Nghiên cứu ảnh hưởng của liều lượng phân bón đến sinh trưởng và phát triển giống lúa Khẩu Nua Đeng vụ mùa năm 2014 tại huyện Vị Xuyên tỉnh Hà Giang. - Pdf 39

ÐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ÐẠI HỌC NÔNG LÂM

HÀ VĂN THỂ
Tên đề tài:
NGHIÊN CỨU ẢNH HƢỞNG CỦA LIỀU LƢỢNG PHÂN BÓN ĐẾN
SINH TRƢỞNG VÀ PHÁT TRIỂN GIỐNG LÚA KHẨU NUA ĐENG
VỤ MÙA NĂM 2014 TẠI HUYỆN VỊ XUYÊN, TỈNH HÀ GIANG

KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo
Chuyên ngành
Khoa
Khóa học

: Đại học chính quy
: Trồng trọt
: Nông học
: 2011 - 2015

THÁI NGUYÊN - 2015


ÐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ÐẠI HỌC NÔNG LÂM

HÀ VĂN THỂ
Tên đề tài:
NGHIÊN CỨU ẢNH HƢỞNG CỦA LIỀU LƢỢNG PHÂN BÓN ĐẾN
SINH TRƢỞNG VÀ PHÁT TRIỂN GIỐNG LÚA KHẨU NUA ĐENG

làm việc nghiêm túc để hoàn thành đề tài tốt nghiệp. Bên cạnh những thuận
lợi, tôi đã gặp không ít khó khăn, tuy vậy với sự giúp đỡ của các thầy cô, các
anh chị, gia đình và bạn bè tôi đã vượt qua các khó khăn ấy và hoàn thành
khóa luận. Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến:
Ban Giám hiệu trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên.
Ban Chủ nhiệm Khoa Nông học trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên.
Cán bộ, anh chị em công nhân Trung tâm Giống cây trồng Đạo Đức, huyện
Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang.
Tôi gửi lời cảm ơn đến các quý thầy cô trong khoa Nông học đã tận
tình chỉ bảo cho tôi những kiến thức trong suốt 4 năm theo học.
Đặc biệt, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến thầy PGS TS. TRẦN
VĂN ĐIỀN đã tận tình chỉ bảo cho tôi trong thời gian tôi thực hiện đề tài.
Mặc dù bản thân có nhiều có gắng nhưng do hạn chế về thời gian, trình
độ và kinh nghiệm nên đề tài không tránh khỏi những thiếu sót. Kính mong sự
cảm thông, đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo và bạn bè để đề tài tốt
nghiệp được hoàn thiện hơn.
Xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày 25/04/2015
Tác giả khóa luận
Hà Văn Thể


ii

DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 2.1. Lượng dinh dưỡng lấy đi để tạo ra 1 tấn thóc ................................ 11
Bảng 2.2: Diện tích, năng suất, sản lượng lúa trên thế giới năm 2013 ........... 13
Bảng 2.3: Diện tích lúa Việt Nam so với một số nước trên thế giới (1987 2013)................................................................................................ 14
Bảng 2.4: Năng suất lúa Việt Nam và một số nước trên thế giới ( 1987 –

CV(%)

Hệ số biến động

LSD0,5

Giới hạn sai khác nhỏ nhất có ý nghĩa
ở mức ý nghĩa 0,5

FAO

Tổ chức Nông - Lương thế giới

CT

Công thức

NSG

Ngày sau gieo

P1000

Khối lượng nghìn hạt

NSLT

Năng suất lý thuyết

NSTT

PHẦN 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU............................................................... 3
2.1. Cơ sở lí luận của việc bón phân cho lúa .................................................... 3
2.2. Vai trò của phân bón đối với cây trồng ...................................................... 5
2.3. Nhu cầu dinh dưỡng của cây lúa ................................................................ 6
2.3.1. Nhu cầu về đạm của cây lúa .................................................................... 6
2.3.2. Nhu cầu về lân của cây lúa...................................................................... 8
2.3.3. Nhu cầu về kali của cây lúa .................................................................... 9
2.3.4. Nhu cầu về các yếu tố dinh dưỡng khác của cây lúa ............................ 10
2.4. Tình hình sản xuất và nghiên cứu lúa trên thế giới và Việt Nam ............ 12
2.4.1. Tình hình sản xuất trên thế giới ........................................................... 12
2.4.2. Tình hình sản xuất và nghiên cứu ở Việt Nam ..................................... 14
2.4.3. Tình hình nghiên cứu lúa cạn ở Việt Nam ............................................ 16
2.5. Tình hình nghiên cứu về bón phân cho cây lúa trên thế giới và tại Việt
Nam ................................................................................................................. 19


vi

2.5.1. Nghiên cứu trên thế giới........................................................................ 19
2.5.2. Tình hình nghiên cứu về bón phân cho lúa tại Việt Nam ..................... 23
2.6. Nghiên cứu về một số đặc điểm sinh thái của cây lúa ............................. 29
2.6.1. Yếu tố nhiệt độ ...................................................................................... 29
2.6.2. Yếu tố ánh sáng ..................................................................................... 29
2.6.3. Yếu tố đất đai ........................................................................................ 30
2.6.4 Yếu tố phân bón ..................................................................................... 30
PHẦN 3: VẬT LIỆU, ĐỊA ĐIỂM VÀ THỜI GIAN NGHIÊN CỨU ...... 32
3.1 Vật liệu thí nghiệm .................................................................................... 32
3.2. Thời gian, địa điểm nghiên cứu ............................................................... 32
3.3. Nội dung nghiên cứu ................................................................................ 32
3.4. Phương pháp nghiên cứu .......................................................................... 32

1

PHẦN 1
MỞ ĐẦU
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Cây lúa (Oryza sativa L.) là cây trồng có từ lâu đời và gắn liền với quá
trình phát triển của loài người. Từ buổi đầu của nền văn minh, cây lúa là cây
trồng được gắn liền với quá trình phát triển của loài người và đã trở thành cây
lương thực chính của Châu Á nói chung, người Việt Nam ta nói riêng và có
vai trò quan trọng trong nét văn hoá ẩm thực của dân tộc ta. Hiện nay có
khoảng 40% dân số trên thế giới sử dụng lúa gạo là nguồn lương thực chính.
Với mức tiêu dùng hàng năm khoảng 180 – 200 kg/người. Về mặt dinh dưỡng
trong lúa gạo có đầy đủ các chất giống như các loại cây lương thực khác ,
trong đó tinh bột chiếm hàm lượng chủ yếu ( chiếm đến 62,4% hàm lượng
chất khô ). Ngoài ra trong lúa gạo còn có một số loại Vitamin, đặc biệt là
vitamin B1. Sản xuất lúa gạo chủ yếu tập trung ở các nước Châu Á, ở nước ta
có hơn 60% dân số sống bằng nghề trồng lúa, nên lúa không chỉ có ý nghĩa về
mặt an ninh lương thực mà còn có ý nghĩa về mặt kinh tế cho nông dân và đặc
biệt quan trọng với bà con nông dân miền núi.
Thực tế sản xuất cho thấy năng suất và chất lượng của một số giống lúa
phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: Giống, kỹ thuật trồng trọt, thời tiết. Trong đó
yếu tố phân bón có ảnh hưởng quyết định đến năng suất lúa. Giống mới cũng
chỉ phát huy được tiềm năng của mình cho năng suất cao khi được bón đủ
phân và bón phân hợp lý .
Với bất kỳ giống lúa nào thì 3 nguyên tố dinh dưỡng đạm, lân, kali là
các nguyên tố đa lượng chủ yếu và cơ bản nhất mà các công trình nghiên cứu
đều đề cập tới. Giống lúa Khẩu Nua Đeng là một giống lúa nếp cạn đặc sản
của các tỉnh miền núi phía Bắc trong đó có tỉnh Hà Giang nhưng chưa được



2.1. Cơ sở lí luận của việc bón phân cho lúa
Như Đào Thế Tuấn (1970) [33] viết “Nếu chỉ dựa vào tàn dư thực
vật để bón cho cây trồng thì phải dùng tàn dư thực vật của 6 – 20 ha mới
có đủ dinh dưỡng cung cấp cho 1ha thâm canh”. Vì vậy, nền nông nghiệp
này cũng không thể đáp ứng được nhu cầu lương thực, thực phẩm ngày
càng tăng với yêu cầu của con người .
Trong lịch sử phát triển nền nông nghiệp tại mỗi quốc gia trên thế giới
đều đã, đang trải qua các hình thức phát triển và sử dụng phân bón theo Bùi
Huy Đáp, 1980[8]:
- Nền nông nghiệp cổ điển: Là hái lượm (không trồng trọt) nên không
đáp ứng được nhu cầu sống của con người khi dân số ngày càng tăng.
- Nền nông nghiệp hữu cơ: Là dựa vào chăn nuôi để lấy phân và trồng
cây phân xanh, tận dụng tàn dư thực vật, không dùng phân hoá học và
thuốc bảo vệ thực vật, dựa vào vi sinh vật sống trong đất và điều kiện phát
triển vi sinh vật đất cung cấp dinh dưỡng cho cây… Việc bón phân cho
cây thì chỉ bón các loại phân thiên nhiên. Nền nông nghiệp này cho năng
suất cây trồng thấp, việc cung cấp dinh dưỡng dễ tiêu cho cây trồng lại
bấp bênh do phụ thuộc vào sự phân giải của vi sinh vật.
Kinh nghiệm canh tác của nhân dân ta, cùng nhiều nghiên cứu về cây
lúa đã cho thấy: để đạt năng suất lúa 5 tấn/ha cần phải cung cấp từ 100 – 120
kg N/ha. Vì vậy nếu chỉ bằng phân chuồng hoặc phân hữu cơ thì phải bón 30
tấn mới đủ lượng đạm. Như vậy, rất khó khăn trong việc chuẩn bị đủ
lượng phân hữu cơ. Theo Bùi Huy Đáp (1980) [8] nếu dựa vào chăn nuôi
thì lượng thóc sản xuất được 5 tấn/ha, vừa đủ nuôi đàn lợn để có 30 tấn


4

phân chuồng. Theo Vũ Hữu Yêm ( 1995) : thì nền nông nghiệp hữu cơ tuy có
làm độ phì của đất suy giảm chậm hơn nhưng nhìn tổng thể thì độ phì của đất


qua không thể tăng năng suất gấp 4 lần, sử dụng phân bón có tác dụng sâu xa
đến cân bằng dinh dưỡng trong đất, đóng vai trò quyết định tương lai nền văn
minh của loài người’’ [12].
2.3. Nhu cầu dinh dƣỡng của cây lúa
Cây lúa cũng như các loại cây trồng khác đều có nhu cầu dinh dưỡng
để sinh trưởng và phát triển. Các yếu tố dinh dưỡng như đạm, lân, kali cần
thiết cho cây lúa trong toàn bộ đời sống của nó, số lượng chênh lệch nhau
tương đối nhiều tuỳ thuộc vào giống, đất đai, khí hậu, chế độ canh tác và cách
bón phân. Khả năng cung cấp chất dinh dưỡng của đất là nhân tố quyết định
việc cần bón nguyên tố nào, số lượng bao nhiêu cho cây. Những năm gần đây
do diện tích sản xuất nông nghiệp bị thu hẹp, các biện pháp canh tác chưa hợp
lý nên đã dẫn đến hiện tượng rửa trôi, xói mòn đất làm giảm độ màu mỡ của
đất nhanh chóng, đặc biệt là ở vùng đồi núi. Do vậy để đảm bảo năng suất lúa
cần phải hiểu rõ tính chất của đất. Hiện nay nhờ thành tựu ứng dụng khoa học
công nghệ trong công tác chọn lọc và chọn tạo giống, cho nên các giống lúa
mới chịu thâm canh, năng suất, chất lượng cao hơn các giống lúa cũ đã được
đưa vào sản xuất. Vì vậy dựa vào đặc điểm của giống để cung cấp phân bón
cho lúa là cần thiết. Tuy nhiên các giống lúa có thời gian sinh trưởng khác
nhau thì xác định thời kỳ bón, lượng phân bón khác nhau.
2.3.1. Nhu cầu về đạm của cây lúa
Lúa là cây trồng rất mẫn cảm với việc bón đạm. Nếu giai đoạn đẻ
nhánh mà thiếu đạm sẽ làm năng suất lúa giảm do đẻ nhánh ít, dẫn đến số
bông ít. Nếu bón không đủ đạm cây lúa sinh trưởng chậm, thấp cây, đẻ nhánh
kém, phiến lá nhỏ, lá sớm chuyển thành màu vàng, đòng nhỏ, từ đó làm cho
năng suất giảm. Nếu bón thừa đạm lại làm cho cây lúa có lá to, dài, phiến lá
mỏng, dễ bị sâu bệnh, dễ lốp đổ, đẻ nhánh vô hiệu nhiều; ngoài ra chiều cao
cây phát triển mạnh, trỗ muộn, năng suất giảm. Theo Bùi Huy Đáp năm
1980, đạm là yếu tố chủ yếu ảnh hưởng đến năng suất lúa, cây có đủ đạm


trung, tạo được nhiều dảnh hữu hiệu, là yếu tố cấu thành năng suất có vai trò


8

quan trọng nhất đối với năng suất lúa. Đạm còn có vai trò quan trọng trong
việc hình thành đòng và các yếu tố cấu thành năng suất khác: số hạt trên
bông, trọng lượng 1000 hạt và tỷ lệ hạt chắc. Đạm còn làm tăng hàm lượng
protein trong gạo nên làm tăng chất lượng gạo. Lượng đạm cần thiết để tạo ra
1 tấn thóc từ 17 đến 25 kgN, trung bình cần 22,2 kgN. Ở các mức năng suất
cao, lượng đạm cần thiết để tạo ra một tấn thóc càng cao.
2.3.2. Nhu cầu về lân của cây lúa
Theo Lê Văn Căn năm 1964 cho rằng: lân là một trong những chất cần
thiết cho quá trình trao đổi chất của cây, lân có mặt trong các chất hữu cơ
quan trọng nhất đối với cây [5]. Các hợp chất này ảnh hưởng trực tiếp đến sự
phân chia tế bào qua quá trình trao đổi chất béo, protein cụ thể là
Glyxerophotphat, ATP, ADN, ARN, có vai trò quan trọng trong quá trình
quang hợp và hô hấp của cây. Lân làm tăng khả năng hút đạm cho cây và hấp
phụ Fe làm giảm nồng độ Fe trong đất, có thể làm giảm nồng độ độc trong
đất. Trong thời kỳ chín của cây lúa, hàm lượng lân vô cơ giảm nhanh và hoạt
động của enzym photphorilaza tăng đến 16 ngày sau khi thụ tinh của hạt sau
đó giảm xuống. Từ đó ta có thể thấy lân là một thành phần dinh dưỡng rất cần
thiết đối với cây trồng [49]
Theo Nguyễn Xuân Cự (1992) [6], Nguyễn Ngọc Nông (1995) [20], Võ
Đình Quang (1999) [21] cho rằng: lân là thành phần chủ yếu của acid nucleic,
là chất chủ yếu của nhân tế bào, trong vật chất khô của cây có chứa hàm
lượng lân từ 0,1 - 0,5%. Lân có mối quan hệ chặt chẽ với sự hình thành diệp
lục, protit và sự di chuyển tinh bột. Cây lúa hút lân mạnh hơn so với các loại
cây trồng cạn. Cùng với đạm, lân xúc tiến sự phát triển của bộ rễ và tăng số
nhánh đẻ, đồng thời cũng làm cho lúa trỗ và chín sớm hơn.

đó ảnh hưởng gián tiếp đến quá trình hô hấp của cây.
Theo Nguyễn Như Hà (2006) [14] thì cho rằng: kali có ảnh hưởng rõ
đến sự phân chia tế bào và phát triển của bộ rễ lúa trong điều kiện ngập nước
nên có ảnh hưởng rõ đến sự sinh trưởng và phát triển của cây lúa. Kali có ảnh
hưởng lớn đến quá trình quang hợp, tổng hợp các chất gluxit, ngoài ra còn
tham gia vào quá trình tổng hợp protein ở trong cây lúa, nhất là trong điều
kiện ánh sáng yếu. Ngoài ra còn ảnh hưởng tới các yếu tố cấu thành năng suất
như: số hạt, tỷ lệ hạt chắc, trọng lượng 1000 hạt. Vì vậy, kali là yếu tố dinh


10

dưỡng có ảnh hưởng rõ tới năng suất và chất lượng lúa. Kali còn thúc đẩy
hình thành lignin, xelulo làm cho cây cứng cáp hơn, chống đổ và chống chịu
sâu bệnh tốt hơn. Cây lúa thiếu kali ít ảnh hưởng đến đẻ nhánh nhưng làm cây
lúa thấp, phiến lá hẹp, mềm yếu và rũ xuống, hàm lượng diệp lục thấp, màu
xanh tối. Khi thiếu kali, mặt phiến lá của những lá phía dưới có những đốm
màu nâu đỏ, lá khô dần từ dưới lên trên. Lúa thiếu kali dễ bị lốp đổ, sâu bệnh
dễ tấn công (nhất là khi được cung cấp nhiều đạm), số hạt ít, nhiều hạt xanh,
hạt lép và hạt bạc bụng, phẩm chất gạo giảm. Để tạo ra 1 tấn thóc trung bình
cây lúa hút 31,6 kg K2O, trong đó chủ yếu tích luỹ trong rơm rạ 28,4 kg.
2.3.4. Nhu cầu về các yếu tố dinh dưỡng khác của cây lúa
Silic làm tăng tính chống chịu đối với các điều kiện bất thuận và sâu
bệnh hại cho cây lúa, làm cho lá lúa thẳng và quang hợp tăng thêm nên làm
tăng năng suất lúa. Lúa là cây hút nhiều Si, để tạo 1 tấn thóc cây lúa lấy đi từ
đất và phân bón là 51,7kg Si.
Trên đất cát, đất xám trồng lúa thì magie thể hiện rõ vai trò, đặc biệt là
với những giống mới năng suất cao. Nhu cầu magie để tạo ra 1 tấn thóc cây
lúa lấy đi từ đất và phân bón 3,94kg MgO.
Cây lúa có nhu cầu canxi không cao, xong trên đất chua; đất phèn; đất


Lƣợng dinh dƣỡng lấy đi (kg) để tạo ra 1 tấn thóc
Hạt

Rơm rạ

22,2

14,6

7,6

P2O5

7,1

6,0

1,1

K2O

31,6

3,2

28,4

CaO


Cl

9,7

4,2

5,5

N

Chất dinh

Tổng cộng

Lƣợng dinh dƣỡng lấy đi (g) để tạo ra 1 tấn thóc

dƣỡng

Tổng cộng

Hạt

Rơm rạ

Cu

27,0

20,0


12

2.4. Tình hình sản xuất và nghiên cứu lúa trên thế giới và Việt Nam
2.4.1. Tình hình sản xuất trên thế giới
Theo thống kê của FAO (2013), diện tích canh tác lúa toàn thế giới năm
2013 là 166,08 triệu ha, năng suất bình quân 4,48 tấn/ha, sản lượng 745,17
triệu tấn (Bảng 2.1). Trong đó, diện tích lúa của Châu Á là 146,18 triệu ha
chiếm 88,01 % tổng diện tích lúa toàn cầu, kế đến là Châu Phi 10,90 triệu ha
(6,56 %), Châu Mỹ 6,53 triệu ha (3,93 %), Châu Âu 2,34 triệu ha (1,40 %),
còn lại diện tích và sản lượng lúa ở Châu Đại Dương chiếm tỷ trọng không
đáng kể. Những nước có diện tích lúa lớn nhất là Ấn Độ 43,50 triệu ha; Trung
Quốc 30,22 triệu ha; Indonesia 13,83 triệu ha; Thái Lan 12,37 triệu ha;
Bangladesh 11,77 triệu ha và Việt nam 7,89 triệu ha.
Mỹ và Trung Quốc là hai nước có năng suất lúa dẫn đầu thế giới với số
liệu thống kê của FAO năm 2013 là 8,62 và 6,72 tấn/ha. Việt Nam có năng
suất lúa 5,58 tấn/ha cao hơn năng suất bình quân của thế giới là 4,48 tấn/ha
nhưng chỉ đạt 64,73 % so với năng suất lúa bình quân của Mỹ.
Những nước có sản lượng lúa nhiều nhất thế giới năm 2013 là Trung
Quốc 203,29 triệu tấn; Ấn Độ 159,20 triệu tấn; Indonesia 71,28 triệu tấn;
Bangladesh 51,50 triệu tấn; Việt Nam 44,07 triệu tấn; Thái Lan 38,78 triệu
tấn và Myanmar 28,00 triệu tấn.
Theo số liệu thống kê của FAO về thương mại gạo thế giới năm 2013
duy trì ở mức 37,5 triệu tấn. Theo báo cáo của Hiệp hội Lương thực Việt Nam
(VFA) năm nước xuất khẩu gạo đứng đầu thế giới năm 2013 là Ấn Độ 9,61
triệu tấn, Thái lan 6,79 triệu tấn, Việt Nam 6,74 triệu tấn, Pakistan 3,41 triệu
tấn, Mỹ 3,37 triệu tấn.


13



30,22

6,72

203,29

Ấn Độ

43,50

3,66

159,20

Indonesia

13,83

5,15

71,28

Bangladesh

11,77

4,37

51,50


18,43

Campuchia

3,10

3,01

9,34

Châu Mỹ

6,53

5,56

36,36

Brazil

2,34

5,01

11,76

Colombia

0,53


2,60

1,80

4,70

Madagascar

1,30

2,77

3,61

Châu Âu

2,34

1,65

3,89

Italy

0,21

6,30

1,34


2009

2010

2011

2012

2013

32,19

28,91

29,24

29,62

29,89

30,05

30,13

30,22

Ấn Độ

38,80


13,83

Thái Lan

9,14

10,36

10,68

11,14

11,93

11,64

12,27

12,37

Việt Nam

5,60

7,30

7,40

7,43


2,90

2,85

2,87

2,72

2,75

2,41

2,34

Colombia

3,48

0,36

0,44

0,55

0,47

0,51

0,48


0,24

0,24

0,24

0,21

Trung
Quốc

Nguồn: FAOSTAT, 2014 [53]


15

Năm 1987 sau đổi mới, diện tích đất trồng lúa của nước ta chỉ là 5,60
triệu ha. Sau 20 năm Việt Nam là thành viên thứ 150 của WTO năm 2007
diện tích đất trồng lúa là 7,30 triệu ha và không ngừng mở rộng diện tích, đến
năm 2013 diện tích đất trồng lúa của nước ta đã là 7,89 triệu ha, tăng thêm
2,29 triệu ha so với năm 1987.
Bảng 2.4: Năng suất lúa Việt Nam và một số nƣớc trên thế giới
( 1987 – 2013)
Năng suất lúa (tấn/ha) qua các năm

Tên nƣớc
1987

2007


Ấn Độ

2,19

3,29

3,25

3,23

3,35

3,59

3,72

3,66

Indonesia

4,03

4,70

4,89

4,99

5,01


5,23

5,23

5,34

5,53

5,63

5,58

Philipines

2,62

3,80

3,77

3,58

3,62

3,67

3,84

3,88


4,65

4,80

4,57

Ecuador

2,82

4,35

4,06

4,00

4,33

4,47

4,21

3,82

Italy

5,61

6,62

lúa cạn (upland rice) và định nghĩa: “ Lúa cạn được trồng trong những thửa
ruộng được chuẩn bị đất và gieo hạt dưới điều kiện khô, cây lúa sống hoàn
toàn phụ thuộc vào nước trời’’.
Theo Garrity D,P [42] lúa cạn được coi là lúa trồng trong mùa mưa trên
đất cao, đất thoát nước tự nhiên, trên những chân ruộng được đắp bờ hoặc
không có bờ và không có lượng nước dự trữ thường xuyên trên bề mặt. Lúa
cạn được hình thành từ lúa nước, nhờ quá trình thích ứng với những vùng
trồng lúa thường gặp hạn mà xuất hiện các biến dị chịu hạn ngày càng cao. Vì
vậy giống lúa cạn có khả năng sinh trưởng bìn thường khi ở ruộng lúa nước.
Theo Nguyễn Gia Quốc (1994) [22] chia lúa cạn thành 2 dạng:
- Lúa cạn thực sự hay còn gọi là lúa nương (rẫy), là loại trồng trên các
triền dốc của đồi núi, không có bờ ngăn nước, luôn không có nước ở chân,
cây lúa sống nhờ nước trời.
- Lúa cạn không hoàn toàn hay lúa nước trời là loại lúa trồng ở triền
thấp không có hệ thống tưới tiêu chủ động, cây sống hoàn toàn bằng lượng
nước mưa tại chỗ, có thể có nước dự trữ trên bề mặt ruộng và cung cấp nước
cho cây lúa vào một thời điểm nào đó.
Nguồn gốc lúa cạn
Theo Tanaka [50], lúa trồng hiện nay thuộc chi Oryza, chi này có 23
loài. Trong đó có hai loài lúa trồng là O.Sativa có ở Nam Á và O.Glaberrima



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status