các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển nhân cách - Pdf 13

Trường ĐHSP thành phố Hồ Chí Minh
Lớp: Sư phạm mầm non 1B
Môn: giáo dục học
ĐỀ TÀI:
GVHD: Ân Thị Hảo
Tên nhóm: Candies
Danh sách nhóm:
Phạm Thị Nhẫn SBD: K36.902.060
Phạm Thị Mai SBD: K36.902.042
Nguyễn Thị Thanh Nhã SBD: K36.902.061
Trần Thị Thanh Nga SBD: K36.902.053
Vũ Thị Tú My SBD:K36.902.046
Thành phố Hồ Chí Minh ngày 4 tháng 4 năm 2011
Các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển nhân cách
Mục lục
1
[email protected] Trang 2
Các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển nhân cách
LỜI MỞ ĐẦU
Nhân cách không có sẵn bằng cách bộc lộ dần các bản năng nguyên thủy, mà
nhân cách là các cấu tạo tâm lý mới được hình thành trong quá trình sống-giao tiếp, vui
chơi, học tập, lao động. Nhân cách con người không phải được đẻ ra mà là được hình
thành. Quá trình hình thành nhân cách chịu sự chi phối của nhiều yếu tố: yếu tố bẩm sinh
– di truyền, môi trường tự nhiên và hoàn cảnh xã hội, giáo dục và hoạt động cá nhân. Mỗi
yếu tố đều có vai trò quyết định. Song với tính cách là phương thức, là con đường, giáo
dục, hoạt dộng có vai trò quyết định tron quá trình hình thành và phát triển nhân cách con
người.
Để hình thành nhân cách con người phải đề cao vai trò của giáo dục và hoạt động cá
nhân. Bởi đây là hai nhân tố quyết định trực tiêp sự hình thảnh và phát triển nhân cách.
Qua đề tài này ta cho ta thấy được những quan điểm khác nhau nói về giáo dục, sự
ảnh hưởng của yếu tố giáo dục đến các yếu tố khác, và quá trình phát triển giáo dục cũng

Các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển nhân cách
chính mỗi cá nhân, đánh thức trí tuệ của mỗi người. Nó ứng dụng phương pháp giáo dục,
một phương pháp nghiên cứu mối quan hệ giữa dạy và học để đưa đến những rèn luyện
về tinh thần, và làm chủ được các mặt như: ngôn ngữ, tâm lý, tình cảm, tâm thần, cách
ứng xử trong xã hội.
• Dạy học là một hình thức giáo dục đặc biệt quan trọng và cần thiết cho sự phát
triển trí tuệ, hoàn thiện nhân cách học sinh.
• Quá trình dạy học nói riêng và quá trình giáo dục nói chung luôn gồm các thành tố
có liên hệ mang tính hệ thống với nhau: mục tiêu giáo dục, nội dung giáo dục,
phương pháp giáo dục, phương tiện giáo dục, hình thức tổ chức và chỉ tiêu đánh
giá.
Sự giáo dục của mỗi cá người bắt đầu từ khi sinh ra và tiếp tục trong suốt cuộc
đời. (Một vài người tin rằng, sự giáo dục thậm chí còn bắt đầu trước khi sinh ra, theo đó
một số cha mẹ mở nhạc, hoặc đọc cho những đứa trẻ trong bụng mẹ với hy vọng nó sẽ
ảnh hưởng đến sự phát triển của đứa trẻ sau này). Với một số người quá trình đấu tranh
giành giật sự sống, giành giật sự thắng lợi trong cuộc sống cung cấp kiến thức nhiều hơn
cả sự truyền thụ kiến thức ở các trường học. Các cá nhân trong gia đình có ảnh hưởng
lớn đến hiệu quả giáo dục, thường có ảnh hưởng nhiều hơn, mặc dù việc dạy dỗ trong
gia đình có thể không mang tính chính thức, chỉ có chức năng giáo dục rất thông thường.
♣ Quan điểm giáo dục theo Macxit
Theo Mác, giáo dục là một hình thái ý thức xã hội, là một bộ phận của thượng tầng kiến
trúc. Cũng như tôn giáo, đạo đức, pháp quyền, trong xã hội giai cấp, giáo dục bao giờ
cũng mang tính giai cấp, giáo dục luôn luôn là công cụ của giai cấp thống trị xã hội “giai
cấp nào thống trị tư liệu sản xuất vật chất thì cũng chiếm đoạt phương tiện sản xuất tinh
thần”. chỉ có thể xây dựng một nền giáo dục của giai cấp vô sản khi giai cấp đó giành
được quyền thống trị xã hội.
♣ Khái niệm giáo dục từ thuở ấu thơ
1
[email protected] Trang 5
Các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển nhân cách

Các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển nhân cách
Tóm lại, có thể nói rằng, giáo dục đó là quá trình mà thế hệ cha anh truyền lại kinh
nghiệm lịch sử - xã hội cho các thế hệ mới nhằm chuẩn bị cho họ bước vào cuộc sống và
lao động để bảo đảm sự phát triển hơn nữa của xã hội và của cá nhân.
Như vậy, theo nghĩa rộng, nói đến giáo dục là nói đến sự tác động tới con người của
toàn thể xã hội và của thực tiễn xung quanh.
Đối với trẻ thơ, giai đoạn đầu tiên của đời người ( từ lọt lòng đến 6 tuổi) gióa dục nhằm
phát triển các chức năng tâm lí, hình thành những cơ sở ban đầu của nhân cách con
người, chuẩn bị cho những giai đoạn phát triển sau được thuận lợi.
Các quan điểm về giáo dục
Giáo dục Ai Cập Cổ Đại
• Thực hành nghề nghiệp của những người bình dân,
• Giáo dục trí tuTệ sơ đẳng: tập đọc, viết, làm toán, hình học.
• Giáo dục cao đẳng dành cho các tu sĩ, những nhà kiên trúc và sau cùng là thư kí.
• Các tu sĩ nắm giữ khoa học (thiên văn, toán học, cơ học và y học) và ý tưởng tôn
giáo.
• Phương pháp dạy học là bắt chước và đào luyện trí nhớ, đôi khi học toán dưới
dạng trò chơi.
• Kỉ luật được duy trì bằng roi vọt
Giáo dục Ấn Độ
• Giáo dục theo kiểu chân truyền: Sư phụ-Đồ đệ
• Nội dung giáo dục thiên về tôn giáo (kinh Vệ đà)-văn phạm (chữ Phạn), thi ca,
triết lí và luật pháp kiểu tôn giáo, y khoa, thiên văn, toán học.
• Phương pháp chủ yếu là đào luyện trí nhớ, học thuộc lòng, không chú trọng thể
dục
• Có sự giảng dạy theo kiểu tập thể sơ cấp và các giảng tập viên, học nhóm
Giáo dục Ba Tư
• Giáo dục mang tính quý tộc và quân phiệt.
• Nên giáo dục do quốc gia đảm trách: đứa trẻ ra khỏi gia đình lúc 7 tuổi được nuôi
nấng và canh chừng trong nhà chung.

[email protected] Trang 8
Các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển nhân cách
Giáo dục Đemocrit(460-370 TCN)
• Theo quan điểm duy vật
• Giáo dục kết hợp với lao động sản xuất thì mới có kết quả tốt.
• Đề cao việc học tập tri thức tự nhiên
• Không muốn giáo dục tôn giáo cho trẻ em
Giáo dục Platon (427-348 TCN)
• Giáo dục giúp cho con người có lý trí.
• Giáo dục mẫu giáo theo cách của người mẹ.
• Trẻ lớn có thể học ở trường và ngoài trời.
• Giáo dục có chọn lọc cho phù hợp với khả
năng của từng người, ai giỏi thì được học
lên mãi.
• Người giỏi nhất sẽ được chọn để đứng đầu nhà nước.
• Đánh giá cao vai trò của giáo dục.
• Giáo dục là nhiệm vụ của tất cả mọi người, của toàn xã hội.
• Giáo dục con người là cả quá trình lâu dài.
Giáo dục Aristot (384-322 TCN)
1
[email protected] Trang 9
Các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển nhân cách
• Con người có 3 thành tố: xương thịt, ý chí và lí trí; vì vậy nôi dung GD phải tương
ứng như: có GD thể chất, đạo đức, trí tuệ.
• Trẻ em phát triển qua 3 thời kì: 0-7 tuổi; 7-14; 14-21 có những đặc điểm riêng;
chú ý tuổi dậy thì (14).
• Đánh giá cao vai trò của GD gia đình, của người mẹ.
• Giáo dục La Mã
• Tiếp thu nền văn minh Hy Lạp.
• Quan tâm giáo dục gia đình và pháp luật.

• Trung với nước.
• Nghĩa: việc gì đáng làm thì làm, không hề mưu tính cái lợi cho mình cũng không
cần biết hậu quả ra sao, không cố chấp.
• Lễ là ngọn, nhân là gốc, làm điều nhân cho mình chứ đâu do người.
• Có sáng suốt thì mới có đức nhân, biết giúp người mà không hại người và hại
mình (trí).
• Khổng Tử nói cho Tử Lộ biết 6 đức bị che lấp:
-Ham đức nhân mà không ham học thì bị che lấp là ngu muội,
-Ham đức trí mà không ham học thì bị che lấp là phóng đãng,
-Ham đức tín mà không ham học thì bị che lấp là bị tổn hại,
-Ham đức ngay thẳng mà không ham học là bị che lấp là gắt gao,
-Ham đức dũng mà không ham học thì bị che lấp là loạn động,
-Ham cương cường mà không ham học thì bị che lấp là cuồng bạo
+ Phương pháp giáo dục
 Phù hợp với đối tượng
 Hỏi-đáp
 Ví von, dẫn chứng, liên hệ thực tế
 Phát huy tính tích cực
 Quan hệ thầy trò thân thiện
Mạnh Tử (479-381)
1
[email protected] Trang 11
Các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển nhân cách
• Phát triển tư tưởng của Khổng Tử.
• Theo thuyết tính thiện (nhân chi sơ tính bản thiện): biểu hiện ở 4 đức: nhân-nghĩa-
lễ-trí; đề cao nhân nghĩa. Con người vốn có lòng trắc ẩn (thương xót), tu ố (then
ghét), từ nhượng (cung kính), thi phi (phân biệt phải trái).
• Giáo dục phải theo chuẩn mực, phép tắc đã được định ra do các Thánh hiền.
• Người học phải chuyên tâm, trì chí, khiêm tốn và cầu tiến.
• Chú ý lương tâm, sự hổ thẹn và tùy đối tượng.

+ Giáo dục là yếu tố tác động vào sự phát triển nhân cách có hiệu quả nhất vì đó là hoạt
động có tổ chức, có kế hoạch, có phương pháp khoa học…
+ Giáo dục có thể phát huy những mặt ưu điểm của các yếu tố khác và khắc phục, bù
đắp những khiếm khuyết của các yếu tố khác
VD: Bồi dưỡng trẻ có năng khiếu thành tài năng, giáo dục cho trẻ mù, thiểu năng trí tuệ,
người có hoàn cảnh khó khăn…
+ Giáo dục còn có khả năng uốn nắn những sai lệch của nhân cách cho phù hợp với yêu
cầu của xã hội.
Tuy vậy, chúng ta cũng không nên tuyệt đối hóa vai trò của giáo dục, coi giáo dục là
vạn năng. Bởi vì nhân cách con người còn chịu sự chi phối của nhiều yếu tố khác.
1 Vai trò của giáo dục đối với sự phát triển nhân cách
Theo thuyết tiền đỉnh(thuyết sinh học)
Sự phát triển nhân cách do yếu tố di truyền quyết định, môi trường và giáo dục
không có vai trò gì trong sự phát triển nhân cách
Quan điểm đặc trung cho dòng phái nguồn gốc sinh học trong việc giải thích sự phát
triển nhân cách là quan điểm về “những đặc điểm bẩm sinh”của trẻ là xu thế, hiểu hành
vi và sự phát triển của con người một cách đơn giản, máy móc. Đối với những người
theo học thuyết nguồn góc sinh học thì nhân tố sinh học, mà trước hết là tính di truyền là
1
[email protected] Trang 13
Các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển nhân cách
nhân tố có tác dộng quyết định. Sai lầm cơ bản của thuyết này là tuyệt đối hóa ảnh
hưởng của yếu tố di truyền
Theo thuyết duy cảm
Môi trường là yếu tố quyết định sự phát triển nhân cách , giáo dục là van năng
Quan điểm của John locke (là đại biểu của triết học duy vật duy cảm Anh) đưa ra
nguyên lí “tabula- tấm bảng sạch’, linh hồn chúng ta khi mới sinh ra, có thể nói như một
tờ giấy trắng, không có một kí hiệu hay ý niệm nào cả. mọi tri thức con người không
phải là bẩm sinh, mà là kết quả của nhận thức. chúng dần có được nhờ kinh nghiệm. mọi
quá trình nhận thức đều phải xuất phát từ các co quan trong cảm tính. Linh hồn con

- Đối với giáo dục, giai cấp vô sản ý thức sâu sắc rằng muốn đào tạo con người phát
triển toàn diện, muốn xây dựng một nền giáo dục mới thì phải tiến hành cuộc cách mạng
chính trị, cách mạng xã hội làm thay đổi quan hệ xã hội, thiết lập xã hội mới, và chỉ trên
quan hệ xã hội đó mới xây dựng nhân cách của con người xã hội tương lai được.
- Luận đề của Mác về bản chất xã hội của con người là cơ sở lý luận để các nhà giáo dục
hiểu rõ bản chất, động lực, các quy luật của quá trình giáo dục, dạy học xã hội chủ
nghĩa. Chỉ có quán triệt sâu sắc luận đề bản chất xã hội của con người mới có thể giải
thích được tất cả những hiện tượng giáo dục vô cùng phức tạp đã xảy ra trong xã hội loài
người.
- Ở góc độ giáo dục, phải thấy hết những đóng góp của Mác là cung cấp cho khoa học
giáo dục một phương pháp luận vững chắc để xây dựng lý luận giáo dục xã hội chủ
nghĩa, xây dựng nền giáo dục xã hội chủ nghĩa và tổ chức thực hiện quá trình giáo dục
con người của chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản.
T Mác đã vạch ra quy luật tất yếu của xã hội tương lai là đào tạo, giáo dục những con
người phát triển toàn diện.
- Con người phát triển toàn diện là mơ ước của con người, vì con người có ý thức vươn
tới sự toàn diện và đó là sự khác biệt giữa con người và con vật.
- Tri thức tối thiểu và cũng là ước muốn tối đa của người nguyên thủy là kinh nghiệm
lao động hái lượm, săn bắt, tổ chức thị tộc, bộ lạc, lễ nghi tôn giáo. Đến khi xã hội loài
người phân chia giai cấp thì quá trình giáo dục cũng được phân chia theo giai cấp.
- Việc đào tạo, giáo dục các thế hệ phát triển toàn diện là điều kiện để phát triển xã hội
xây dựng kinh tế, văn hóa, khoa học kĩ thuật.
1
[email protected] Trang 15
Các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển nhân cách
- Theo tinh thần của Mác, con người phát triển toàn diện sẽ là mục đích của nên giáo dục
cộng sản chủ nghĩa, và con người phát triển toàn diện là người phát triển đầy đủ, tối đa
năng lực sẳn có về tất cả mọi mặt đạo đức, trí tuệ, thể chất, tình cảm, nhận thức, năng
lực, óc thẩm mỹ và có khả năng cảm thụ được tất cả những hiện tượng tự nhiên, xã hội
xảy ra xung quanh, đồng thời có thể sáng tạo ra những cái mới theo khả năng của bản

+ Trí dục
+ Thể dục, tức giáo dục thể chất và huấn luyện quân sự
+ Giáo dục bách khoa ( là giáo dục kĩ thuật) tức là giới thiệu các nguyên tắc cơ bản về
quá trình sản xuất và hướng dẫn cho trẻ em và thanh niên có thói quen sử dụng tất cả các
công cụ sản xuất đơn giản
- Một nền sản xuất đáp ứng được những đòi hỏi không ngừng của con người thì khoa
học kĩ thuật giữ vị trí quyết định. Muốn vậy nền giáo dục của xã hội tương lai ấy phải
lấy trí dục làm nhiệm vụ chủ yếu.
- Về nội dung của các mặt giáo dục, Mác cũng có những ý kiến, tuy chưa thật cụ thể,
nhưng đó là những phương hướng quan trọng.
+ Về trí dục
• Mác đòi hỏi phải trang bị cho thế hệ trẻ những tri thức khoa học hiện đại vì “khoa học”
là lực lượng thúc đẩy cách mạng trong lịch sử.
• Mác yêu cầu việc giảng dạy trong nhà trường phải cung cấp những tri thức hệ thống,
cơ bản; những quy luật, những tri thức hiện đại để con người có khả năng vận dụng
những tri thức đó vào cải tạo tự nhiên và xã hội.
+ Về đức dục
• Đóng góp lớn lao nhất của Mác là ở chỗ vạch trần tính chất giai cấp của đạo đức, lên
án sâu sắc đạo đức tư sản.
• Hiểu theo quan điểm của Mác, không chỉ là hình thành ở thế hệ trẻ những chuẩn mực
của quan hệ cư xử như đức hạnh, mà đó là lập trường tư tưởng, ý thức giai cấp, đó là
nhân sinh quan, thế giới quan khoa học.
+ Về thể dục và quân sự
1
[email protected] Trang 17
Các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển nhân cách
• Là một mặt nhằm đào tạo con người phát triển toàn diện, góp phần tích cực thúc đẩy và
hoàn thiện trí tuệ, tâm hồn… và làm cho con người có đủ khả năng làm chủ bản thân,
tham gia vào các quá trình sản xuất và hoạt động xã hội.
• Làm cho con người vui tươi, hạnh phúc giúp con người nâng cao hiệu quả, hiệu suất

• Xây dựng nội dung, chương trình, kế hoạch dạy học và giáo dục, lựa chọn phương pháp,
phương tiện và hình thức giáo dục đáp ứng mục đích giáo dục, phù hợp với nội dung và
đối tượng, điều kiện giáo dục cụ thể.
• Tổ chức các hoạt động giao lưu.
• Đánh giá, điều chỉnh nội dung, phương pháp, hình thức giáo dục…
Sự định hướng của giáo dục không chỉ thích ứng với những yêu cầu của xã hội hiện tại
mà còn phải thích hợp với yêu cầu phát triển của tương lai để thúc đẩy sự phát triển của
xã hội. vì vậy, giáo dục phải đi trước, đón đầu sự phát triển. Muốn đi trước, đón đầu sự
phát triển, giáo dục căn cứ trên những dự báo về gia tốc phát triển của xã hội, thiết kế
nên mô hình nhân cách của con người thời đại với hệ thống định hướng giá trị tương
ứng.
2 Giáo dục can thiệp, điều chỉnh các yếu tố khác nhằm tạo sự thuận lợi cho quá trình
phát triển nhân cách
Các yếu tố bẩm sinh- di truyền, môi trường và hoạt động cá nhân đều có ảnh hưởng
đến sự phát triển nhân cách ở các mức độ khác nhau, tuy nhiên yếu tố giáo dục lại có thể
tác động đến cá yếu tố này để tạo điều kiện thuận lợi hơn cho sự phát triển nhân cách.
 Đối với di truyền
- Giáo dục tạo điều kiện thuận lợi để những mầm mống của con người có trong chương
trình gen được phát triển.
VD: trẻ được di truyền cấu tạo cột sống với dáng đi thẳng nhưng nếu không có sự giáo
dục thì sẽ không đi thẳng được như trường hợp của em bé người Ấn Độ sống với chó sói
nên di chuyển bằng tứ chi.
- Giáo dục rèn luyện, thúc đẩy sự hoàn thiện của các giác quan và vận động cơ thể.
- Giáo dục phát hiện những tư chất của cá nhân và tạo điều kiện đẻ phát huy năng khiếu
thành năng lực cụ thể.
1
[email protected] Trang 19
Các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển nhân cách
- Giáo dục tìm cách khắc phục những khiếm khuyết của cơ thể để khạn chế những khó
khăn của người khuyết tật trong sự phát triển nhân cách. Ngoài ra, giáo dục còn góp

2 Điều kiện để giáo dục giữ vai trò chủ đạo đối với sự phát triển nhân cách
- Như vậy thông qua các tác động đón đầu sự phát triển,giáo dục koong chỉ tác
động sự phát triến nhâ cách cá nhân mà còn thúc đẩy sự phát triển của xã hội. Tuy nhiên
giáo dcj không phải là vạn năng, không thể một mình quyết định toàn bộ tiến trình phát
triển nhân cách. Giáo dục không chỉ là một trong các yếu ảnh hưởng quan trọng đến sự
phát triển nhân cách thông qua những tác động có tính chủ đạo. Vì vậy, để giáo dục thực
sự đóng vai trò chủ đạo đối với sự hình thành và phát triển nhân cách cần có cách điều
kiện sau:
+ Công tác dự báo về xu hướng phát triển của xã hội phải đưa ra những định hướng đúng
đắn để giáo dục thực hiện đúng chức năngđón đầu sự phát triển.
+ Các yếu tố trong giáo dục phải thống nhất với nhau, nhà giáo dục phải giữ vai trò chủ
đạo, người được giáo dục phải thể hiện vai trò chủ động.
+ Phải có sự kết hợp chặt chẽ ba lực lượng giáo dục: gia đình, nhà trường và xã hội, trong
đó nhà trường đóng vai trò chủ đạo. Những yếu kèm của giáo dục thường có nguyên
nhân từ sự thiếu phối hợp đồng bộ giữa ba lực lượng này.
+ Nhà giáo dục phải nắm vững đặc điểm tâm sinh lí của người được giáo dục.
+ Nhà giáo dục phải co phẩm chất và năng lực để làm tốt công tác giáo dục.
2 Giáo dục qua từng thời kì lịch sử ảnh hưởng đến sự phát triển nhân cách
con người.
- Lịch sử là diễn biến có thật của sự vật, hiện tượng. Sự xuất hiện, tồn tại và biến đổi của
sự vật, hiện tượng.
Giáo dục thời kì công xã nguyên thủy
 Xã hội công xã nguyên thủy kéo dài hàng triệu năm.
 Sống dựa vào tự nhiên.Lao động rất đơn giản như săn bắn, hái lượm với công cụ
chủ yếu chế tạo từ đá, cây và xương thú.
1
[email protected] Trang 21
Các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển nhân cách
 Cuộc sống thấp kém, đói rét, bệnh tật và sự yếu đuối trước tự nhiên là nguyên
nhân chủ yếu của sự phát triển rất chậm thời kì này.

Việt Nam đã quán triệt quan điểm ” Giáo dục là quốc sách hàng đầu “, ” Đầu tư
cho giáo dục là đầu tư cho sự phát triển “. Kết quả của đổi mới giáo dục từ 1986
đến 2005, đặc biệt trong 10 năm bản lề nước ta có những tự hào to lớn. ít nhất có
thể nêu lên bốn thành quả lớn sau đây:
- Giáo dục phục vụ có kết quả nhất định cho đào tạo nguồn nhân lực đi vào công
nghiệp hoá và hội nhập quốc tế.
- Giáo dục phục vụ cho xoá đói giảm nghèo thực hiện công bằng, bình đẳng xã
hội.
- Giáo dục phục vụ cho sự chấn hưng văn hoá giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc.
- Giáo dục phục vụ cho việc giữ vững an ninh chính trị trong đời sống cộng đồng.
Giáo dục góp phần tạo ra sự bình ổn, ổn định của cộng đồng làm tăng năng xuất
lao động xã hội thì thành tựu của giáo dục là rất to lớn.
1. Những “lỗ hổng” trong giáo dục nhân cách trẻ em
- Người lớn cứ hay ngỡ ngàng trước những hành động bạo lực, trước sự vô cảm, vô văn
hóa của một bộ phận trẻ em mà không tĩnh tâm để nhìn lại xem họ đã giáo dục trẻ em
như thế nào?
Người lớn đã quên mất rằng, một đứa trẻ ngoan ngoãn, chăm chỉ, hiền lành không phải
sinh ra đã được như vậy mà nhờ được người lớn chăm sóc giáo dục. Bác Hồ cũng đã từng
viết “Hiền dữ phải đâu là tính sẵn/ Phần nhiều do giáo dục mà nên” (Nửa đêm- Nhật ký
trong tù). Một đứa trẻ lớn lên, hình thành được một tính cách tốt hay xấu trước hết nó
phụ thuộc vào sự giáo dục của người lớn trong gia đình, nhà trường mà các em học và
môi trường xã hội, các hoạt động xã hội mà trẻ em tham gia. Nhìn vào “ba lực lượng”
giáo dục này nhiều lúc chúng ta phải giật mình bởi cách giáo dục còn thiên lệch, khắc kỷ
hoặc là buông lỏng một cách đến vô tâm.
Với gia đình là nền tảng, là tế bào của xã hội, và trẻ em là người được học những bài
học đầu tiên và thường xuyên về nhân cách trong gia đình. Thế nhưng, trước sự tác động
của cuộc sống hiện đại, trước nhu cầu mưu sinh của nhiều gia đình mà giáo dục con cái
bị sao nhãng. Có gia đình, nhất là ở nông thôn, bố mẹ sinh con gửi lại ông bà để đi làm
1
[email protected] Trang 23

Ở thành thị có đôi ba tiệm cho
thuê sách truyện để các em thuê đọc.
Đây cũng là một cách giải trí tốt
nhưng thị hiếu của các em lại thích
truyện tranh mà truyện tranh cho trẻ em hiện nay cũng còn nhiều điều đáng bàn như ngôn
ngữ phần lớn là khẩu ngữ (ít nhiều còn ảnh hưởng đến sự trong sáng của tiếng Việt),
truyện tranh có rất nhiều chuyện của người lớn, hình ảnh khiêu gợi, kích thích trí tò mò
của các em thì không đúng lúc. Ở nông thôn thì gần như không có sách để cho các em
đọc. Các bưu điện văn hóa xã toàn sách dành cho người già và sách kỹ thuật nông nghiệp
không đủ sức giữ chân các em. Rất ít xã có thư viện riêng vì thế các em không được giải
trí lành mạnh bằng đọc sách, không học được lời hay lẽ phải, tri thức tiến bộ của nhân
loại từ những trang sách. Đây cũng là một lỗ hổng trong giáo dục và cũng là một thiệt
thòi lớn cho các em hiện nay.
Đối với nhà trường hiện nay thì xu hướng vẫn còn coi trọng dạy chữ hơn dạy người.
Các em gần như phải học cả ngày. Học sinh phổ thông từ lớp 1 cho đến lớp 12 ngoài học
buổi chính còn học buổi hai (nâng cao, củng cố kiến thức). Dưới áp lực của thi cử và các
chỉ tiêu nhà trường đặt ra, mà thường là chỉ tiêu về chất lượng học lực đã làm cho giáo
viên phải đầu tư nhiều vào việc truyền thụ kiến thức văn hóa nên còn rất ít thời gian cho
giáo dục đức, thể, mĩ. Dẫn đến trẻ em cũng căng thẳng, mệt mỏi chán chường, sợ học và
giảm hứng thú vui vẻ khi đến trường nên hiệu quả của việc giáo dục kỹ năng sống cho
các em còn nhiều hạn chế.
Để khắc phục được những điều còn bất cập trong giáo dục nhân cách cho trẻ hơn ai
hết người lớn phải thấy được trách nhiệm giáo dục con cái của chính mình. Tổ chức đoàn
thanh niên (ở địa phương cũng như trong nhà trường) phải đẩy mạnh các hoạt động
1
[email protected] Trang 25

Trích đoạn Vai trò của giao tiếp.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status