Nguyễn Thị Minh Nguyệt
CHƯƠNG I
NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ THẺ THANH TOÁN
I. TỔNG QUAN VỀ THẺ THANH TOÁN
1. Lịch sử hình thành và phát triển của thẻ thanh toán
Nhiều người trong chúng ta hẳn đã từng gặp những tình huống khó xử
khi trong người không có tiền mặt (ngay cả đối với những người “tiền nong
không thành vấn đề”). Chiếc thẻ đầu tiên đánh dấu cuộc cách mạng về thẻ
tín dụng ra đời từ một tình huống tương tự thế. Đó là vào một buổi tối năm
1949, sau khi ăn tối ở một nhà hàng, ông Frank Mc Namara, một doanh nhân
người Mỹ, bỗng phát hiện mình không mang theo tiền mặt và ông buộc phải
gọi điện về nhà để người nhà mang tiền đến trả. Cũng vào thời gian này, ở
Mỹ, người ta đã sử dụng khá phổ biến các loại thẻ để mua hàng, mua xăng
nhưng tiền mặt vẫn chiếm tỷ trọng lớn trong các giao dịch. Từ những bất cập
đó, Frank đã sáng tạo ra thẻ “Diners Club”, một loại thẻ tín dụng đầu tiên
trên thế giới. Với lệ phí hàng năm là 5USD, những người mang thẻ “Diners
Club” có thể ghi nợ khi đi ăn ở 27 nhà hàng nằm trong hoặc ven thành phố
New York. Đến năm 1951, hơn 1 triệu USD được chi tiêu bằng thẻ này tại
Mỹ. Cũng trong năm 1951, Ngân hàng Franklin National Bank ở
LongIsland, New York phát hành thẻ tín dụng đầu tiên của mình. Tại đây,
khách hàng đệ trình đơn xin vay và được thẩm định khả năng thanh toán .
Các ngân hàng đủ tiêu chuẩn sẽ được duyệt cấp thẻ. Thẻ này dùng thanh
toán cho các thương vụ bán lẻ hàng hoá- dịch vụ. Các chủ thẻ rất thích hình
thức này vì được hưởng khoản tín dụng không tính lãi do ngân hàng cấp, còn
các ĐVCNT cũng bán được nhiều hơn. Chính vì sự tiện lợi của Diners Club
cũng như sự ưa thích của cả chủ thẻ lẫn ĐVCNT nên đến năm 1955, hàng
loạt các loại thẻ tương tự ra đời, như: Trip Charge, Goldenkey, Gourment,
1 1
Nguyễn Thị Minh Nguyệt
Guest Club, Esquire Club, … Năm 1958 Carte Blanche và American
Express ra đời và thống lĩnh thị trường.
tin được mã hoá ở mặt sau của thẻ. Thẻ này được sử dụng phổ biến trong
vòng 20 năm trở lại đây nhưng cũng có thể bị người khác lợi dụng vì thông
tin ghi trong thẻ hẹp và mang tính cố định nên không thể áp dụng kĩ thuật
mã hóa an toàn, có thể đọc được dễ dàng băng thiết bị gắn máy vi tính.
• Thẻ thông minh ( Smart Card )
Là thế hệ thẻ mới nhất của thẻ thanh toán, có tính an toàn bảo mật rất
cao. Thẻ thông minh dựa trên kĩ thuật xử lý tin học nhờ gắn vào thẻ một chíp
điện tử có cấu trúc giống như một máy tính hoàn hảo. Tuy vậy, do là công
nghệ mới, có giá thành cao nên việc phát hành chấp nhận thanh toán loại thẻ
này mới chỉ phổ biến ở các nước phát triển.
b/ Theo chủ thể phát hành
• Thẻ do ngân hàng phát hành ( Bank Card )
Đây là loại thẻ do ngân hàng phát hành giúp cho khách hàng sử dụng
một cách linh hoạt tài khoản của mình tại ngân hàng, hoặc sử dụng một số
tiền do ngân hàng cấp tín dụng.
• Thẻ do tổ chức phi ngân hàng phát hành ( Non-bank Card )
Đây là thẻ du lịch và giả trí của các tập đoàn kinh doanh lớn phát hành
bởi các công ty xăng dầu, điện thoại, các cửa hiệu lớn.
c/ Theo tính chất thanh toán của thẻ:
• Thẻ tín dụng ( Credit Card )
3 3
Nguyễn Thị Minh Nguyệt
Đây là loại thẻ cho phép chủ thẻ sử dụng thẻ để thanh toán cho các
hàng hoá dịch vụ với hạn mức chi tiêu nhất định mà ngân hàng cho phép
căn cứ vào khả năng tài chính, số tiền ký quỹ hoặc tài sản thế chấp của chủ
thẻ. Thẻ tín dụng là một hình thức chi tiêu trước, trả tiền sau với thời hạn ưu
đãi không thu lãi (khoảng từ 10 dến 45 ngày). Chủ thẻ có thể thanh toán một
phần hoặc có thể là toàn bộ số tiền đã chi tiêu vào cuối mỗi kỳ tín dụng theo
sao kê hàng tháng.
• Thẻ Ghi Nợ ( Debit Card )
Là loại thẻ đựơc giới hạn trong phạm vi lãnh thổ một quốc gia, do vậy
đồng tiền được sử dụng trong giao dịch mua bán hàng hoá hay rút tiền mặt
phải là đồng bản tệ.
• Thẻ quốc tế
Đây là loại thẻ được chấp nhận trên toàn cầu, sử dụng ngoại tệ mạnh
để thanh toán,. Thẻ quốc tế được hỗ trợ và quản lý bởi những tổ chức tài
chính lớn như Master Card, VISA. hoặc các công ty điều hành như AMEX,
JCB, Diners Club , hoạt động theo một hệ thống thống nhất, đồng bộ.
e/ Theo mục đích sử dụng
• Thẻ kinh doanh hay còn gọi là thẻ công ty ( Business Card )
Là loại thẻ được phát hành cho nhân viên của công ty sử dụng, nhằm
giúp cho công ty quản lý chặt chẽ việc chi tiêu vào các công việc chung của
nhân viên công ty mình. Hàng tháng, hàng quý, hàng năm công ty sẽ được
cung cấp những thông tin quản lý một cách tóm tắt và chi tiết về sự chi tiêu
này.
5 5
Nguyễn Thị Minh Nguyệt
• Thẻ du lịch và giải trí ( Travel and Entertainment Card )
Là loại thẻ do các tập đoàn hay công ty tư nhân lớn phát hành để phục
vụ cho ngành du lịch và giải trí.
3. Đặc điểm và cấu tạo của thẻ thanh toán
3.1 Đặc điểm của thẻ thanh toán
A. Mặt trước của thẻ
(1) Thương hiệu của tổ chức thẻ quốc tế ( nếu là thẻ quốc tế ), đồng thời thể
hiện loại thẻ: VISA, MASTER CARD, AMERICAN EXPRESS, JCB.
(2) Tên tổ chức, ngân hàng phát hành thẻ: nằm phía trên bên trái
thẻ.
(3) Biểu tượng của thẻ:
- Đối với thẻ Visa: Nằm ở góc bên phải thẻ, có hình
chim bồ câu đang bay được in chìm trên thẻ, phía dưới là phù hiệu Visa gồm
hoá đơn với chữ ký mẫu để so sánh. Băng chữ ký này được làm từ một
nguyên liệu đặc biệt có khả năng ngăn cản mọi sự cố gắng tẩy xoá sửa đổi
bề mặt thẻ và được ép chặt trên nền thẻ, không thể dùng tay cậy lên được.
c. Số của thẻ có thể được in lại hoặc hình chủ thẻ
3.2 Cấu tạo của thẻ thanh toán
Dù là bất cứ loại gì, thẻ thanh toán bao giờ cũng có đặc điểm chung
nhất: Được làm bằng Plastic, có tiêu chuẩn quốc tế là 5.5cm x 8.5 cm. Trên
7 7
Nguyễn Thị Minh Nguyệt
thẻ có in đầy đủ các yếu tố như: nhãn hiệu thương mại của thẻ, số hiệu của
thẻ, số thẻ, tên chủ thẻ và ngày hiệu lực.
4. Các chủ thể tham gia trên thị trường thẻ thanh toán
4.1 Chủ thẻ ( Card Holder )
Chủ thẻ là cá nhân hoặc là người được uỷ quyền nếu là thẻ công ty được
ngân hàng phát hành cấp thẻ để sử dụng.
Chỉ có chủ thẻ mới có quyền sử dụng thẻ đứng tên mình để thanh toán
tiền hàng hoá dịch vụ hay rút tiền mặt trong giới hạn ngân hang quy định.
Chủ thẻ có thể gồm chủ thẻ chính và chủ thẻ phụ:
- Chủ thẻ chính: là người đứng tên xin cấp thẻ
và được ngân hàng phát hành cấp thẻ để sử dụng
- Chủ thẻ phụ: là người được cấp thẻ theo đề
nghị của chủ thẻ chính.
Quyền hạn:
Sử dụng thẻ để thanh toán tiền hàng hoá dịch vụ hay rút tiền mặt tại máy
ATM tại ngân hàng thanh toán hay tại cơ sở chấp nhận thanh toán thẻ.
Khiếu nại ngân hàng phát hành khi có sai sót hay nghi ngờ có sai sót trong
bảng kê giao dịch hay ĐVCNT yêu cầu phải trả thêm phụ phí khi nhận
thanh toán bằng thẻ
Các quyền khác theo hợp đồng sử dụng thẻ
Nghĩa vụ
Nguyễn Thị Minh Nguyệt
Thanh toán đầy đủ kịp thời cho NHTTT và ĐVCNT đối với các giao dịch
thẻ đúng hợp đồng.
Trách nhiệm khác theo hợp đồng sử dụng thẻ và hợp đồng thanh toán thẻ.
4.3 Ngân hàng thanh toán thẻ - NHTTT ( Acquiring Bank ):
NHTTT là những ngân hàng chỉ làm chức năng trung gian thanh toán
giữa chủ thẻ và NHPHT. NHTTT nhận thanh toán thẻ qua mạng lưới các cơ
sở chấp nhận thẻ mà nó ký hợp đồng thanh toán thẻ. Khi tham gia thanh toán
thẻ, NHTTT thu được các khoản phí chiết khấu đại lý, đồng thời cung cấp
các dịch vụ đại lý khác cho các ĐVCNT như: dịch vụ thấu chi; xử lý tổng
kết; giải quyết khiếu nại, thắc mác cho các ĐVCNT.
Quyền hạn :
Yêu cầu NHPHT thanh toán đầy đủ và kịp thời đối với các giao dịch thẻ
được thực hiện theo đúng hợp đồng sử dụng thẻ
Yêu cầu ĐVCNT hoàn trả tiền đối với các giao dịch thực hiện không
đúng hợp đồng thanh toán thẻ, thu giữ thẻ không hợp lệ.
Yêu cầu ĐVCNT cung cấp các thông tin cần thiết liên quan đến các giao
dịch thẻ của chủ thẻ tại ĐVCNT
Các quyền khác theo hợp đồng thanh toán thẻ.
Nghĩa vụ :
Hướng dẫn các biện pháp, quy trình kĩ thuật nghiệp vụ và bảo mật trong
thanh toán thẻ đối với ĐVCNT theo quy định của NHPHT và phải chịu
trách nhiệm về các thiệt hại gây ra do không thực hiện đúng các quy định
đó.
Cung cấp kịp thời và đầy đủ bảng tin cảnh giác – Warning Bulletin do tổ
chức thẻ quốc tế cung cấp.
10 10
Nguyễn Thị Minh Nguyệt
Trách nhiệm khác theo hợp đồng thanh toán thẻ
4.4 Đơn vị chấp nhận thẻ (ĐVCNT)
trong lưu thông
• Tăng khối lượng chủ chuyển, thanh toán trong nền kinh tế
• Thực hiện chính sách quản lý vĩ mô của nhà nước
• Tạo môi trường thương mại văn minh, mở rộng hội nhập
5.2 Đối với người sử dụng thẻ
• Nhanh chóng và thuận tiện
• Tiết kiệm, hiệu quả
• An toàn và được bảo vệ
• Văn minh
5.3 Đối với Đơn vị chấp nhận thẻ (ĐVCNT)
• Tăng doanh số bán hàng và thu hút thêm khách hàng
• Đảm bảo chi trả, tăng vòng quay của vốn, giảm chi phí
• Hưởng ưu đãi từ phía ngân hàng
• Tăng uy tín
5.4 Đối với ngân hàng
• Tăng doanh thu và lợi nhuận ngân hàng
• Đa dạng hoá các loại hình dịch vụ, tăng cường các mối quan hệ trong
hoạt động kinh doanh của ngân hàng
12 12
Nguyễn Thị Minh Nguyệt
• Hiện đại hoá công nghệ ngân hàng
• Tăng uy tín và danh tiếng của ngân hàng
6. Các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển của thẻ thanh toán
6.1 Nhóm nhân tố chủ quan
6.1.1 Vốn
Điều dễ nhân thấy là việc phát hành và thanh toán thẻ đòi hỏi một chi phí
đầu tư cao cho viêc lắp đặt những thiết bị và công nghệ hiện đại như các
terminal đầu cuối, máy rút tiền tự động ATM hay máy thanh toán thẻ tại các
điểm bán hàng(POS). Vì vậy, vốn đầu tư là điều kiện đầu tiện và quan trọng
nhất đối với các ngân hàng trong bước đầu triển khai dịch vụ thẻ trên thị
hàng.
Trình độ dân trí: là một phương tiện thanh toán hiện đại, sự phát triển
của thẻ thanh toán phụ thuộc rất nhiều vào mức độ am hiểu của công chúng
với nó. Trình độ dân trí ở đây được xem như là các kiến thức về dịch vụ
ngân hàng, khả năng tiếp cận và sử dụng thẻ thanh toán, cũng như việc nhận
được những tiện ích mà nó mang lại.
Sự ổn định chính trị-xã hội: đây là điều kiện quan trong và cần thiết của
tất cả các ngành kinh tế nói chung và ngành ngân hàng nói riêng, trong đó có
hoạt động kinh doanh thẻ thanh toán.
6.2.2 Các điều kiện về kinh tế
Tiền tệ ổn định: đây là điều kiện cơ bản cho việc mở rộng sử dụng thẻ
thanh toán đối với bất kỳ một quốc gia nào. Ngược lại việc mở rộng sử dụng
14 14
Nguyễn Thị Minh Nguyệt
thẻ thanh toán tạo điều kiện cho sự ổn định tiền tệ, giữa chúng có mối quan
hệ nhân quả với nhau.
Sự phát triển ổn định của nền kinh tế: Sự phát triển của ngành công
nghiệp tiền nhựa cũng như các ngành kinh tế khác phụ thuộc chủ yếu vào sự
phát triển của nền kinh tế. Sở dĩ như thế là vì phát triển kinh tế luôn gắn liền
với thu nhập dân cư mà việc sử dụng thẻ lại phụ thuộc vào thu nhập. Khi thu
nhập cao, nhu cầu mua sắm. du lịch, giải trí của con người cũng cao hơn rất
nhiều và thẻ thanh toán sẽ đáp ứng nhu cầu này của họ.
6.2.3 Điều kiện về khoa học công nghệ:
Thẻ thanh toán sẽ chỉ là một tấm nhựa bình thường nếu nó không được
gắn các chip điện tử và những dải băng từ mang những thông tin cần thiết,
cũng như không có khả năng thanh toán nếu nó không được đưa vào máy
đọc thẻ và hệ thống mạng máy tính kết nối các trung tâm phát hành và thanh
toán.
6.2.4 Điều kiện về môi trường pháp lý
Hoạt động phát hành và thanh toán thẻ của các ngân hàng phụ thuộc rất
các cơ sở chấp nhận thẻ.
2.1 Chấp nhận thẻ
ĐVCNT kiểm tra khả năng thanh toán của thẻ. Nếu số tiền thanh toán nhỏ
hơn hạn mức cho phép của NHTTT thì ĐVCNT chỉ cần kiểm tra bảng tin
cảnh giác ( warning bulletin ) để đảm bảo tính hiệu lực của thẻ. Nếu số tiền
thanh toán lớn hơn hạn mức cho phép thì ĐVCNT cũng phải xin chuẩn chi
16 16
Nguyễn Thị Minh Nguyệt
của NHTTT bằng điện thoại, telex( nếu là máy cà tay) hoặc truyền thông tin
giao dịch ( nếu là thiết bị đọc thẻ điện tử). Các thông tin này sẽ lần lượt được
truyền qua hệ thống mạng của tổ chức thẻ quốc tế về NHPHT và phản hồi
cho ĐVCNT.
2.2 Cung cấp hàng hóa dịch vụ
Nếu nhận được mã chuẩn chi, ĐVCNT yêu cầu chủ thẻ ký tên lên hoá đơn
và so sánh chữ ký đó và chữ ký mẫu trên thẻ. Sau đó cơ sở chấp nhận thẻ
cung cấp hàng hoá - dịch vụ cho chủ thẻ cùng với một liên hoá đơn.
2.3 Nộp hóa đơn
Với máy cà tay, ĐVCNT lập hoá đơn và bản sao kê nộp cho NHTTT
( không quá 5 ngày kể từ khi thương vụ xảy ra ). Với thiết bị đọc thẻ điện tử,
dữ liệu thanh toán được truyền về NHTTT và hoá đơn nộp định kỳ.
2.4 Thanh toán cho ĐVCNT
NHTTT sau khi kiểm tra tính hợp lệ của các thông tin trên hoá đơn, sẽ ghi
Nợ
tạm ứng thanh toán thẻ, ghi Có cho ĐVCNT.
2.5 Gửi thông tin dữ liệu
NHTTT tổng hợp toàn bộ hoá đơn, chứng từ về các giao dịch và gửi đến
trung tâm (tổ chức thẻ quốc tế).
2.6 Xử lý bù trừ thanh toán
Trung tâm ghi Nợ và báo Nợ cho NHPHT, ghi Có và báo Có cho NHTTT số
tiền giao dịch sau khi trừ phí trao đổi thông tin.
Nguyễn Thị Minh Nguyệt
Rủi ro này NHTTT phải chịu do không kịp thời cung cấp danh sách các
thẻ bị cấm lưu hành cho các ĐVCNT bởi nhiều nguyên nhân khác nhau
trong khi các giao dịch đã được ĐVCNT thực hiện.
• Rủi ro do trục trặc hệ thống kĩ thuật:
Đây là loại rủi ro có thể xảy đến với bất cứ chủ thẻ nào và ở bất cứ khâu
nào của quy trình phát hành, sử dụng và thanh toán thẻ. Thiệt hại do loại rủi
ro này gây ra có thể rất lớn.
• Các rủi ro khách quan:
- Rủi ro về sử dụng thẻ giả mạo trùng với thẻ đang lưu hành cua
NHPHT.
- Chủ thẻ vô tình để lộ số PIN và đồng thời bị mất thẻ mà chưa kịp
báo cho NHPHT, do một sự trùng hợp người lấy thẻ biết được số PIN và họ
có thể dùng thẻ để rút tiền mặt tại máy ATM. Do rút tiền mặt tại máy ATM
chỉ hoàn toàn dựa trên số PIN nên không thể kiểm tra được người rút tiền có
phải là chủ thẻ hay không. Trường hợp này chủ thẻ hoàn toàn chịu rủi ro về
số tiền bị mất.
Cho đến nay, để phòng ngừa và quản lý rủi ro, các tổ chức thẻ quốc tế đã
xây dựng nên một hệ thống các quy tắc tiêu chuẩn về quản lý rủi ro và bảo
mật cho các ngân hàng thành viên tuân thủ, hình thành một hệ thống mạng
trực tuyến để xử lý, trao đổi thông tin trên phạm vi toàn cầu. Bên cạnh đó,
các tổ chức thẻ quốc tế cũng tổ chức những chương trình dịch vụ hỗ trợ,
chương trình tập huấn, đào tạo nghiệp vụ nhằm nâng cao trình độ cũng như
trợ giúp kĩ thuật cho các ngân hàng thành viên trong việc phòng ngừa quản
lý rủi ro. Nhưng vấn đề thiết yếu là tự bản thân các ngân hàng thanh viên
phải có sự quan tâm đặc biệt đến vấn đề này, tìm ra những biện pháp phù
19 19
Nguyễn Thị Minh Nguyệt
hợp để giải quyết nhằm tạo lập niềm tin cho công chúng và đối tác, từ đó
nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh thẻ của mình.
3. Thị trường thẻ khu vực Châu á - Thái Bình Dương
Đây là khu vực có tính năng động vào bậc nhất trên thế giới, hơn ba
thập kỉ qua luôn là nơi tập trung các hoạt động kinh tế sôi động của thế giới.
Tuy nhiên, hầu hết các quốc gia ( trừ Mỹ và một số nước ) đều là các nước
đang hoặc mới phát triển. Do đó, Châu á - Thái Bình Dương luôn được ví
như một thị trường chưa khai phá đối với tất cả các loại hình dịch vụ ngân
hàng. Hầu như tất cả mọi đánh giá về triển vọng phát triển thẻ thanh toán ở
khu vực này chỉ mới dừng lại ở mức dự báo, nhưng những gì đã và đang
diễn ra luôn cho thấy một tiềm năng to lớn của khu vực này.
Trung quốc là một trường hợp điển hình. Với tốc độ tăng trưởng kinh
tế trong gần hai thập kỉ qua luôn ở mức cao, đây là một thị trường đầy hứa
hẹn với bất cứ một loại hình kinh doanh nào. Môi trường phát triển thẻ của
Trung quốc cũng như nhiều nước trong khu vực được nhìn nhận là có tiềm
năng nhưng có một điểm bất lợi là chưa có một bộ khung pháp lý đầy đủ, có
sự chồng chéo trong việc vận dụng các bộ luật khi có tranh chấp phát sinh.
Một khó khăn lớn nữa là việc chịu ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài
chính tiền tệ diễn ra trong khu vực nên nền kinh tế nước này có những biến
động không nhỏ. Chính vì vậy, việc phát triển thẻ thanh toán ở thị trường
này còn gặp nhiều khó khăn.
Trung quốc hiện là một thị trường của gần 28 triệu thẻ tín dụng trong
đó thị phần của MASTERCARD là 58,7%, của VISA là 23,9%. Các tổ chức
21 21
Nguyễn Thị Minh Nguyệt
thẻ quốc tế và các ngân hàng hiện vẫn đang tập trung nỗ lực khai phá thị
trường đầy hứa hẹn này.
Kinh nghiệm rút ra từ khu vực này là đây là khu vực mà nhiều quốc
gia có dân cư thu nhập ở mức trung bình cho nên thế mạnh chủ yếu là khai
thác thẻ tín dụng, đặc biệt là thẻ tín dụng có hạn mức tín dụng thấp. Mặt
khác do những hạn chế về khung pháp lý cũng như cơ sở hạ tầng của hệ
thống ngân hàng còn yếu kém nên khi mở rộng thị trường thẻ thanh toán cần
Trung Đông & Châu Phi 55.2 1.96 144.51 2.59
Tổng cộng 2815.41 100 5578.47 100
( Nguồn: Phòng quản lý thẻ ngân hàng ngoại thương Việt nam năm
2006 )
một thị trường đứng đầu thế giới trong tương lai. Đây chính là cơ hội cho
các tổ chức thẻ quốc tế trong nỗ lực phát huy vai trò và tầm ảnh hưởng của
mình.
23 23
Nguyễn Thị Minh Nguyệt
CHƯƠNG II:
THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH THẺ
TÍN DỤNG TẠI SỞ GIAO DỊCH - NGÂN HÀNG NGOẠI
THƯƠNG VIỆT NAM
I. GIỚI THIỆU TỔNG QUAN VỀ SỞ GIAO DỊCH – NGÂN HÀNG
NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM
1. Tính cấp thiết của việc thành lập Sở giao dịch
Trong bối cảnh kinh tế nước ta hiện nay, theo như yêu cầu của Thủ
tướng chính phủ về việc cổ phần hoá các Ngân hàng quốc doanh,trong đó có
24 24
Nguyễn Thị Minh Nguyệt
Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam. Xác định được chiến lược kinh doanh
đồng thời đẩy nhanh quá trình cổ phần hoá đi đôi với việc phát triển và
chuyên môn hoá nghiệp vụ của các phòng ban. Ngày28-12-2005, theo Quyết
định số 1215/QĐ-NHNT.TCCB&ĐT của Hội đồng Quản trị Ngân hàng
Ngoại thương Việt Nam, Sở giao Dịch Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam
chính thức được thành lập , địa chỉ tại 198 Trần Quang Khải , Quận Hoàn
Kiếm, thành phố Hà Nội. Qua đây ta cũng hiểu rằng sự thành lập ra Sở Giao
Dịch chỉ là về hình thức nhưng thực sự bên trong bộ máy vẫn hoàn toàn
không có gì thay đổi.
2. Bộ máy tổ chức