BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
CHUYÊN ĐỀ
Lịch sử Nhà nước và Pháp luật Việt Nam thời Lê sơ
.
Lớp :
Nhóm :
02
vị cơ sở như hương, xã, thôn, trang, sách, động, nguồn, trường. Riêng kinh
thành Thăng Long được chia thành 36 phường. Thời Lê Thái Tổ các xã hơn
100 người thì gọi là đại xã có ba xã quan trông coi. Xã có hơn 50 người được
gọi là trung xã, có hai xã quan. Còn tiểu xã thì có 10 người trở lên và chỉ có
một xã quan. Đến thời Lê Thánh Tông thì quy mô của xã lớn hơn
Từ thời Lê Thánh Tông, có sự sắp xếp lại bộ máy nhằm tập trung
quyền lực vào tay hoàng đế và kiểm soát chặt chẽ cấp địa phương. Bộ máy tổ
chức thời Lê Thánh Tông là bộ máy quân chủ chuyên chế được tổ chức khá
chặt chẽ và hoàn chỉnh. Tổng số quan lại thời Hồng Đức là 5.370 người, trong
đó quan lại trong triều 2.755 người, quan lại địa phương 2.615 người
2. Bộ máy nhà nước
Ở trung ương, đứng đầu là nhà vua. Nhà vua là người có quyền lực tối
cao, nắm cả giáo quyền và thế quyền. Về giáo quyền, nhà vua là vị giáo chủ
độc nhất và cao nhất trong cả nước. Về thế quyền, nói theo ngôn ngữ hiện đại
ngày nay, nhà vua nắm toàn bộ các quyền lập pháp (ban hành pháp luật), hành
2
pháp (thi hành pháp luật) và tư pháp (xét xử, bảo vệ pháp luật). Ngôi vua chỉ
có thể truyền cho một người, người đó là con trai trưởng của nhà vua theo
nguyên tắc trọng trưởng, trọng nam. Mục đích của qui định này là nhằm đảm
bảo tính thống nhất và vĩnh cửu của nhà nước phong kiến.
Bộ máy chính quyền thời Lê Thái Tổ cơ bản theo mô hình thời Trần.
Giúp việc trực tiếp cho Hoàng đế là Trung khu gồm các quan tả, hữu tướng
quốc, Tam Thái (Thái sư, Thái uý, Thái bảo), tam Thiếu (Thiếu sư, Thiếu uý,
Thiếu bảo), Tam Tư (Tư mã, Tư không, Tư khấu), bộc xạ. Dưới Trung khu là
hai ban văn, võ.
Đứng đầu ban văn là quan Đại Hành khiển. Các bộ, ngành thuộc văn
ban là bộ Lại, bộ Lễ, Khu Mật Viện, Hàn Lâm viện, Ngũ hình viện, Ngự sử
đài, Quốc tử giám, Quốc sử viện, nội thị sảnh, và các cơ quan khác gọi là
quán, cục, hay ty. Đứng đầu các bộ là quan thượng thư.
- Bộ Công quản lý việc xây dựng thành hào, cầu cống đường sá, việc
thợ thuyền, tu sửa xây dựng, quản lý tài nguyên.
Mỗi bộ có 1 viên Thượng thư và 2 Tả bộ thị lang và cơ quan thường
trực là Vụ tư sảnh đứng đầu. Giám sát Lục bộ là Lục khoa tương ứng, gồm Lại
khoa, Lễ khoa, Hộ khoa, Binh khoa, Hình khoa, Công khoa. Đứng đầu các
khoa là Đô cấp sự trung và Cấp sự trung. Giúp việc cho Lục bộ là Lục tự,
Gồm có:
- Đại lý tự: cơ quan phụ trách hình án. Xét xong án chuyển sang Bộ
Hình để tâu lên vua quyết định
- Thái thường tự: cơ quan phụ trách lễ nghi, âm nhạc cung đình
- Quang lộc tự: phụ trách hậu cần đồ lễ trong các buổi lễ của triều
đình.
- Thái bộc tự: cơ quan phụ trách xe ngựa của vua và coi sóc chuồng
ngựa của vua.
- Hồng lô tự: Tổ chức việc xướng danh những người đỗ trong kỳ thi
đình; lo an táng đại thần qua đời và tiếp đón các ông hoàng ngoại quốc
- Thượng bảo tự: Cơ quan coi việc đóng ấn vào quyển thi của các thí
sinh thi Hội
Ngoài lục tự, vua Lê Thánh Tông tổ chức thêm một số cơ quan chuyên
môn không lệ thuộc vào 6 bộ, bao gồm:
- Thông Chính ty: cơ quan phụ trách chuyển đạt giấy tờ của triều đình
xuống và nhận đơn từ của nhân dân tâu lên vua. Đứng đầu là Thông chính sứ,
trật Tòng tứ phẩm.
- Quốc Tử Giám: cơ quan giáo dục cao nhất trong cả nước. Đây là
trường đại học của triều đình có nhiệm vụ đào tạo nhân tài cho quốc gia. Đứng
đầu là Tế tửu, trật chánh tứ phẩm.
- Quốc sử viện: cơ quan chép sử của triều đình. Nhà vua nói gì, làm gì,
sử quan đều phải ghi chép cẩn thận và trung thực. Đứng đầu là Quốc sử viện
Tu soạn, trật chánh bát phẩm
- Khuyến nông và Hà đê xứ: Hai cơ quan coi việc nông nghiệp và
Bộ luật mang tính đẳng cấp, có mô phỏng luật Trung Quốc, nhưng
nhiều điều khoản đã lưu ý đến những tập quán cổ truyền mang tính đặc hữu
dân tộc.
Quyền lợi của phụ nữ đã được chú trọng trong việc thừa kế gia tài
và xét xử ly hôn, được coi là tiến bộ hơn so với luật Trung Quốc đương thời.
Với bộ luật này, Đại Việt đã hình thành một nhà nước pháp quyền sơ
khởi và thuộc loại sớm trên thế giới. Lê Thánh Tông đã lấy những quan điểm
của nho giáo làm hệ tư tưởng, chỉ đạo việc biên soạn, ban hành luật pháp,
nhằm thể chế hoá một nhà nước phong kiến Đại Việt, với truyền thống nhân
nghĩa, lấy dân làm gốc.
1. Giới thiệu chung về Quốc triều hình luật
Quốc triều hình luật có 13 chương, được ghi chép trong 6 quyển (5
quyển có 2 chương/quyển và 1 quyển có 3 chương), gồm 722 điều.
Chương 1. Chương Danh lệ: 49 điều quy định về những vấn đề cơ bản
có tính chất chi phối nội dung các chương điều khác (quy định về thập ác, ngũ
hình, bát nghị, chuộc tội bằng tiền v.v)
Chương 2. Chương Vệ cấm: 47 điều quy định về việc bảo vệ cung
cấm, kinh thành và các tội về cấm vệ.
Chương 3. Chương Vi chế: 144 điều quy định về hình phạt cho các
hành vi sai trái của quan lại, các tội về chức vụ.
Chương 4. Chương Quân chính: 43 điều quy định về sự trừng phạt các
hành vi sai trái của tướng, sĩ, các tội quân sự.
5
Chương 5. Chương Hộ hôn: 58 điều quy định về hộ tịch, hộ khẩu, hôn
nhân-gia đình và các tội phạm trong các lĩnh vực này.
Chương 6. Chương Điền sản: 59 điều, trong đó 32 điều ban đầu và 27
điều bổ sung sau, quy định về ruộng đất, thừa kế, hương hỏa và các tội phạm
trong lĩnh vực này.
Chương 7. Chương Thông gian: 10 điều quy định về các tội phạm tình
đất.
Về hình thức, các hợp đồng thường phải lập thành văn tự giữa các bên
tham gia hợp đồng với sự chứng thực của quan viên có thẩm quyền.
6
b) Thừa kế
Trong lĩnh vực thừa kế, quan điểm của các nhà làm luật thời Lê khá
gần gũi với các quan điểm hiện đại về thừa kế. Thể hiện ở các điều 354, 388,
374-377, 380, 388.
c) Trách nhiệm dân sự
- Tổn thất vật chất
Những tổn thất phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm
hợp đồng (trong hợp đồng) được Luật Hồng Đức quy định rất rõ ràng và cụ
thể:
Điều 579 quy định về bồi thường trong trường hợp các bên đã xác lập
một khế ước nhận giữ súc vật và của cải của nhau mà bên nhận giữ lại tự tiện
mang đi tiêu dùng. “Những người nhận giữ của ai gửi súc vật của cải mà đem
dùng hay tiêu đi thì xử phạt 80 trượng và đền tiền theo tổn thất, nói dối là chết
hay mất thì phải biếm một tư và đền tiền gấp đôi, nếu mà đánh mất thì bị xử
phạt 40 trượng và đền tiền theo giá trị súc vật bị mất”.
Điều 356, 361, 383, 384, 587, 888, 589; 603 quy định về nhiều loại
khế uớc rất quan trọng và thông dụng trong dân chúng như khế ước mua bán,
cho vay, cho thuê.
- Tổn thất về tinh thần
Điều 472 quy định về trường hợp kẻ dưới đánh quan lại, quan lại đánh
lẫn nhau thì khi một người đánh quan chức bị thương, ngoài việc phải chịu
hình phạt, đền bù thương tổn còn phải đền tiền tạ. Trái lại, nếu đánh người
không phải quan chức, theo quy định tại các điều luật khác thì không phải chịu
khoản tiền tạ.
2.2 Các quy định hình sự
nhân phẩm con người, các tội xâm phạm an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã
hội, các tội phạm quân sự, xâm phạm chế độ sở hữu ruộng đất, xâm phạm chế
độ hôn nhân-gia đình, các tội tình dục, các tội xâm phạm chế độ tư pháp v.v
c) Hình phạt
* Ngũ hình (có 5 hình phạt chính): Ngũ hình được quy định tại điều 1
và bao gồm: xuy, trượng, đồ, lưu, tử:
- Xuy hình (đánh bằng roi) có 5 bậc: 10, 20, 30, 40 và 50 roi, có thể
kèm phạt tiền và biếm chức, áp dụng cả cho nam và nữ.
- Trượng (đánh bằng gậy) cũng có 5 bậc: 60, 70, 80, 90 và 100 trượng,
chỉ áp dụng cho nam và có thể kèm theo hình phạt bổ sung là đồ hình, lưu
hình hoặc biếm chức.
- Đồ hình (bắt làm việc nặng) có 3 bậc là: Dịch đinh kèm 80 trượng
cho nam và dịch phụ kèm 50 roi cho nữ; Tượng phường binh (quét dọn
chuồng voi kèm 80 trượng và thích 2 chữ vào mặt) cho nam và xuy thất tỳ
(nấu cơm nuôi quân kèm 50 roi và thích 2 chữ vào cổ) cho nữ; Chủng điền
binh (lính lao động ở đồn điền của nhà nước kèm 80 trượng và thích vào cổ 4
chữ, phải đeo xiềng) cho nam và thung thất tỳ (xay thóc giã gạo trong các kho
thóc thuế của nhà nước kèm 50 roi và thích vào cổ 4 chữ) cho nữ.
- Lưu hình (đi đày) có 3 bậc:
+ Một là châu gần: Người phạm tội bị đánh 9 trượng, thích vào mặt 6
chữ, đeo xiềng, đày đi làm việc ở Nghệ An, Hà Hoa (đối với nam); đánh 50
roi, thích vào mặt 6 chữ, không đeo xiềng, bắt phải làm việc (đối với nữ).
+ Hai là châu ngoài: Đánh 90 trượng, thích vào mặt 8 chữ, đeo xiềng
02 vòng, đày đi làm việc ở Quảng Bình.
+ Ba là châu xa: Đánh 100 trượng, thích vào mặt 10 chữ đeo xiềng 3
vòng, đày đi làm việc ở các vùng xứ Cao Bằng.
8
- Tử hình (giết chết) có 3 bậc là: Giảo (thắt cổ), trảm (chém đầu);
Khiêu (chém bêu đầu); Lăng trì (tùng xẻo) tức xẻo từng miếng thịt rồi mổ
Trong lĩnh vực quan hệ gia đình, bộ luật đã điều chỉnh các quan hệ như
quan hệ nhân thân giữa vợ và chồng, giữa cha mẹ và con cái, giữa các thân
thuộc.
- Quan hệ vợ - chồng: Nghĩa vụ phải chung sống tại một nơi và phải có
trách nhiệm với nhau (các điều 321 và 308, 309), không được ngược đãi vợ
(điều 482), nghĩa vụ chung thủy (điều 401, 405), nghĩa vụ để tang nhau (các
điều 2, 7).
9
- Quan hệ cha mẹ - con cái: nghĩa vụ phải vâng lời và phụng dưỡng cha
mẹ, ông bà (khoản 7 điều 2), nghĩa vụ chịu tội roi, trượng thay cho ông bà, cha
mẹ (điều 38), nghĩa vụ không được kiện cáo ông bà-cha mẹ (điều 511
- Quan hệ nhân thân khác: Đề cập tới quan hệ giữa vợ cả-vợ lẽ (các điều
309, 481, 483, 484) và nhà chồng, anh-chị-em (các điều 487, 512), nuôi con
nuôi (các điều 380, 381, 506) và vai trò của người trưởng họ (điều 35).
2. 4. Các quy định tố tụng
- Thẩm quyền và trình tự tố tụng của các cấp chính quyền (điều 672)
- Thủ tục tố tụng (phần lớn của hai chương cuối) như đơn kiện- đơn tố
cáo (các điều 508, 513, 698), thủ tục tra khảo (các điều 546, 660, 665, 667,
668, 714, 716), thủ tục xử án (các điều 671, 709), phương pháp xử án (các
điều 670, 683, 686, 708, 714, 720, 722), thủ tục bắt người (các điều 646, 658,
659, 663, 676, 680, 701-704).
IV. KẾT LUẬN
Nhà nước và pháp luật Việt Nam thời Lê Sơ về hành chính là nhà nước
có cơ cấu tổ chức chặt chẽ, quyền lực tập trung vào tay nhà vua - thể hiện tính
độc quyền của chế độ phong kiến, về luật pháp bộ lụât Hồng Đức có nội dung
chính là để bảo vệ vương quyền, địa vị và quyền lợi của giai cấp phong kiến,
củng cố trật tự xã hội và gia đình gia trưởng phong kiến. Nó là sự hiện thực
hóa tư tưởng chính trị và đạo đức Nho giáo.