TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP TP. HỒ CHÍ MINH
CƠ SỞ THANH HÓA – KHOA KINH TẾ
BÀI TIỂU LUẬN
TÀI CHÍNH TIỀN TỆ PHẦN 1
ĐỀ TÀI :
GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG CÁC PHƯƠNG
TIỆN THANH TOÁN KHÔNG DÙNG TIỀN MẶT TẠI VIỆT
NAM
SINH VIÊN TH : NGUYỄN THỊ NHUNG
MSSV : 12002003
LỚP : DHKT8TH
THANH HÓA, THÁNG 06 NĂM 2014.
1
Bài tiểu luận môn Tài chính tiền tệ 1
NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN
được đẩy lùi.
Tuy nhiên công tác TTKDTM ở nước ta hiện nay vẫn còn một số tồn tại
cần quan tâm nghiên cứu. Vì những lý do trên mà em chọn đề tài: "Giải pháp
nâng cao hiệu quả sử dụng các phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt
tại Việt Nam"
Do thời gian có hạn, kinh nghiệm chưa có nhiều nên bài viết không tránh
khỏi những thiếu sót. Em mong nhận được sự góp ý của thầy giáo, cô giáo cùng
toàn thể các bạn.
Sinh viên: Nguyễn Thị Nhung – MSSV: 12002003 Trang 4
Bài tiểu luận môn Tài chính tiền tệ 1
PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ THANH TOÁN
KHÔNG DÙNG TIỀN MẶT
1.1. Khái niệm về thanh toán không dùng tiền mặt
Thanh toán không dùng tiền mặt ( thanh toán chuyển khoản) là phương
thức trả thực hiện bằng cách tính một số tiền từ tài khoản người chi chuyển sang
tài khoản người hưởng thụ. Các tài khoản này đều được mở tại ngân hàng. Như
vậy, TTKDTM là nghiệp vụ trung gian của ngân hàng. Ngân hàng chỉ thực hiện
thanh toán khi có lệnh của chủ tài khoản, bao gồm các tổ chức kinh tế, đơn vị và
cá nhân mở tài khoản tại ngân hàng.
Trong quan hệ TTKDTM, ngân hàng đóng vai trò tổ chức trung gian cung
cấp dịch vụ tài chính cho cả bên mua và bên bán với mức dịch vụ thích hợp.
1.2. Những quy định trong TTKDTM
Để công tác TTKDTM qua ngân hàng có thể thực hiện nhanh chóng, chính
xác thì các bên mua, bên bán, ngân hàng phải tuân thủ một số quy định sau:
1.1.2.Quy định chung
Các doanh nghiệp cơ quan, đoàn thể, đơn vị vũ trang, công dân Việt Nam
và người nước ngoài hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam được quyền lựa chọn
ngân hàng để mở tài khoản, giao dịch và thực hiện thanh toán.
Các đơn vị dự toán ngân sách nhà nước mở tài khoản tại KBNN.
quyền theo quy định của pháp luât.
Khi thực hiện các dịch vụ thanh toán cho khách hàng, ngân hàng được thu phí
theo quy định của Thống đốc NHNN
Sinh viên: Nguyễn Thị Nhung – MSSV: 12002003 Trang 6
Bài tiểu luận môn Tài chính tiền tệ 1
CHƯƠNG 2:
THỰC TRẠNG VỀ THANH TOÁN KHÔNG DÙNG TIỀN MẶT
Ở VIỆT NAM
2.1. Quá trình phát triển của Thanh toán không dùng tiền mặt ở
Việt Nam
2.2.1. Thời kỳ ngân hàng hoat động theo cơ chế kế hoạch hoá tập trung
Nhận rõ được vai trò quan trọng của công tác TTKDTM nên ngay từ khi
hệ thống ngân hàng mới ra đời công tác TTKDTM đã được chú trọng triển khai
thực hiện.
Trong thời kỳ ngân hàng hoạt động theo cơ chế kế hoạch hoá tập trung,
công tác TTKDTM ở nước ta đã phát triển rộng rãi trong khu vực kinh tế quốc
doanh, kinh tế tập thể và cũng có những tác dụng nhất định như tập trung được
nguồn vốn trong ngân hàng, giảm khối lượng tiền mặt trong lưu thông. Nhưng
hiệu quả công tác thanh toán còn kém chưa thể hiện được ưu thế hơn hẳn so với
thanh toán bằng tiền mặt.
2.2.2. Thời kỳ ngân hàng hoạt động theo cơ chế thị trường
Đi đôi với sự phát triển về bộ máy, tổ chức và hoạt động ngân hàng, công
tác TTKDTM của ngân hàng cũng được phát triển và thay đổi theo từng giai
đoạn nhằm hình thành xứ mạng lịch sử của nó đáp ứng cho nhu cầu hoạt động
của nền kinh tế. Công tác TTKDTM đã đạt được những thành tựu đáng kể, đặc
biệt từ sau khi hai pháp lệnh ngân hàng ra đời tháng 5 / 1990 có hiệu lực từ ngày
1 /10 /1990
Những thành đó được biểu hiện qua phạm vi thanh toán không còn bó hẹp
trong kinh tế quốc doanh, tập thể mà đã mở rộng tới các thành phần kinh tế
ngoài quốc doanh các tầng lớp dân cư dưới nhiều hình thức như tài khoản tư
cần séc.
Séc có thể được chuyển nhượng, tức là người thụ hưởng có ghi trên séc có
thể chuyển nhượng cho người khác thụ hưởng số tiền ghi trên séc trong phạm vi
thời hạn hiệu lực của séc, trừ trường hợp trên séc đã ghi cụm từ“ Không được
Sinh viên: Nguyễn Thị Nhung – MSSV: 12002003 Trang 8
Bài tiểu luận môn Tài chính tiền tệ 1
phép chuyển nhượng”.Séc được dùng để thanh toán chuyển khoản hoặc rút tiền
mặt tại đơn vị ngân hàng của người phát hành séc. Ngân hàng có trách nhiệm
thanh toán kịp thời cho người thụ hưởng, nếu chậm trễ do lỗi của ngân hàng thì
ngân hàng sẽ bị phạt: Số tiền phạt = số tiền séc*số ngày chậm thanh toán*lãi
suất nợ quá thời hạn của lãi suất tiền cho vay ngắn hạn
Séc có thể được dùng để thanh toán dưới hình thức séc chuyển khoản và séc
bảo chi.
2.2.1.2. Thanh toán bằng uỷ nhiệm chi – chuyển tiền.
Uỷ nhiệm chi là lệnh chi tiền của chủ tài khoản được lập theo mẫu in sẵn
của ngân hàng, KBNN yêu cầu ngân hàng, KBNN phục vụ mình trích tài khoản
tiền gửi của mình để trả cho người hưởng thụ
Uỷ nhiệm chi được dùng để thanh toán các khoản trả tiền hàng dịch vụ
hoặc chuyển tiền trong từng hệ thống và các hệ thống ngân hàng hoặc Kho bạc
nhà nước (KBNN).
Séc chuyển tiền cầm tay là một loại chuyển tiền được sử dụng theo yêu cầu
của khách hàng. Séc chuyển tiền được áp dụng trong cùng hệ thống ngân hàng,
KBNN do ngân hàng, KBNN lập và trao cho khách hàng sau đã lưu tiền vào một
tài khoản.
Thời hạn hiệu lực tối đa của séc chuyển tiền cầm tay là 30 ngày kể từ ngày
phát hành ghi trên tờ séc.
2.2.1.3. Thanh toán bằng uỷ nhiệm thu (UNT)
UNT được áp dụng thanh toán giữa các khách hàng mở tài khoản trong
cùng một chi nhánh ngân hàng hoặc các chi nhánh ngân hàng, KBNN cùng hệ
thống hoặc các hệ thống. Uỷ nhiệm thu dòng thụ hưởng lập gửi vào ngân hàng,
Người sử dụng thẻ có thểđể rút tiền mặt tại các ngân hàng đại lý thanh toán
hoặc tại các quầy trả tiền mặt tựđộng, mỗi lần rút không quá 5 triệu, mỗi ngày
mọt thẻ chỉđược rút tiền mặt một lần.
2.2.2. Lợi ích TTKDTM:
Tiết kiệm không phải in tiền ; đỡ tốn lao động kiểm đếm vận chuyển bảo vệ
khi thu, chi bằng tiền mặt; chống được mất mát tài sản về tiền mặt; hạn chế tiêu
Sinh viên: Nguyễn Thị Nhung – MSSV: 12002003 Trang 10
Bài tiểu luận môn Tài chính tiền tệ 1
cực hiện nay trong các quan hệ kinh tế; luân chuyển vốn nhanh (thanh toán bằng
chi tiêu chứng từ); khối lượng thanh toán lớn- thuận lợi cho sản xuất kinh
doanh; tiện cho việc kiểm tra- kiểm toán của doanh nghiệp không bị chốn thuế
doanh thu; phổ biến trong nền kinh tế thị trường; đáp ứng yêu cầu thanh toán
quốc tế khi Việt Nam tham gia hội nhập kinh tế thế giới.
Sinh viên: Nguyễn Thị Nhung – MSSV: 12002003 Trang 11
Bài tiểu luận môn Tài chính tiền tệ 1
CHƯƠNG 3:
MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC THANH
TOÁN KHÔNG DÙNG TIỀN MẶT Ở VIỆT NAM
3.1. Những tồn tại.
Hiện nay các tổ chức kinh tế quốc doanh, doanh nghiệp tư nhân và các cơ
quan nhà nước mở tài khoản sở giao dịch, có thể thực hiện tốt nhất, triệt để nhất
việc TTKDTM, thì chính ở những đơn vị này lại sử dụng tiền mặt thanh toán
như: trả lương, thanh toán tiền điện nước, các dịch vụ khác. Nhìn chung các thể
thức thanh toán hiện ở nước ta vẫn còn mang nặng dáng dấp, nội dung của nền
kinh tế kế hoạch hoá tập trung, một số hình thức thanh toán còn nhiều thủ tục,
phiền hà. Việc đổi mới công nghệ trong thanh toán có sự chuyển biến mạnh về
nội dung lẫn cơ sở trang bị.Khá nhiều máy tính đắt tiền. Việc vận dụng các thể
thức thanh toán của khách hàng còn lúng túng, có khách hàng chưa nắm vững cá
quy định trong các thể thức. Mặc mù công đoạn truyền nhập thông tin được
tựđộng hoá trong chuyển tiền điện tửnhỏ, việc kết nối truyền thông còn chậm
trung,tại chức,dài hạn ngắn hạnđào tạo chuyên sâu trong và ngoài nước hay phải
đổi mới và cải thiện nội dung đào tạo sao cho phù hợp với yêu cầu đổi mới ngân
hàng.
3.2.4.Thu hẹp việc sử dụng tiền mặt:
Thanh toán bằng tiền mặt gây ra nhưng chi phí cho xãhội,mất an toàn, gây
lãng phí cho nền kinh tế.Thanh toán bằng tiền mặt với khối lượng không hạn chế
trong các tổ chức kinh tế, cá nhân tạo ra những kẽ hở cho việc bòn rút tài sản
XHCN bằng nhiều cách.Cần phải có một văn bản quy định về khối lượng sử
dụng tiền mặt.
3.2.5. Cải tiến quy trình công nghệ :
Trước hết là việc tận dụng và phát huy hơn nữa vai trò của máy tính trong
hoạt động ngân hàng.Nhờ có nối mạng hệ thống máy tính với các ngân hàng có
thể tiến hành được giao dịch thanh toán bù trừ tựđộng,rút ngắn thời gian luân
chuyển chứng từ,có thểđồng ghi “nợ” “có” cho khách hàng
Nhắc đến công nghệ ngân hàng chúng ta không chỉ nhắc đến phần cứng của
Sinh viên: Nguyễn Thị Nhung – MSSV: 12002003 Trang 13
Bài tiểu luận môn Tài chính tiền tệ 1
nó là máy tính và các thiết bị ngoại vi của máy tính mà quan trọng là các yếu tố
phần mềm.Thiếu con người,thiếu trình độ năng lực của nhân viên ngân hàng thì
mọi hoat động của ngân hàng sẽ không thực hiện được hoặc bị chậm lại không
theo kịp các ngân hàng khác.Cải tiến bộ máy quản lý,nâng cao uy tín sẽ tao được
vị thế của ngân hàng.
Sinh viên: Nguyễn Thị Nhung – MSSV: 12002003 Trang 14
Bài tiểu luận môn Tài chính tiền tệ 1
KẾT LUẬN
Hoà bình vào xu thế phát triển chung cả nước, ngành ngân hàng đã có
những nỗ lực to lớn nhằm tự hoàn thiện mình vàđóng góp vào quá trình công
nghiệp hoá hiện đại hoáđất nước. Hiện nay, hoạt động của các ngân hàng thương
mại vẫn chỉ mang tính chất như một ngân hàng cổđiển, nghĩa là mới chỉ dừng lại
ở nghiệp vụđi vay và cho vay là chủ nên chưa thực sựđáp ứng được đòi hỏi của