i
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
NGUYỄN CÔNG VƯƠNG
ĐÁNH GIÁ ẢNH HƯỞNG CỦA SỐ NHÁNH ĐẾN
SINH TRƯỞNG, NĂNG SUẤT VÀ CHẤT LƯỢNG
MỘT SỐ GIỐNG BÍ ĐỎ TRỒNG PHỔ BIẾN TẠI
NGHỆ AN
LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP
NGHỆ AN, 2015
ii
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
NGUYỄN CÔNG VƯƠNG
ĐÁNH GIÁ ẢNH HƯỞNG CỦA SỐ NHÁNH ĐẾN
SINH TRƯỞNG, NĂNG SUẤT VÀ CHẤT LƯỢNG
MỘT SỐ GIỐNG BÍ ĐỎ TRỒNG PHỔ BIẾN TẠI
NGHỆ AN
LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP
giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn tốt nghiệp
này. Trân trọng cám ơn đến thầy Đinh Bạt Dũng trưởng trại thực nghiệm khoa
Nông Lâm Ngư đã tạo điều kiện và hết sức giúp đỡ để tôi thực nghiệm thí
nghiệm. Cuối cùng tôi xin cảm ơn gia đình, bạn bè đã giúp đỡ tôi trong thời gian
học tập và thực tập tốt nghiệp. Tôi xin chân thành cảm ơn!
Nghệ An, ngày 5 tháng 10 năm 2015
Tác giả khóa luận
Học viên
Nguyễn Công Vương
MỤC LỤC
v
Trong đó: - G: Là ký hiệu cây giống ....................................................................36
- N: Là ký hiệu hình thức để nhánh......................................................36
G1: Giống TN6; G2: Giống F1 TN 332...............................................................36
G3: Giống F1 HK 319 G4: Giống F1 TLP 868.....................................................36
G5: Giống F1 016 G6: Giống F1 021....................................................................36
N2: Để 2 cấp 1 N3: Để 3 nhánh cấp 1..................................................................36
Các yếu tố phi thí nghiệm (phương pháp bón phân, thời gian bón, liều lượng
bón, mật độ trồng, diện tích ô thí nghiệm, thời vụ trồng, chăm sóc,...) của các
công thức thí nghiệm đều như nhau......................................................................37
2.4.2. Quy trình kỹ thuật áp dụng .........................................................................37
2.4.3. Các chỉ tiêu theo dõi....................................................................................39
vi
MỞ ĐẦU
1.
Lý do chọn đề tài
Bí đỏ hay còn gọi là bí đỏ có tên khoa học là Cucurbita pepo L, có tên
tiếng Anh là Pumpkin là một loại cây dây thuộc chi Cucurbita và họ bầu bí
Cucurbitaceae. Đây là loài cây dễ trồng, không kén đất, có thể trồng trên nhiều
loại đất khác nhau từ ruộng, vườn ở vùng đồng bằng đến đất đồi núi và cả đất
mặn vùng ven biển, được trồng ở khắp mọi miền của Việt Nam, có mặt ở nhiều
vùng sinh thái trong cả nước. Cây bí đỏ có thể trồng vào tất cả các vụ trong
năm. Bí đỏ được sử dụng làm thực phẩm có thể là nụ, hoa, ngọn và lá non, tuy
nhiên thường thấy nhất là sử dụng phần thịt của quả. Phương thức sử dụng các
sản phẩm của bí đỏ cũng rất phong phú như: Nấu canh, làm rau, làm bánh, làm
nguyên liệu công nghiệp chế biến... Quả bí đỏ chứa nhiều vitamin và khoáng
chất, cũng là một vị thuốc nam trị nhiều bệnh. Bí đỏ được biết đến như một loại
thực phẩm giàu dinh dưỡng. Bí đỏ là cây trồng mà dường như rất quen thuộc
với đời sống con người, tuy nhiên cho tới nay vẫn chưa có nhiều công trình
nghiên cứu khoa học về loại cây trồng này, diện tích trồng còn nhỏ lẻ, phân tán
và chưa chọn tạo được sự bứt phá về giống. Kỹ thuật canh tác của người dân ở
các địa phương chủ yếu dựa vào kinh nghiệm cổ truyền do chưa có nhiều tài
liệu nghiên cứu hay các quy trình kỹ thuật hướng dẫn cụ thể về cách trồng loại
cây trồng này... Vì vậy, việc nghiên cứu áp dụng các biện pháp kỹ thuật trong
trồng trọt,thâm canh và chọn tạo những giống bí đỏ có năng suất, chất lượng
phù hợpvới các vùng sinh thái, đồng thời tạo thành những vùng chuyên canh
đem lại hiệu quả kinh tế cho người trồng bí đỏ là rất cần thiết. Tại các địa
phương hiện nay, việc sử dụng các giống bí mới có năng suất và chất lượng là
chưa nhiều. Phần lớn vẫn sử dụng các giống bí của địa phương, đó là những
giống bí thụ phấn tự do nhiều đời. Năng suất và chất lượng không được cải
thiện trong khoảng thời gian dài. Thị hiếu sử dụng các sản phẩm của người tiêu
loài Cucurbita maxima và Cucurbita mixta thì thích hợp ở vùng ôn đới có khí
hậu mát. Trong một thời gian dài, nguồn gốc của bí đỏ là chủ đề gây tranh cãi.
Tuy nhiên theo nhiều báo cáo nghiên cứu khoa học cho thấy, bí đỏ có nguồn gốc
từ Trung Mỹ và Nam Mỹ. Có nhiều nghiên cứu khảo cổ chỉ ra rằng: Loài
Cucurbita pepo phân bố rộng khắp ở các vùng bắc Mexico và tây nam Hoa Kỳ từ
7000 năm trước Công nguyên. Các loại bí hỗn hợp đã được ghi chép lại ở các
thời kỳ tiền Columbus. Loài Cucurbita moschata đã xuất hiện ở Mexico và Peru
từ hàng ngàn năm nay. Ở Peru các nhà khảo cổ đã tìm được các mẫu hạt bí đỏ có
niên đại 4000 năm trước Công nguyên. Loài Cucurbita maxima cũng được tìm
thấy bởi các nhà khảo cổ khi khai quật ở Peru có niên đại khoảng 1200 năm
trước Công nguyên [7]. Bí đỏ được những người thổ dân ở Bắc Mỹ thuần hoá
trồng và sử dụng như một nguồn thức ăn chính. Đến thế kỷ 16, khi những người
da trắng đến định cư và từ đó bí đỏ được chuyển các nước Châu Âu và dần trở
thành phổ biến như ngày nay [8]. Một số tài liệu khác cho rằng bí đỏ cũng như
các cây bầu bí khác có nguồn gốc ở vùng nhiệt đới Châu Phi, Châu Mỹ, nam
Châu Á, (Ấn Độ, Malacca, nam Trung Quốc) do vậy yêu cầu về nhiệt độ để sinh
trưởng và phát triển cao hơn cácloại rau ăn quả khác như cà chua... [2]. Nhờ vậy
bí đỏ cũng như các loại bầu bí khác có khả năng phát triển rộng ở nước ta từ
Nam tới Bắc và tất cả các mùa vụ trong năm. Ở Việt Nam, bí đỏ xuất hiện và đã
có từ lâu đời nay. Không thấy có tài liệu ghi chép về nguồn gốc của bí đỏ du
nhập vào Việt Nam từ khi nào, chỉ biết rằng bí đỏ có mặt khắp các vùng miền từ
4
Bắc tới Nam. Bí đỏ được sử dụng làm thực phẩm phổ biến, được chế biến thành
nhiều món ăn trong những bữa ăn của các gia đình.
1.1.2. Phân loại thực vật bí đỏ
Họ bầu bí (Cucurbitaceae) là một họ thực vật bao gồm dưa hấu
(Citrullus), dưa chuột (Cucumis), bí đao (Benincasa), bầu (Lagenaria), bí đỏ
phân loại APG II đã phân loại bộ bầu bí thành 7 họ khác nhau.
- Họ bất đẳng diệp (Anisophylleaceae): Khoảng 34 loài trong 4 chi, họnày
chứa các loài cây từ cây bụi tới các cây gỗ kích thước trung bình hoặc tương đối
lớn, sinh sống trong các vùng rừng nhiệt đới ẩm ướt và đầm lầy.Các lá với gân lá
hình chân vịt với kết cấu như da, mép lá nguyên, thường là bất đối xứng ở phần
gốc lá, vì thế mà có tên gọi bất đẳng diệp. Chúng hoặc có các lá kèm nhỏ hoặc
không có. Các lá mọc so le; xoắn hay xếp thành hai dãy. Các cặp lá có thể khác
biệt rõ nét về kích thước hay hình dáng. Các hoa nhỏ, đều và thuộc dạng chia 3
tới 5 phần. Chúng thường kết hợp lại thành tổ hợp chùm hay cành hoa ở nách lá.
Hoa chủ yếu là đơn tính cùng gốc, ngoại trừ chi Combretocarpus có hoa lưỡng
tính (hoa hoàn hảo). Bầu nhụy hạ, 3 tới 4 ngăn, phát triển thành quả hạch hay quả
cánh ở chi Combretocarpus thường với 1hạt, nhưng ở chi Poga là 3-4 hạt. Phân
bố tại khu vực miền bắc Nam Mỹ,Trung Phi, miền nam Ấn Độ, Malaysia và
Indonesia [8].
- Họ thu hải đường (Begoniaceae): Họ này có khoảng 1.400 loài sinh
trưởng trong khu vực nhiệt đới và cận nhiệt đới. Phân bố chủ yếu tại Trung Mỹ,
Nam Mỹ, châu Phi (khu vực hạ Sahara), Ấn Độ, Trung Quốc, Đông Nam Á.
- Họ mã tang (Coriariaceae): Họ này bao gồm khoảng 5-24 loài trong 1
chi. Cây bụi hay cây gỗ nhỏ, phân bổ rời rạc trong khu vực ôn đới ấm trên thế
giới, lá của chúng là dạng lá đơn, mọc đối thành vòng xoắn, dài 2-9 cm, không có
lá kèm. Hoa mọc thành cụm hoa dạng cành, dài 2-30 cm, mỗi hoa đơn lẻ nhỏ,
màu ánh lục, với 5 cánh hoa. Quả là dạng quả mọng nhỏ màu đen bóng (đôi khi
màu vàng hay đỏ), rất độc ở vài loài, mặc dù quả của C.terminalis lại ăn được.
6
Phân bố chủ yếu tại các đảo nam Thái Bình Dương, bán đảo Iberia, miền nam
Trung Quốc, Nhật Bản, Trung và Nam Mỹ, dọc theo dãy Andes [8].
- Họ Corynocarpaceae: Khoảng 6 loài trong 1 chi, phân bố tại Papua
gốc cạnh của thân tuỳ thuộc vào đặc điểm của giống. Thân có khả năng ra rễ bất
định ở đốt. Tua cuốn phân nhánh mọc ở đốt thân. Thân mọc chậm ở giai đoạn
đầu khoảng ba tuần sau khi gieo. Bên trong thân rỗng và xốp, bên ngoài thân có
nhiều lông tơ. Các nhánh được sinh ra từ các đốt trên thân. Các lóng trên thân
phát triển rất nhanh.
1.2.1.3. Lá bí đỏ
Lá mầm to có dạng hình trứng. Trong điều kiện chăm sóc tốt, các lá mầm
có thể kéo dài tuổi thọ đến hết thời gian sinh trưởng của cây. Lá đơn,mọc cách,
cuống dài, phiến lá rộng, tròn hay gốc cạnh, có xẻ thùy sâu hay cạn, màu xanh
hay lốm đốm trắng... Diện tích mặt lá lớn nên khả năng quang hợp mạnh. Trên bề
mặt lá có nhiều lông tơ bao phủ nên hạn chế khả năng tiêu thụ nước.
1.2.1.4. Hoa bí đỏ
Hoa đơn tính cùng cây, to, cánh màu vàng, thụ phấn nhờ côn trùng. Số
lượng hoa đực nhiều hơn hoa cái từ 10-30 lần. Hoa nằm đơn độc ở nách lá. Hoa
có cánh và có màu vàng đậm, có bầu noãn hạ, cuống hoa dài, phần lớn hoa nở
vào buổi sáng. Quả phát triển nhanh sau khi hoa cái nở. Khi nở hoa hướng lên
trên nhưng quả phát triển hướng xuống. Trong điều kiện khí hậu không thuận lợi
cây sinh ra hoa lưỡng tính hay hoa đực bất thụ.
1.2.1.5. Quả bí đỏ
Quả bí đỏ thuộc loại phì quả, có 3 tâm bì. Hình dạng, kích thước, màu sắc
quả thay đổi tùy thuộc theo giống. Đặc điểm của cuống quả là một đặc tính dùng
để phân biệt các loài bí trồng. Cuống quả mềm hay cứng, tròn hay gốc cạnh, đáy
8
cuống phình hay không. Vỏ trái cứng hay mềm, trơn láng hay sần sùi, màu sắc
vỏ trái thay đổi từ xanh đậm tới vàng, hơi trắng. Hình dạng quả rất thay đổi từ
tròn, oval tới dài. Thịt quả dầy hay mỏng, màu vàng đỏ đến vàng tươi. Quả càng
to thì ruột quả càng nhiều. Ruột chứa nhiều hạt nằm giữa quả [10].
nước và dinh dưỡng nhất. Vậy nên việc giữ được độ ẩm và cung cấp đủ dinh
dưỡng có vai trò quyết định đến năng suất [1].
1.2.2.5. Thời kỳ già cỗi
Thời kỳ này sinh trưởng về thân, lá giảm mạnh, cây tàn. Thời kỳ này cây
vẫn tiếp tục ra hoa, quả nhưng ít và bị dị dạng nhiều, chất lượng thấp. Nếu chăm
sóc tốt ta có thể kéo dài được tuổi thọ lá và quả ra sau cũng ít bị dị dạng hơn [1].
1.2.3. Điều kiện ngoại cảnh
1.2.3.1. Nhiệt độ
Bí đỏ thích nghi rộng với điều kiện vùng nhiệt đới, bí có thể trồng ở đồng
bằng cho đến cao nguyên có cao độ 1.500m. Cây bí đỏ sinh trưởng ở giới hạn
nhiệt độ 10-400C. Nhiệt độ thích hợp cho cây sinh trưởng và phát triển là từ 28300C. Nhiệt độ và độ dài ngày đều có ảnh hưởng trên sự hình thành tỉ lệ hoa đực
và cái trên cây. Sự chênh lệch nhiệt độ ngày và đêm càng lớn thì hoa cái ra càng
nhiều. Ngày dài và nhiệt độ cao thích hợp cho cây ra nhiều hoa đực [9].
1.2.3.2. Ánh sáng
Cây bí đỏ yêu cầu ánh sáng ngày ngắn 10-12 giờ chiếu sáng trong ngày.
Cây sinh trưởng tốt trong điều kiện cường độ chiếu sáng mạnh. Quang chu kỳ
ngắn kết hợp với cường độ ánh sáng mạnh thúc đẩy ra hoa cái nhiều, tăng tỷ lệ
đậu quả, quả chín sớm, năng suất cao. Trời mưa nhiều, âm u, thiếu ánh nắng cây
sẽ sinh trưởng kém, ít đậu quả, dễ nhiễm sâu bệnh [9].
1.2.3.3. Nước
10
Cây yêu cầu nhiều nước vì có bộ lá to và nhiều lá. Ẩm độ đất 70-80% là
thích hợp. Ẩm độ cao không thích hợp cho cây phát triển vì dễ phát sinh bệnh
trên lá. Cây bí đỏ có khả năng chịu hạn khá, ưa khô nhưng nếu khô hạn quá dễ bị
rụng hoa và quả non. Cây bí đỏ thuộc nhóm hút nước mạnh, tiêu hao ít.
1.2.3.4. Đất và dinh dưỡng
Cây không kén đất nhưng đòi hỏi phải thoát nước tốt, vì cây chịu úng kém
nhiều hơn tất cả các bộ phận khác. Việc tích lũy chất dinh dưỡng giảm trong giai
đoạn đầu đến 42 ngày sau gieo, sau đó các chất dinh dưỡng bắt đầu được tích lũy
dần. Ở các bộ phận của cây, kali là chất được hấp thu nhiều nhất, tiếp theo là nitơ
và canxi. Thứ tự các chất dinh dưỡng được tích lũy là K>N>Ca>P>Mg>S và các
chất vilượng là F>Mn>Zn>Cu. Thời điểm thu hoạch 98 ngày sau gieo: 69% vật
chất khô tích lũy trong quả, 19% trong lá, 8% trong thân cây, 4% trong hoa và
rễ.Các chất N, K, S, và Cu tích lũy nhiều hơn ở trong quả, trong khi các chất
P,Ca, Mg, Zn, Fe, và Mn tập trung ở các cơ quan sinh dưỡng. Khi tiến hành phân
tích các thành phần trong hạt bí đỏ người ta thấy trong hạt bí đỏ chứa nhiều
vitamin và chất khoáng kể cả kẽm, cùng những amino acid cần thiết như alanin,
glycin, glutamin có thể giảm bớt các triệu chứng của bệnh phì đại tuyến tiền liệt.
Hạt bí đỏ dùng để chế tạo một loại dầu chứa nhiều carotenoid như beta-caroten,
alpha-caroten, zéaxanthine, lutein là những chất tiền vitamin. Các carotenoid là
những chất chống oxy hóa mạnh giúp phòng ngừa các bệnh liên quan đến lão
hóa, suy nhược cơ thể, đục thủy tinh thể, các bệnh tim mạch và một số loại ung
thư [6].
Một số thành phần trong hạt bí đỏ:
- Magnesium: Góp phần vào việc khoáng hóa xương, cấu trúc protein, gia
tăng tác động biến dưỡng của các enzym, việc co thắt cơ, sự dẫn truyền luồng
thần kinh, tăng sức khỏe cho răng và chức năng hệ miễn nhiễm.- Acid linoleique
(omega 6): Một acid béo cần thiết mà người ta phải được cung cấp từ thực phẩm.
Cơ thể cần acid béo này để giúp cho hệ miễn nhiễm, hệ tuần hoàn và hệ nội tiết
hoạt động tốt.
12
- Đồng: Cần thiết trong việc hấp thu và sử dụng sắt trong việc tạo lập
hemoglobine. Đồng thời tham dự vào hoạt động của các enzym góp phần tăng
cường khả năng của cơ thể chống lại các gốc tự do.
-
Năng
lượng
271
Kcal/100g
-
Protein:
43.8g;
Fat:
4.2g;
Carbohydrate:35.4g; Chất xơ: 15.6g; Ash: 16.7g; - Khoáng chất - Calcium:
1323mg; Phospho: 1000mg; Iron: 60.4mg; Magiê: 0mg; Sodium: 0mg; Kali:
0mg; Kẽm: 0mg; - Vitamin - A: 16979mg; Thiamin (B1): 1.5mg; Riboflavin
(B2):1.8mg; Niacin: 18.8mg; B6: 0mg; C: 604mg;
Thành phần trong mỗi 100g hạt bí ở trạng thái khô bao gồm
- Năng lượng: 578 Kcal/100g - Protein: 30.3g;
Fat: 48.8g;
giới
DT
NS
SL
DT
NS
SL
DT
NS
SL
DT
NS
SL
DT
NS
SL
DT
NS
SL
Châu
Á
Châu
Âu
Châu
Úc
Châu
Mỹ
11991563 12510268 12680914 12989033 13266829 13390541
174285
204608
129865
139529
139471
129949
174285
204608
129865
139529
139471
129949
3337267 3683325 2939512 3170322 3072304 2937530
16406
15728
17083
16750
17250
146.75
142.51
137.83
171.47
180.18
240761
224134
235448
287206
310805
213065
%. Châu Phi là châu lục có diện tích trồng bí đỏ lớn thứ hai sau Châu Á, tuy
nhiên trong khi diện tích của Châu Á có xu hướng tăng qua các năm thì diện tích
bí đỏ của Châu Phi lại có xu hướng giảm. Trong 6 năm trở lại đây,thì năm 2003
diện tích trồng bí đỏ của Châu Phi là cao nhất đạt 264553 ha chiếm 17,22% diện
tích toàn thế giới và thấp nhất là năm 2007 đạt 244318 ha chiếm 15,76%. Châu
Mỹ cũng là châu lục có diện tích trồng bí đỏ khá lớn, tuy nhiên diện tích trồng
cũng đang có xu hướng giảm dần. Diện tích trồng được nhiều nhất là năm 2004
15
đạt 238209 ha nhưng năm 2005 thì tỷ lệ diện tích trồng của Châu Mỹ so với thế
giới lại đạt cao nhất là 15,25%. Năm 2008 có diện tích thấp nhất là 203191 ha đạt
13,28% so với diện tích toàn thế giới. Ở Châu Âu, diện tích bí đỏ cao nhất là năm
2004 đạt 204608 ha đạt 12,60 % diện tích bí đỏ toàn thế giới nhưng năm 2005
giảm rất mạnh tới 74743 ha và đạt thấp nhất chỉ còn chiếm 8,38% diện tích toàn
thế giới. Châu Đại Dương là châu lục trồng rất ít bí đỏ so với toàn thế giới. Năm
2007 trồng nhiều nhất trong 5 năm gần đây đạt 17250 ha chiếm 1,11% diện tích
toàn thế giới.
Về năng suất, năng suất bí đỏ trung bình của Châu Âu đạt cao nhất trong
các châu lục. Trong 6 năm trở lại đây thì năng suất bí đỏ trung bình của Châu Âu
có xu hướng tăng, năm 2006 là năm có năng suất cao nhất đạt 226.02 tạ/ha bằng
167,95% năng suất trung bình của thế giới. Châu Phi là châu lục có năng suất bí
đỏ trung bình thấp nhất. Năng suất trung bình của Châu Phi chỉ bằng hơn 50%
năng suất trung bình của thế giới và ngày càng có xu hướng giảm. Năm 2003
năng suất trung bình của Châu Phi đạt 75,90 tạ/ha bằng 57,68% năng suất thế
giới, đến năm 2008 chỉ đạt 70,57 tạ/ha bằng 51,68%. Châu Đại Dương là châu
lục có năng suất khá cao, chỉ sau Châu Âu.
Năng suất trung bình cũng có sự biến động, tuy nhiên vẫn cao hơn năng
suất trung bình của thế giới. Tính đến năm 2007 thì năng suất đạt cao nhất
330212 ha chiếm 21,58% của thế giới và 35,26% của Châu Á. Về năng suất,
Trung Quốc là quốc gia trồng bí đỏ có năng suất khá cao. Năm 2008 đạt năng
suất trung bình 192,59 tạ/ha bằng 149,40% năng suất trung bình của thế giới, tuy
nhiên những năm gần đây năng suất không tăng.
Bảng 1.2 : Tình hình sản xuất bí đỏ của một số nước trên thế giới
ĐVT: DT=ha; NS=tạ/ha; SL=tấn
Quốc gia
Chỉ
tiêu
Năm
2003
2004
2005
2006
2007
2008
17
Ukraine
186.93
186.91
190.72
192.24
192.59
SL
5574707
5667398
5756741
6073725
6309623
6359623
DT
49600
52800
553800
524700
533400
DT
36630
39700
39990
40790
39500
34720
NS
196.10
205.37
216.53
219.19
30629
NS
146.85
156.32
146.70
141.24
138.37
158.55
SL
543221
532218
511305
546569
516721
485625
156428
397015
392961
371127
365698
252843
DT
4451
4632
4324
4466
5083
4649
NS
132.28
39200
39500
39800
35000
NS
180.32
176.25
176.02
176.86
182.06
186.25
SL
802235
678254
690000
63.05
57.84
SL
481784
517151
550111
446506
455500
422480
DT
7600
7600
9500
7418
8840
-
Nguồn: FAO, 2009
Trong những quốc gia sản xuất bí đỏ có năng suất cao phải kể đến Mỹ.
Năng suất bí đỏ trung bình của Mỹ đạt cao nhất thế giới, và trong những năm trở
lại đây, năng suất trung bình của Mỹ có xu hướng tăng. Năm 2003, năng suất bí
đỏ bình quân của Mỹ đạt 196,10 tạ/ha bằng 149,02% nắng suất của thê giới. Năm
2008 năng suất trung bình đạt 226,66 tạ/ha bằng 166,00% năng suất trung bình
của thế giới. Trong những quốc gia sản xuất nhiều bí đỏ thì Cuba là nước có năng
suất bình quân thấp nhất. Năng suất bí đỏ ở Cuba có sự biến động và có chiều
hướng giảm. Năm 2003, năng suất bình quân đạt 70,05 tạ/ha bằng 53,23% năng
suất bình quân của thế giới, đến năm 2008 năng suất bình quân đạt 57,84 tạ/ha
bằng 42,36%.
1.3.2.3. Sử dụng bí đỏ trên thế giới
- Làm thực phẩm. Các món ăn chế biến từ bí đỏ rất phổ biến trong bữa ăn
của các gia đình. Loại quả này được coi là thực phẩm vàng vì chúng chứa nhiều
các vitamin và khoáng chất cần thiết cho sức khỏe cơ thể. Ngoài ra bí đỏ còn
được sử dụng trong các ngành công nghiệp thực phẩm. Các sản phẩm như cháo
bí đỏ đóng lon, mứt bí đỏ, snack bí đỏ, dầu ăn... rất phổ biến
- Các hoạt động văn hóa. Halloween là một ngày lễ hội truyền thống được
tổ chức vào đêm ngày 31 tháng 10 hàng năm. Đặc biệt trong ngày này những
đứa trẻ sẽ hoá trang trong những bộ trang phục quái lạ đi đến gõ cửa những ngôi
nhà để xin bánh kẹo. Ngày lễ này được tổ chức ở các nước phương Tây, chủ yếu
ở Hoa Kỳ, Canada, Vương quốc Liên hiệp Anh và BắcIreland, Ireland, Puerto
Rico, Úc và New Zealand. Đến nay, ngày lễ halloween đang ngày càng trở lên
19