PHẦN MỞ ĐẦU
“Sử dụng phương pháp thí nghiệm trong dạy học hoá học nhằm phát huy
tính tích cực hoạt động học tập của học sinh trường THCS.”
1. Lý do chọn đề tài.
Dạy tốt - Học tốt được coi là nhiệm vụ trọng tâm của nhà trường. Trong công
tác giảng dạy từ nhiều năm nay phương hướng giảng dạy phát huy tính tích cực, chủ
động, tự giác của học sinh là vấn đề mà nhiều nhà giáo dục phải suy nghĩ, thí nghiệm,
nghiên cứu. Trong mỗi bài giảng phải làm sao cải tiến được nội dung, phương pháp
giảng dạy. Cố thủ tướng Phạm Văn Đồng đã nói: “Làm sao ngay từ trong nhà trường
ta bắt buộc đứa trẻ dùng cái trí khôn, trí thông minh, cái suy nghĩ mà hiểu biết rộng
ra. Và từ đó đến lúc ra trường, vào đời phát huy được tài năng, tin tưởng vào sức
mạnh. Tự thấy là một con người có khả năng sáng tạo. thì ở nhà trường phải làm thế
nào tiếp sức cho trí thông minh cho nó, cái óc suy nghĩ cho nó và tất cả các khả năng
suy nghĩ, lẽ dĩ nhiên phải có cơ sở, phải có phương pháp .”
Vậy chúng ta thấy rõ ràng một trong những nhiệm vụ quan trọng của nhà
trường là : Rèn chí thông minh, óc suy nghĩ sáng tạo cho học sinh. Muốn làm được
việc đó. Mỗi Giáo viên cần phải biết phát huy tính tích cực, tự giác, độc lập suy nghĩ
của học sinh làm sao khai thác sâu được kiến thức giúp học sinh nắm kiến thức
nhanh, chính xác. Để đạt được như vậy vấn đề đặt ra là mỗi Giáo viên cần sử dụng
phương pháp cho phù hợp với môn học, tiết học là hết sức quan trọng.
Nội dung học tập của bộ môn hoá học ở trường THCS chứa đựng cả một kho
tàng kiến thức sinh động, phong phú, hấp dẫn, để kích thích tính tò mò, ham hiểu biết
của học sinh tạo điều kiện hình thành động cơ, nhu cầu nhận thức cũng như hứng thú
học tập của học sinh với bộ môn hoá học.
Hơn nữa với bộ môn hoá học đồ dùng học tập có vai trò rất quan trọng, nó vừa
là nguồn cung cấp tri thức vừa là phương tiện giúp học sinh thực hiện các hoạt động
tìm tòi tri thức mới. Do đó việc sử dụng đồ dùng sao cho thích hợp với mỗi tiết học là
một nhiệm vụ quan trọng của Giáo viên .
Thí nghiệm hoá học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong quá trình dạy – học.
Vì vậy xu hướng chung của việc cải cách bộ môn hoá học ở trong nước và trên thế
giới là tăng tỷ lệ giờ cho các giờ thí nghiệm và nâng cao chất lượng các bài thí
thức và kĩ năng cơ bản của Hoá học là một trong những vấn đề quan trọng, mà
phương pháp đổi mới hiện nay đang tạo điều kiện hình thành một cách tư duy sáng
tạo và tích cực trong học sinh. Để thực sự phát huy được vai trò đó thì chúng ta phải
thấy được vai trò của thí nghiệm Hoá học trong dạy học như thế nào ? Nó tạo điều
kiện gì cho quá trình dạy và học.
Sử dụng thí nghiệm Hoá học nhằm tránh được tính chất giáo điều, góp phần
hình thành lôgíc của bài giảng một cách chặt chẽ và phát huy vai trò của tư duy, tăng
hứng thú trong hoạt động học tập của học sinh .
Thí nghiệm Hoá học góp phần làm nổi bật mặt định tính của các hiện tượng,
khái niệm và quá trình Hoá học cũng như mối quan hệ và liên hệ giữa chúng .
Ở trường THCS lần đầu tiên học sinh làm quen với bộ môn hoá học. Vì vậy
trong quá trình dạy – học, việc tạo điều kiện cho cac em tiếp xúc với dụng cụ thí
nghiệm, hoá chất và tìm hiểu những thao tác cơ bản trong thí nghiệm hoá học mang
tính cấp thiết.
Nói tóm lại sử dụng các thí nghiệm hoá học trong quả trình dạy - học giúp cho
giáo viên thể hiện được đúng phương pháp bộ môn, học sinh phát huy được tính tích
cực chủ động sáng tạo trong nhận thức của bản thân .
Bản thân môn hoá học có nhiều khả năng góp phần đạt được mục đích trên.
Song muốn phát huy trí lực của học sinh, giúp học sinh rút ra tri thức mới từ những
tri thức cũ, nhớ nhanh nhớ lâu-giảm nhẹ lao động. Cần thấy đối với bộ môn này là
phải thực hiện tốt nguyên tắc thí nghiệm. Nói một cách khác đúng hơn: Sử dụng thí
nghiệm như thế nào để giúp học sinh rút ra được kiến thức cơ bản, mà đối với học
sinh THCS đây là vấn đề hết sức cần thiết.
1.2. Cơ sở thực tiễn:
Môn Hoá học- trong trường THCS có điều kiện để tiến hành các thí nghiệm
hoá học trong quá trình dạy học bởi vì :
Nội dung chương trình Hoá học gần gũi, hấp dẫn với học sinh. Các hiện tượng,
sự kiện gắn liền với các vấn đề trong đời sống của các em. Nó giúp các em vận dụng
kiến thức để giải thích các thắc mắc, hiện tượng trong thực tiễn .
Phương tiện dạy học Hoá học đa dạng và phong phú, trang bị tương đối đầy đủ
duy độc lập, tích cực, chủ động của học sinh. Trong đó một vấn đề rất quan trọng là
việc sử dụng các thí nghiệm trong giảng dạy bộ môn hoá học.
Từ những vấn đề trên, căn cứ vào thực tế giảng dạy, Tôi có suy nghĩ đi sâu vào
nghiên cứu phương pháp sử dụng thí nghiệm như thế nào trong bộ môn hoá học ở
trườngTHCS nhằm nâng cao chất lượng dạy học.
CHƯƠNG II:
THỰC TRẠNG CỦA VIỆC SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP THÍ NGHIỆM TRONG
GIẢNG DẠY BỘ MÔN HOÁ HỌC Ở TRƯỜNGTHCS TRONG GIAI ĐOẠN
HIỆN NAY
Trong giảng dạy bộ môn hoá học, việc sử dụng thí nghiệm là hết cần thiết. Vấn
đề đặt ra là người giáo viên sử dụng phương pháp này như thế nào để đạt hiệu quả tốt
nhất. Sủ dụng thí nghiệm có thể bằng nhiều hình thức khác nhau:
*Thí nghiệm biểu diễn của giáo viên.
*Thí nghiệm của học sinh.
*Thí nghiệm chứng minh.
*Thí nghiệm thực hành.
*Thí nghiệm ngoại khoá.
Tuỳ vào nội dung của bài dạy, mục đích của việc sử dụng thí nghiệm mà giáo
viên sử dụng các loại thí nghiệm cho phù hợp với nội dung bài giảng.
Theo tinh thần đổi mới về chương trình nội dung của các khối lớp thì phương pháp
dạy học cũng cần phải đổi mới. Hiện nay với nội dung chương trình THCS đã tiến
hành theo chương trình mới, song song với nó việc trang bị TBDH cho các trường đã
được quan tâm và đầu tư. Tuy nhiên tình trạng sử dụng thiết bị trong các giờ lên lớp
chưa đạt hiệu quả trong thực tế còn khá phổ biến. Theo số liệu điều tra cho thấy :
Tình hình sử dụng TBDH đã được trang bị của nhà trường chưa phát huy được
năng lực tích cực, chủ động học tập của học sinh. Nhiều giáo viên còn ngại phải
chuẩn bị thí nghiệm cho các giờ lên lớp, giáo viên dạy môn thực nghiệm còn phải dạy
nhiều giờ trong tuần do đó chưa có thời gian để chuẩn bị thí nghiệm cho học sinh.
Nhiều giáo viên chưa nắm vững kĩ năng cơ bản để tiến hành thí nghiệm Hoá học . Do
đó TBDH chủ yếu dùng để minh hoạ bài giảng , chưa phát huy tính tích cực sáng
việc tổ chức sự kiện khởi đầu tốt sẽ có tác dụng :
- Thu hút sự chú ý của học sinh .
- Làm xuất hiện mối quan hệ chi phối hiện tượng .
- Tạo điều kiện cho học sinh thu thập đầy đủ thông tin để đưa ra các dự đoán
về các mối quan hệ có tính quy luật.
2. Sử dụng thí nghiệm biểu diễn, minh hoạ phù hợp với hoạt động của giáo
viên và học sinh trong quá trình dạy học .
Các thí nghiệm này thường được sử dụng để tìm hiểu kiến thức mới, nhờ
những thí nghiệm này mà học sinh có thể thu thập những thông tin liên quan đến đối
tượng cần nghiên cứu, tạo điều kiện cho tư duy trực giác của học sinh. Tuỳ theo mức
độ của thí nghiệm và khả năng thực hiện của học sinh mà yêu cầu học sinh hoặc giáo
viên làm. Khi hướng dẫn học sinh thí nghiệm thí nghiệm cần chú ý để học sinh vận
dụng được vốn kiến thức và kinh nghiệm sẵn có của mình để đối chiếu, so sánh với
những sự kiện vừa thí nghiệm. Cần định hướng sự chú ý của học sinh vào các vấn đề
sau :
- Diễn biến của hiện tượng.
- Một hay nhiều hiện tượng diễn ra trong một thí nghiệm.
- Chiều hướng của sự biến đổi .
- Dấu hiệu của bản chất của sự biến đổi.
Hình thức thí nghiệm này đặc biệt khuyến khích học sinh mạnh dạn đưa ra
những suy nghĩ riêng của mình. Khi thí nghiệm xác nhận dự đoán của mình là đúng
học sinh rất phấn khởi, tin tưởng vào bản thân . Từ đó khắc phục tâm lý thường giặp
ở học sinh khi học hoá học .
3. Kết hợp thí nghiệm biểu diễn của giáo viên và thí nghiệm nghiên cứu của
học sinh nhằm phát huy tính tích cực hoạt động học tập của học sinh:
Từ thực trạng của việc sử dụng phương pháp thí nghiệm trong giảng dạy bộ
môn hoá học trong giai đoạn hiện nay. Tôi đề xuất quy trình thí nghiệm của học sinh
để nghiên cứu bài mới gồm các bước sau:
- Xác định nhiệm vụ học tập : Làm cho học sinh có nhu cầu thí nghiệm và ý
thức được nhiệm vụ thí nghiệm .
hành thí nghiệm để hình thành nên mẫu phiếu học tập và rút ra được các nhận xét sơ
bộ về hiện tượng quan sát được.
Ví dụ: Khi dạy bài tính chất của oxi (hoá học 8).
Khi nghiên cứu tính chất hoá học của oxi (Tác dụng với lưu huỳnh)
Giáo viên giới thiệu các dụng cụ vá hoá chất cần cho thí nghiệm.
Giáo viên hướng đẫn học sinh tiến hành thí nghiệm đốt lưu huỳnh trong oxi:
- Dùng muôi sắt lấy một lượng lưu huỳnh bằng hạt ngô.
- Đưa muôi sắt có chứa lưu huỳnh vào ngọn lửa đèn cồn.
-> Yêu cầu học sinh quan sát hiện tượng.
- Đưa lưu huỳnh đang cháy vào lọ oxi.
-> Quan sát hiện tượng và so sánh với lưu huỳnh cháy ngoài không khí.
Từ đó giáo viên và học sinh cùng hình thành nên mẫu phiếu học tập:
Thí nghiệm
Hiện tượng
Nhận xét
Phương trình
hóa học
S cháy trong
không khí
S cháy trong
oxi
Bước 3 : Học sinh tự tiến hành thí nghiệm theo nhóm:
Giáo viên chia học sinh trong lớp thành một số nhóm, trong điều kiện các
trường có phòng học bộ môn thì giáo viên nên chia lớp thành 4 nhóm. Với các trường
chưa có phòng học bộ môn hiện nay học sinh thường ngồi 4 em một bàn thì tốt nhất
là cho Học sinh ở bàn trên ngồi quay xuống cùng với các em bàn dưới lập thành một
nhóm thí nghiệm.
Mỗi nhóm được giao nhiệm vụ thí nghiệm độc lập, sau khi tiến hành thí
nghiệm theo nhóm các em thảo luận và rút ra nhận xét và ghi vào các ô còn để trống
của phiếu học tập. Trong khi các em thí nghiệm và thảo luânh nhóm giáo viên bao
Lưu huỳnh
cháy trong
khí oxi mãnh
liệt hơn, với
ngọn lửa màu
xanh sinh ra
chất khí
không màu.
ở nhiệt độ
cao oxi đã
tác dụng
với lưu
huỳnh sinh
ra khí lưu
huỳnh
đi oxit
(SO
2
)
S + O
2
o
t
→
SO
2
Bước 4: Đáng giá, chính xác hoá, vận dụng, mở rộng kiến thức.
Giáo viên kết hợp với học sinh đánh giá hoạt động thí nghiệm của từng nhóm
học sinh (Nếu hoạt động này chưa được thực hiện xen kẽ thông qua việc góp ý, bổ
suy nghĩ để giải thích các hiện tượng quan sát được và tự mình rút ra các kết luận về
chiều biến đổi của chất. (Bược 2 – Bước 3: Hướng dẫn học sinh tiến hành thí
nghiệm. Học sinh tự tiến hành thí nghiệm theo nhóm).
Kết quả các bước đó lại được vận dụng ngay ở bước 4 (chính xác hoá, mở rộng
kiến thức). Các bước được phân định khá rạch ròi nhưng lại hỗ trợ nhau như vậy nên
học sinh vừa được “ tạm nghỉ” sau mỗi hoạt động, lại vừa tích cực chuẩn bị để hào
hứng bước vào hoạt động tiếp sau. Giáo viên cần hiểu rõ đặc điểm này của tiến trình
bài dạy để có những câu nói, những cách thức điều khiển sự chuyển tiếp linh hoạt các
hoạt động của học sinh.
Như vậy mỗi bài học trên lớp có ít nhất bốn tình huống học tập: Mỗi hoạt động
là một tình huống lớn, các bước 2, bước 3, bước 4 ứng với ba tình huống nhỏ. Mỗi
tình huống đó đều phải là một sẩn phẩm có chủ ý do Giáo viên thiết kế ra, trong đó
học sinh chủ động thí nghiệm, suy nghĩ để bổ xung, điều chỉnh kiến thức nhằm giải
quyết vấn đề đã được đặt ra.
*Ví dụ : Vận dụng quy trình hoạt động thí nghiệm trong dạy học bài:
Bài 44: Rượu etylic
I. Mục tiêu:
Thông qua tiến hành các hoạt động:
Học sinh nắm được công thức phân tử, công thức cấu tạo, tính chất vật lý, tính
chất hoá học và ứng dụng của rượu etylic.
Biết nhóm - OH là nhóm nguyên tử gây ra tính chất hoá học đặc trưng của
rượu.
Biết độ rượu, cách tính độ rượu, cách điều chế rượu.
Viết được phương trình hoá học phản ứng của rượu với natri, biết cách giải
một số bài tập hoá học về rượu.
Giáo dục ý thức yêu thích bộ môn.
II. Chuẩn bị đồ dùng dạy – học:
Giáo viên chuẩn bị đủ dụng cụ cho 4 nhóm học sinh và dụng cụ của giáo viên.
Mỗi nhóm gồm:
Mô hình phân tử rượu, ống nghiệm, đế sứ, cốc thuỷ tinh, diêm, tấm kính nhỏ,
Độ rượu là tỷ lệ % thể tích của rượu etylic trong hỗn hợp với nước.
Công thức tính độ rượu:
Đ
r
=
Vdr
Vr
. 100
Hoạt động 2. Tìm hiểu công thức cấu tạo của rượu etylic:
Từ công thức phân tử: C
2
H
6
O Yêu cầu học sinh viết công thức cấu tạo tương
ứng với công thức trên? Trong hai công thức đó công thức nào là công thức cấu tạo
biểu diễn đúng cấu tạo của rượu etylic?
Giáo viên cho học sinh lắp mô hình phân tử rượu etylic, em có nhận xét gì về
đặc điểm cấu tạo của rượu etylic?
Hoạt động 3. Tìm hiểu tính chất hoá học của rượu etylic:
1. Rượu etylic có cháy không?
Giáo viên đặt vấn đề:
Các hiđrro cacbon thì tham gia phản ứng cháy với oxi tạo thành cacbon đi oxit
và nước. Trong phân tử rượu etylic ngoài hiđro và cacbon ra còn có oxi. Vậy theo em
rượu etylic có tham gia phản ứng cháy với oxi không? Nếu có thì em hãy dự đoán sản
phẩm tạo thành?
Chúng ta hãy tiến hành thí nghiệm để kiểm tra dự đoán của các em:
Giáo viên hướng dẫn học sinh tiến hành thí nghiệm: Cho khoảng 2ml rượu
etylic vào đế sứ rồi châm lửa đốt. Dùng ống nghiệm úp phía trên ngọn lửa.
Sau một thời gian lấy ống nghiệm ra quan sát sau đó cho một ít nước vôi trong
vào ống nghiệm lắc nhẹ.
nhiệt.
- Trên thành ống
nghiệm xuất hiện
nhứng giọt nước.
- Sau khi cho nước
vôi trong vào ống
nghiệm lắc nhẹ
thấy nước vôi
trong vẩn đục.
- Do rượu etylic phản
ứng với oxi tạo thành
nước.
- Do khí cacbonic tạo
thành trong phản ứng
của rượu etylic với oxi
đã làm nước vôi trong
vẩn đục.
C
2
H
5
OH+ 3O
2
2CO
2
+ 3H
2
O
? Qua thí nghiệm trên em có nhận xét gì về tính chất hoá học này của rượu?
Phản ứng của
rượu etylic với
natri
Giáo viên phát dụng cụ và hoá chất cho các nhóm và yêu cầu học sinh tự tiến
hành thí nghiệm theo nhóm. Quan sát hiện tượng và hoàn thành phiếu học tập trên.
Các nhóm học sinh thảo luận và hoàn thành phiếu học tập.
Các nhóm cử đại diện báo cáo kết quả, nhóm khác nhận xét, bổ xung.
Thí Hiện tượng Nhận xét và dự đoán Viết phương trình
nghiệm sản phẩm tạo thành hoá học xảy ra.
Phản ứng
của rượu
etylic với
Natri
Có bọt khí thoát ra,
mẩu natri tan dần.
Tương tự như nước
nhờ có nhóm – OH
nên rượu etylic tác
dụng được với natri
giải phóng khí hiđro
2CH
3
– CH
2
– OH
+ 2Na
2CH
3
– CH
2
Có hai phương pháp điều chế rượu etylic:
Phương pháp lên mem rượu:
Tinh bột hoặc đường Rượu etylic.
Hoặc: C
2
H
4
+ H
2
O C
2
H
5
OH
Lên men
Axit
4. Luyện tập – củng cố:
Giáo viên cho học sinh làm bài tập sau:
Cho natri dư tác dụng với dung dịch rượu etylic. Có những phản ứng nào có
thể xảy ra? Hãy viết phương trình hoá học. Khí tạo thành trong phản ứng này bao
gồm những chất nào? Hãy giải thích.
Giáo viên có thể gợi ý cho học sinh bàng các câu hỏi:
? Trong dung dịch rượu có những chất nào?
? Natri tác dụng được với những chất nào trong dung dịch đó?
Yêu cầu học sinh làm bài ra phiếu học tập.
5. HDVN:
Bài tập về nhà: 1,2,3,4,5/139 – SGK.
Đọc mục: “ Em có Biết?”
CHƯƠNG IV
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
PHẦN KẾT LUẬN
1. Một số kết luận:
Như vậy với cách sử dụng thí nghiệm trong việc phát huy tính tích cực hoạt
động thí nghiệm của học sinh trong giảng dạy bộ môn hoá học ở trường THCS. Với
các bước hướng dẫn Học sinh thí nghiệm , phân tích thí nghiệm phát huy trí lực Học
sinh .Giáo viên giữ vai trò hướng dẫn - Học sinh làm quen với cách tư duy lập luận
lôgíc chất lượng bộ môn được nâng cao thực sự .Nói một cách khác đi với cách giảng
dạy như tôi đã trình bày ở trên, học sinh dưới sự chỉ đạo của Giáo viên tích cực thí
nghiệm , phân tích, tổng hợp, tự mình rút ra được các kiến thức cơ bản của bài học.
Như vậy học sinh sử dụng nhiều thao tác tư duy có liên quan đến quá trình
nhận thức . Đến một giai đoạn nhất định học sinh chủ động khám phá ra những kiến
thức hình thành những khái niệm nội dung bài học. Khi sử dụng thí nghiệm trong
giảng dạy không thể coi đây là giáo cụ thí nghiệm minh hoạ cho bài giảng mà phải
coi thí nghiệm là dụng cụ để dẫn dắt, hướng dẫn học sinh tự tìm ra kiến thức mới.
Thầy giáo không chỉ truyền thụ kiến thức đơn thuần mà người thầy phải dùng thí
nghiệm, tổ chức cho học sinh tiến hành thí nghiệm để học sinh tự đi sâu vào bài học
một cách có ý thức, các em chủ động tiếp thu kiến thức thông qua các hoạt động thí
nghiệm của mình. Do đó thông qua việc tích cực hoạt động thí nghiệm tạo điều kiện
kích thích học sinh học tập với tính tự lập cao giúp cho quá trình nhận thức của các
em nhanh và chính xác.
Học tập là hoạt động tích cực, tự lực và sáng tạo của học sinh. Thí nghiệm là
những hoạt động cần được vận dụng trong dạy học sinh theo định hướng phát huy
tính tích cực hoạt động học tập,đảm bảo nguyên tắc thống nhất giữa cụ thể và trừu
tượng trong dạy học.
Thí nghiệm giúp các em mở rộng, củng cố,chính xác hoá kiến thúc khái niệm.
Muốn tổ chức hợp lý, phát huy được hiệu quả của các hoạt động thí nghiệm
trong dạy học hoá học cần phải dựa trên các phân tích về nội dung, thời gian , phương
tiện và các điều kiện dạy học khác; phải phù hợp với các đặc điểm tâm sinh - lý Học
sinh .
Tóm lại : Với bộ môn hoá học không có Thí nghiệm thì khó có thể nói đến học