đái đường. Chuối còn dùng để chữa bệnh ỉa chảy và kiết lỵ. Người ta
nhận thấy chuối dùng có kết quả trong việc chống các rối loạn ruột và dạ dày,
đặc biệt là chống các bệnh ỉa chảy cấp tính và mạn tính, bệnh viêm ruột. Ở Ấn
Độ, người ta dùng bột chuối xanh để điều trị những bệnh nhân bị loét dạ dày
có kết quả rõ rệt... Vì vậy một khẩu phần ăn có chuối xanh chắc chắn giúp
tránh được bệnh loét dạ dày. Quả chuối xanh còn non dùng chữa hắc lào mới
phát; trước tiên ta rửa sạch chỗ lở ngứa bằng nước nóng, gãi cho trượt da ra,
lau khô, rồi lấy một quả chuối vừa bẻ trên buồng ra, cắt dần từng lát, cho
nhựa chuối tiết ra mà chấm, bôi, xát vào chỗ ngứa. Làm 4-5 lần sẽ khỏi.
Nhân dân ta còn dùng cả củ chuối (thân, rễ) giã lấy nước cốt, hoặc dùng lóng
nứa tép đâm sâu vào thân cây hứng lấy nước trong uống trị sưng tấy, làm
thuốc giải nhiệt chữa nóng quá phát cuồng. Hoặc dùng cây non cắt ngang, lấy
phần non ở giữa (của thân giả) giã nhỏ đắp để cầm máu vết thương. Lá non
dùng băng bó để làm dịu vết bỏng, vết cháy. Ở Ấn Độ, thân giả và củ chuối
dùng chữa rối loạn về máu và trị bệnh hoa liễu. Còn nhựa cây được dùng trị
bệnh đau về thần kinh như icteria và động kinh, trị lỵ và ỉa chảy và làm nước
giải khát khi bị thổ tả.
15
Thân thật là củ chuối nằm trong đất và từ đó sinh ra các cây con tạo
thành bụi. Thân chuối sinh trưởng phát triển theo chiều ngang và có xu hướng
nhô dần lên mặt đất vì vậy thường có hiện tượng "trồi gốc" ở các vườn chuối
lâu năm. Ở Bắc Kạn, Thái Nguyên các vườn chuối trồng theo phương thức
quảng canh thường xảy ra hiện tượng này.
Kích thước và hình dáng thân phụ thuộc vào nhiều yếu tố và thường có
dạng tròn, tròn dẹp, hình trứng, hình chùy, đường kính khoảng 30cm, có trọng
lượng từ 2,5 - 3,0kg.
Thân giả do các bẹ lá mọc dài ôm sát lấy nhau, tạo thành một khối trụ tròn
nhẵn, có thể cao từ 2 - 5m, có khi cao 6 - 8m. Tùy theo loài, tùy vào cường độ
chăm bón mà thân giả có thể cao hay thấp, to hay nhỏ và màu sắc, độ bền chắc
cũng khác nhau. Do đó khả năng chống đổ, chống sâu bệnh cũng khác nhau.
Trong quá trình phát triển, thân giả cần được vệ sinh sạch sẽ để tránh
sâu bệnh đặc biệt là sâu đục thân.
Khi cây phân hóa mầm hoa thì thân củ mọc ra cuống chùm hoa. Cuống
này vươn dài lên vượt ra khỏi thân giả, đưa chùm hoa ra ngoài phát triển tạo
thành buồng quả chuối. Phần cuống đó gọi là thân ký sinh.
Mỗi thân giả chỉ cho một buồng chuối độc nhất rồi chết và được các
nhánh ngang (chồi con) thay thế. Sự tồn tại được bảo đảm bằng sinh sản vô
tính (Trần Thị Bích Hường, 2010)[3].
* Lá chuối
Theo Nguyễn Văn Luật (2010)[4] Lá chuối gồm có bẹ lá, cuống lá và
phiến lá. Khi mới nảy chồi, cây có lá kiếm, thường có 3 - 5 lá kiếm rồi cây
mới hình thành lá thật. Lá cuốn thành hình ống, một nửa cuốn vào trong, nằm
gọn trong rãnh của gân chính, còn nửa kia cuốn ngược lại bao ra ngoài gân
chính, lá mọc xen kẽ hình xoắn ốc cho nên điểm sinh trưởng luôn luôn được
che kín hoàn toàn.
tốt. Khi nhìn vào một cây chuối, nếu thấy có số lá xanh trên cây từ 10 - 12 lá,
17
phiến lá rộng, mềm mại, màu xanh bóng thì ta không cần bón thêm phân nữa
và chắc chắn sẽ cho năng suất khá. Ngược lại lá cây ít, màu xanh vàng, mỏng,
cần bón thêm phân thúc.
Cũng cần chú ý hạn chế sự rách lá (gió, bão) vì rách lá làm vỡ mạch
dẫn, ảnh hưởng đến quang hợp, giảm năng suất (Trần Thị Bích Hường,
2010)[3].
* Hoa và quả chuối
Theo Nguyễn Văn Tó (2005) [7] khi cây chuối có từ 28 - 55 lá thì phân
hóa hoa. Thời gian phân hóa hoa đến khi hoa nhú ra khỏi thân giả dài 60 - 85
tuần. Hoa chuối xếp trên trục hoa thành các chùm nải. Mỗi chùm nải có một
lá bắc màu đỏ. Chuối tiêu có 6 - 12 chùm nải tạo được thành quả. Chuối tây
có 4 - 8 chùm nải tạo được thành quả; các chùm hoa sau đó không tạo được
thành quả và hoa sẽ rụng dần nên phải cắt bỏ phần hoa không quả (cắt bi
chuối).
Theo Trần Như Ý (2000) [11] Cấu tạo một hoa đơn bao gồm đủ các bộ
phận: đế, đài, tràng, nhị, nhụy (thuộc loại hoa đủ). Song căn cứ vào hình thái
của ha người ta chia ra làm 3 loại: hoa cái, hoa lưỡng tính và hoa đực.
Hoa cái là phần sẽ phát triển thành quả chuối sau này, thường tập trung
ở gốc chùm hoa, luôn luôn nở trước các hoa khác và quyết định đến năng suất
của cây chuối. Số hoa cái nhiều hay ít được quyết định ngay từ khi phân hóa
hoa. Lúc này nếu cây chuối sung sức, đủ đạm thì số hoa cái sẽ nhiều.
Số lượng hoa lưỡng tính trên chùm hoa ít, khả năng hình thành quả
kém. Hoa đực là phần không thể phát triển thành quả được và rụng dần theo
thời gian.
Quá trình chuyển đổi từ sinh trưởng dinh dưỡng sang sinh trưởng sinh