Luận văn đông phương học phương thức kinh doanh truyền thống trung hoa dưới góc nhìn văn hóa - Pdf 22


1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LẠC HỒNG
oOo
PHƯƠNG THỨC KINH DOANH
TRUYỀN THỐNG TRUNG HOA
DƯỚI GÓC NHÌN VĂN HÓA

Người thực hiện đề tài :

ThS.PHẠM THỊ BÍCH HẰNG
Giảng viên Khoa Đông Phương

2
MỤC LỤC

DẪN LUẬN 3
CHNG I : NHỮNG TIỀN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 7
I. Những vấn đề chung 7
II. Điều kiện tự nhiên liên quan đến kinh doanh truyền thống
Trung Hoa 12

Sở dĩ họ có bản lĩnh như thế vì:
1. Người Trung Hoa không chỉ dùng đến những “kinh
nghiệm truyền khẩu” theo kiểu “cha truyền con nối” mà họ đã sớm đúc
kết thành nh
ững học thuyết. Bởi vì, người Trung Hoa rất chịu khó ghi
chép và có óc hệ thống hoá rất cao.
2. Tính cộng đồng được hình thành trên cơ sở gia đình
mở rộng nên rất chặt chẽ và thể hiện rõ nét. Do đó, chỉ cần ở đâu có
người Hoa là họ nhanh chóng bắt tay nhau để cùng làm ăn.
3. Tính nhất quán từ tư duy đến hành vi đều nằm trong
một trật tự nhất định.
Do đó, nói
đến Trung Hoa, người ta nghĩ ngay đến một đất
nước “cổ kính”, có một truyền thống văn hóa liên tục và lâu đời, được
công nhận là một trong năm chiếc nôi văn hóa của thế giới.
Bên cạnh đó, những phát triển vượt bậc của Trung Hoa trong
thời kỳ hiện nay khiến cho nhiều nhà nghiên cứu không thể không chú ý
đến “hiện tượng Trung Hoa”. Trung Hoa nổi lên như một hiện tượng
khiến nhiều cường qu
ốc trên thế giới cũng phải e dè. Các nhà kinh tế còn
cho rằng : thế kỷ XXI sẽ là thế kỷ của Trung Hoa.

4
Trong tiến trình toàn cầu hóa ngày càng mạnh mẽ như hôm
nay, và tiến trình ấy cũng là cơ hội để Việt Nam có những bước tiến vượt
bậc khi hòa nhập vào cộng đồng thế giới. Trong số các nước đang hợp
tác đầu tư vào Việt Nam thì Trung Hoa là một đối tác không nhỏ, các
công ty của họ đã đầu tư vào Việt Nam ở khá nhiều lĩnh vực. Do đó, việc
tìm hiểu văn hóa kinh doanh củ
a Trung Hoa để Việt Nam có thể trở

hàng hóa, buôn bán và dịch vụ, cả ba đều có chung mục đích cơ bản là
kiếm lời. Nhà kinh doanh tìm mọi cách để thu về lợi nhuận nhiều nhất và
nhanh nhất.
Do kinh doanh là một hoạt động tìm kiếm lợi nhuận, thiên về
vật chất, nên trước đây người ta chỉ biết tìm cách làm cho đồng vốn c
ủa
mình sinh lãi chứ ít ai nghĩ đến kinh doanh cũng phải có văn hóa. Tuy
nhiên, sự thất bại của nhiều tập đoàn kinh tế phương Tây khiến người ta
phải nhìn nhận lại vấn đề. Đồng thời, người ta bắt đầu quan quan tâm đến
văn hoá, kết hợp văn hoá với kinh doanh, làm cho cái lợi (kinh tế) gắn bó
với những giá trị chân, thiện, mỹ (kinh doanh có văn hoá) là xu hướng
chung của các doanh nghiệp muốn tồ
n tại và phát triển lâu dài.
Tuy nhiên, trong thời Phong kiến nói đến kinh doanh ít ai
nghĩ đến nó bao gồm ba lĩnh vực sản xuất, buôn bán và dịch vụ, mà
thường chỉ nghĩ đến những hoạt động thương mại là chính mà cụ thể là
buôn bán kiếm lời. Riêng về mặt buôn bán ngày nay cũng không giống
ngày xưa, buôn bán ngày nay luôn có những dịch vụ đi kèm như quảng
cáo, tiếp thị… mà lúc khởi đầu kinh doanh chỉ gói gọn trong khuôn khổ
trao đổi buôn bán mà thôi.
Trung Hoa được cho là một quốc gia luôn có sự thay đổi
giữa các giai đoạn thống nhất và chia rẽ chính trị, thỉnh thoảng quốc gia
này lại bị các nhóm dân tộc bên ngoài chinh phục, một số nhóm thậm chí
đã bị đồng hóa vào bên trong dân tộc Trung Hoa. Những ảnh hưởng
chính trị và văn hóa từ nhiều thành phần dân tộc của Châu Á tràn tới cùng
những đợt sóng di dân liên tục, đã hòa trộn để tạo thành hình ảnh của văn
hóa kinh doanh ngày nay.
Do
đó, tìm hiểu văn hóa kinh doanh của Trung Hoa không
phải là một vấn đề nhỏ, hay đơn giản. Nó bao gồm rất nhiều khía cạnh


7
CHƯƠNG I : NHỮNG TIỀN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ
THỰC TIỄN

I. Những vấn đề chung
Để trình bày đề tài một cách rõ ràng, người viết sẽ khởi đi từ
những vấn đề chung, đó là những tiền đề giúp hiểu đề tài một cách thấu
đáo.
Vấn đề trước tiên là phân biệt các loại hình văn hóa. Đó là
cách thức phân loại văn hóa theo những tiêu chí cụ thể. Ví dụ : nếu dùng
không gian làm tiêu chí, ta sẽ có loại hình văn hóa Phương Đông và
Phương Tây. Nếu dùng kinh tế làm tiêu chí, ta sẽ có loại hình văn hóa
gố
c du mục và loại hình văn hóa gốc nông nghiệp. Nếu dùng tôn giáo
làm tiêu chí, ta có loại hình văn hóa tôn giáo thế giới và loại hình văn
hóa tôn giáo dân tộc …
Trong đề tài này, người viết sẽ sử dụng kết hợp cả hai tiêu
chí không gian và kinh tế để xem xét các vùng văn hóa và đúc kết những
khác biệt của các vùng văn hóa dựa vào những nghiên cứu của các
chuyên gia. Phương Đông và phương Tây như những khái niệm văn hoá
được hình thành trong khu vực cựu lục địa Á-Âu (Eurasia). Ph
ương
Đông = Đông Nam; phương Tây = Tây Bắc.
Sự khác biệt văn hóa của các vùng miền trên dựa vào sự
khác biệt về điều kiện tự nhiên và điều kiện xã hội. Chính sự khác biệt về
điều kiện tự nhiên và điều kiện xã hội ấy đã hình thành nên những khác
biệt về văn hóa. Sự khác biệt ấy được trình bày trong bảng sau :
TIÊU CHÍ GỐC NÔNG NGHIỆP GỐC DU MỤC
Vị trí địa lý Phương Đông –

không dùng đến
Lưu giữ - Bỏ đi

9
Ứng xử với môi
trường tự nhiên
Tôn trọng, sống hòa hợp
với thiên nhiên
Coi thường – tham vọng
chế ngự thiên nhiên
Lối tư duy nhận thức Thiên về tổng hợp – coi
trọng các mối quan hệ
Thiên về phân tích, coi
trọng yếu tố
Nguyên tắc tổ chức
cộng đồng
Trọng tình, trọng đức,
trọng văn, trọng nữ.
Trọng sức mạnh, trọng tài,
trọng võ, trọng nam.
Cách thức tổ chức
cộng đồng
- Chủ động, thích nghi,
linh hoạt (do môi trường,
sinh hoạt). Coi trọng lệ
hơn luật.
- Tùy tiện
- Có truyền thống tuân thủ
các nguyên tắc. Coi trọng
pháp luật. Có kỷ luật.

thường tận dụng những gì trong môi trường sống để tự đáp ứng những
nhu cầu của mình trong những điều thiết yếu như : ăn, mặc, ở, đi lại.
Trong khi cư dân du mục chỉ có đàn gia súc không thể tự cung tự cấp m
ọi
nhu cầu thiết yếu. Do đó, họ cần có sự trao đổi hàng hóa nhằm có đủ
những sản phẩm khả dĩ đáp ứng được những nhu cầu cuộc sống. Bên
cạnh đó, cuộc sống du cư cũng giúp họ nhìn thấy “độ chênh lệch” của các
sản phẩm của vùng này so với vùng khác và có thể từ đó đã phát sinh
trong họ ý định buôn bán, trao đổi hàng hóa để tìm kiếm lợi nhu
ận.
Mối quan tâm của con người mọi thời dường như chỉ gói gọn
trong hai chữ DANH và LỢI. Bởi vì, đó cũng là con đường dẫn người ta
đến GIÀU và SANG.
Tuy nhiên, do con người còn bị chi phối bởi văn hóa dân tộc
và tính cách riêng nên có thể hướng sự coi trọng của mình đến mặt này
hay mặt khác. Có dân tộc coi trọng danh hơn lợi, có dân tộc trọng lợi hơn
danh, nhưng cũng có dân tộc coi trọng cả hai thứ.
Ng
ười coi trọng danh thường lưu tâm đến những giá trị tinh
thần, kẻ coi trọng lợi lại phóng tầm nhìn của mình về vật chất. Người
Trung Hoa sẽ coi trọng gì?
Theo GS.TSKH. Trần Ngọc Thêm, trên thế giới ngoài hai
vùng Phương Đông, phương Tây thì có một vùng khá lớn được gọi là
vùng chuyển tiếp. Tuy vùng này vẫn thường được xếp vào Phương Đông,
nhưng khi so sánh với những vùng thuần nông như Đông Nam Á, hay
Nam Á thì vùng này có sự khác biệt khá l
ớn.
Đó là sự khác biệt về địa hình : nơi đây có nhiều núi, cao
nguyên và sa mạc; và một số khác biệt về văn hóa như chất dương tính


minh thế giới, có một bề dày phát triển liên tục hơn 7000 năm. Nhưng
vùng đất này dường như không quan tâm nhiều lắm đến vấn đề tâm linh.
Trung Hoa không hề sản sinh một tôn giáo hay tín ngưỡng đúng nghĩa
nào. Đạo giáo hay Nho giáo thực chất là những học thuyết triết lý hơn là

12
giáo lý của một tôn giáo. Những tôn giáo du nhập vào đây đều mặc lấy
thói quen tín ngưỡng của vùng này. Ví dụ : Đền miếu Trung Hoa thờ rất
nhiều vị, có khi là thần tiên, nhưng nhiều nhất là những danh nhân hay
“anh hùng dân tộc”. Trước đền miếu luôn luôn đặt hai con hổ đúc có vai
trò là vị thần giữ cửa nhằm đánh đuổi những yêu tinh hay tà ma. Điều đó
cho thấy tính thế tục khá mạnh trong văn hóa Trung Hoa. Bở
i nếu trong
đền miếu là những vị thần linh thiêng thực sự thì cần chi đến các vị thần
giữ đến. Các vị thần tiên trong văn hóa Trung Hoa cũng ứng xử như con
người (tính thế tục), cũng có “hỉ, nộ, ái, ố, ai, cụ, dục”, nên mới cần đến
thần giữ cửa nhằm đánh đuổi tà ma. Do đây là vùng trung gian trọng thế
tục, cho nên, người Trung Hoa trọng cả danh và lợi. H
ọ cầu danh để tìm
lợi và cầu lợi để tìm danh. Hai yếu tố này tác động đến người Trung Hoa
và giúp trả lời cho câu hỏi tại sao người Hoa dù định cư ở đâu cũng trở
thành tay anh chị, giàu có một cách nhanh chóng.
II. Điều kiện tự nhiên liên quan đến kinh doanh
truyền thống Trung Hoa
Trung Hoa nằm ở phần nửa phía bắc của đông bán cầu, phía
đông nam của đại lục Á - Âu, phía đông và ở giữa châu Á, phía Tây của
Thái Bình Dương Địa hình nhìn theo tổng thể : Cao và hiểm trở, 60%
diện tích là núi cao trên 1000m. Địa hình cao về phía Tây và thấp dần về
phía Đông. Nửa phía đông của Trung Hoa là các vùng duyên hải, ngoài
rìa của các đảo là một vùng gồm bình nguyên phì nhiêu, đồi và núi, các sa

nước cho nhiều sông ngòi. Ngoài ra, trên cao nguyên đó còn có nhiều
sông hồ và thung lũng.
Bậc thang thứ hai là các vùng cao nguyên nội Mông Cổ, cao
nguyên Hoàng Thổ và cao nguyên Vân Quý, có độ cao trung bình từ
1000m đến 2000m. Cao nguyên nội Mông bằng phẳng rộng rãi, đồng cỏ
tươi tốt, là khu chăn nuôi lớn nh
ất Trung Hoa.
Cao nguyên Hoàng Thổ phủ đầy đất vàng, chính giữa có con
sông Hoàng Hà – chiếc nôi của văn hóa Trung Hoa chảy ngang. Cao
nguyên Vân Quý lại là điểm giao lưu của nhiều sông rạch lưu thông, Cao
nguyên này sở hữu thác Hoàng Quả Thụ nổi tiếng.

14
Cao nguyên Thanh Tạng, cao nguyên Nội Mông, cao
nguyên Hoàng Thổ và cao nguyên Vân Quý được xem là 4 vùng cao
nguyên lớn nhất Trung Hoa.
Ở tầng bậc thang này còn có thung lũng Tháp Lí Mộc, thung
lũng Chuẩn Hát Nhĩ và thung lũng Tứ Xuyên, ba thung lũng này cộng
thêm thung lũng Sài Đạt Mộc ở tầng bậc thang thứ nhất, được gọi là 4
thung lũng lớn nhất của Trung Hoa. Sa mạc lớn nhất Trung Hoa là sa mạc
Tháp Khắc La Mã Can, nằm bên trong thung lũng Tháp Lí Mộc.
Tầng bậc thang thứ ba, trải dài từ B
ắc xuống Nam bao gồm
ba vùng đồng bằng lớn: đồng bằng Đông Bắc, đồng bằng Hoa Bắc và
đồng bằng Trung Hạ du Trường giang có độ cao trung bình dưới 1000m.
Ba vùng đồng bằng lớn này là những khu nông nghiệp quan trọng của
Trung Hoa. Ven các khu đồng bằng này có rất nhiều núi thấp. Dãy núi
ven biển Đông Nam là nơi tập trung nhân khẩu đông nhất, cũng là khu có
nền kinh tế khá phát đạt.
Chính sự đa dạng về địa hình tạ

2.000 năm trCN. Các nhà khảo cổ học đã phát hiện những làng canh tác
đầu tiên đại diện cho việc trồng trọt đặc trưng của hai miền Nam và Bắc.
Địa điểm Từ Sơn nằm trên vùng đất dọc hai bờ sông ở chân
dãy núi Thái Hằng nhìn xuống Trung Nguyên. Các khai quật khảo cổ đã
tìm thấy hầm, kho trữ, mộ táng cho thấy một tổ chức “làng – xã” đã phát
triển tương
đối hoàn chỉnh vào thế kỷ 6 TCN.
Đồ gốm trong giai đoạn này có hình thù rộng, ba chân hay
bốn chân, bình có tay quai, vại có đục lỗ và đế vai xiên, khác rất nhiều so
với bình vò rộng miệng, sâu đều của nền văn hoá săn bắn hái lượm. Dụng
cụ lao động bằng xương gồm có : vật nhọn dùng để phóng (có chuôi và
không chuôi), dùi, rìu … dụng cụ đá gồm : cuốc, búa, cối đá có chân,
dụng cụ gặt… Điều đó cho th
ấy, người Trung Hoa cổ xưa dồn nhiều công
sức cho việc làm ra những dụng cụ lao động tương ứng với loại hình kinh
tế trong vùng. Người ta còn tìm thấy cây kê họ thảo đuôi chồn được
carbon hoá, xương heo, gà, vịt… chứng minh cho một loại hình kinh tế
nông nghiệp lúa khô và thuần hoá động vật.

16
Người ta xem xét thổ nhưỡng vùng này và cho kết luận : Ở
phương Bắc, đất hoàng thổ xốp, khô, khí hậu khắc nghiệt (quá lạnh và
cũng quá nóng), do dó người ta phải trồng kê là loại chịu được hạn.
Loại hình kinh tế chính ở vùng này thiên về hình thức “chặt
và đốt”. Cư dân Trung Hoa cổ cứ di cư đến đâu thì họ chặt và đốt rừng
đến đó. Khi khai hoang xong một thửa đất, nhờ tro bón đất, h
ọ có thể
trồng trọt khoảng từ 3 - 5 năm, sau đó, họ bỏ đi và lại chặt và đốt để khai
hoang một thửa đất mới, cứ như thế cho đến khi hết rừng thì họ lại quay
về vùng đất đã ở trước rồi lại chặt và đốt. Với kiểu làm ăn và định cư tạm

nhiều đầm lầy và nước.
Cuộc khuếch tán nền nông nghiệp lúa nước từ nam Trung
Hoa đi theo h
ướng Đông Bắc, lan sang các bán đảo và quần đảo lân cận
vào cuối thời Chu. Dòng lúa hạt ngắn tiêu biểu cho duyên hải phía Đông
Trung Hoa vì nó chịu được lạnh. Cho nên, lúa hạt ngắn đã từ đồng bằng
Thượng Hải lan truyền ra các vùng lân cận.
Tóm lại, địa hình Trung Hoa có thể xem xét từ hai chiều tây
– đông và bắc - nam.
Chiều tây-đông là chiều đối lập chủ yếu theo địa hình (cao-
thấp), lượng mưa (ít-nhiều) và dân tộ
c (các dân tộc Trung Á - Hán tộc).
Chiều bắc-nam thì lại là chiều có đối lập về nhiệt độ (lạnh-
nóng), lượng mưa (ít-nhiều). Miền bắc khô hạn, còn miền nam là vùng
sông nước. Từ đây dẫn đến đối lập về kinh tế (chăn nuôi - trồng trọt, nông
nghiệp khô - nông nghiệp nước), và về mức sống (nghèo-giàu).
Miền Bắc luôn là nơi trung tâm chính trị, do các triều đình
Phong kiến thường chọn đặt kinh
đô, nhưng cũng là vùng có chiến tranh
liên miên; Vì vậy người dân thường dạt về phương Nam, nơi đây có đất
đai màu mỡ, cuộc sống tương đối ổn định, là vựa lúa nuôi sống toàn
quốc. Cho nên, nó trở thành trung tâm kinh tế và người dân chỉ muốn
sống yên bình. Thời hiện đại vùng đông-nam phát triển kinh tế rất nhanh.
Bởi vì, những bờ biển vùng đông nam chính là nơi diễn ra việc buốn bán
nhộn nhịp. Ng
ười Trung Hoa thường dùng thành ngữ “Nam phong Bắc
tiệm” (Nam lên như gió, Bắc tiến dần dần) để ám chỉ tình hình kinh tế
thời xưa của Trung Hoa.

18


19
về làm nô lệ. Vua Vũ xây dựng thành quách để giữ gìn của riêng và người
trong dòng họ. Vua Vũ truyền ngôi cho con là Hạ Khải thừa kế. Khải lên
ngôi, tình thế chưa ổn định, lấy đất An Ấp (thuộc tỉnh Sơn Tây ngày nay)
để đóng đô. Những con cháu sau này nối ngôi Khải đều nhiều lần đánh
phá lẫn nhau, gây ra các cuộc chiến tranh chinh phạt nhỏ.
Kinh tế xã hội lúc thời này khá phát triển, xuất hiện cách
thức làm lịch pháp. Từ khi lên ngôi, Khải đặt tên nước là Hạ. Theo truyền
thuyết, đời Hạ đã có 9 cái vạc đồng do Khải cho đúc. Như vậy, có thể
thời kỳ này đã có đồng và nghề đúc đồng, cũng có nghĩa là giai đoạn này
thuộc về thời đại đồ đồng, và các vương quốc thực chất chỉ là những bộ
lạc, mà người Trung Hoa đã dùng cách thức tổ ch
ức thời Phong kiến để
viết lại những giai đoạn sơ khai này.
Những ghi chép của Tư Mã Thiên về thời gian thành lập Nhà
Hạ là từ khoảng 4.000 năm trước, nhưng điều này chưa được chứng thực.
Một số nhà khảo cổ học cho rằng nhà Hạ có liên quan tới di vật khai quật
được tại một vùng ở trung tâm tỉnh Hồ Nam, một bức tượng đồng niên
đạ
i từ khoảng năm 2000 TCN. Những dấu hiệu sớm của thời kỳ này được
tìm thấy trên các bình gốm và mai rùa trông tương tự như những đường
nét đầu tiên của chữ Trung Hoa hiện đại, nhưng nhiều học giả vẫn không
chấp nhận ý kiến này.
Bằng chứng khảo cổ học về sự tồn tại của Nhà Hạ chưa có.
Chủ yếu, người ta biết đế
n thời này theo truyền thuyết. Nhà Hạ truyền
được 17 đời vua, từ Hạ Vũ đến Hạ Kiệt kéo dài hơn bốn trăm năm thì
triều đại về tay Thành Thang nhà Thương.
Người ta tìm thấy những mảnh xương thú và mai rùa có khắc

Hà, họ thực hiện nhiều cuộc chinh phục mở rộng vào châu thổ sông
Dương Tử. Sự kiện này được xem là đợt di dân đầu tiên từ bắc xuống
nam trong lịch sử Trung Hoa.
Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu đồng ý với nhau rằng, chế độ
phong kiến Trung Hoa bắt đầu từ thời Tây Chu (thế kỷ XI trướ
c công
nguyên) đến cuộc chiến tranh thuốc phiện (1840). Còn việc buôn bán
được xem là một ngành nghề và là một loại hình kinh tế đúng nghĩa thì
chỉ được tính từ thời nhà Hán trở về sau.

21
Thời nhà Tần, nhằm củng cố sự tập trung quyền lực của triều
đình, Tần Thuỷ Hoàng công bố một loạt những chính sách nhằm duy trì
sự thống nhất lãnh thổ. Bên cạnh việc thống nhất chữ viết (thư đồng văn),
vua đã đưa ra những quy định để tiêu chuẩn hoá tiền tệ, tiểu chuẩn hóa hệ
thống cân đong trọng lượng và đ
o lường. Chứng tỏ, trước thời nhà Tần đã
có các loại tiền tệ lưu hành, có các dụng cụ cân đong do lường, chứng tỏ
ngay từ trước khi nhà Tần thống nhất Trung Hoa lần thứ nhất, thì vùng
đất này đã xuất hiện loại hình thương mại và trao đổi hàng hóa.
Khi áp dụng học thuyết Pháp gia khắc nghiệt, Vua đề ra các
luật lệ của đế chế rất chặt chẽ và cứng nh
ắc, đặc biệt đối với giới quan lại
trong triều đình. Hình phạt cho tội tham nhũng là tử hình. Vua chủ trương
tập trung hoá về mặt tư tưởng, tôn Pháp gia là tư tưởng chính thống và sợ
rằng bất kỳ một cách suy nghĩ nào khác ngoài Pháp gia có thể dẫn tới việc
phá vỡ hay nổi loạn. Vì thế mọi trường phái triết học khác bị đặt ra ngoài
vòng pháp luật, đặc biệt là Khổng giáo. Cho nên đã có s
ự kiện “đốt sách ,
chôn Nho”. Nhà Tần cũng cư xử rất mạnh tay đối với việc thương mại,

Con đường tơ lụa. Trung Hoa bắt đầu nhập khẩu các ngũ cốc và ngựa, họ
trồng cỏ đinh lăng và nho. Vũ Đế biết thêm nhiều nguồn gốc của những
hàng hóa mà Trung Hoa nhập khẩu. Để kiếm thêm lợi nhuận ông yêu cầu
các nước lân cận nộp thuế cho mình để được phép bán hàng cho người
dân Trung Hoa, và tiến hành các chiến dịch quân sự nhằm buộc h
ọ phải
thực hiện những yêu sách của mình.
Các cuộc chiến mở mang lãnh thổ, việc cung cấp lương thực
cho một quân đội chiếm đóng đông đảo trở thành một gánh nặng cho kinh
tế Trung Hoa. Chi phí cho chúng lớn hơn nhiều so với lợi ích thu lại được
từ việc tăng trưởng thương mại theo sau các cuộc chinh phục. Để lấy thu
bù chi, triều đình đánh thêm các loại thuế mới trên các tàu và xe buôn bán
mà hai lo
ại hàng mang lại nhiều lợi nhuận nhất trong công nghiệp của
Trung Hoa đó là muối và sắt. Do triều đình ngày càng can thiệp quá sâu
vào thương mại, kinh tế Trung Hoa thay vì phát triển thì lại dần dần rơi
suy yếu.
Chương Đế nối ngôi Minh Đế và cai trị Trung Hoa từ năm
75 – 88 và Hòa Đế tiếp tục nối ngôi Chương cai trị từ năm 88 - 106. Dù

23
Hòa Đế là một người tầm thường, nhưng Trung Hoa vẫn tiếp tục được
hưởng sự thịnh vượng ngày càng tăng. Đại học ở Lạc Dương có đến 240
căn nhà và 30.000 sinh viên. Thương mại của Trung Hoa đạt tới tầm cao
mới. Tơ lụa từ Trung Hoa đã trở nên quen thuộc với những người ở tận
vùng Đế chế Roma – lúc ấy cũng đang ở thời vàng son. Và
đổi lại, Trung
Hoa nhập khẩu được các loại hàng hóa từ các nước Phương Tây như :
kính, ngọc bích, ngựa, đá quý, mai rùa và vải vóc.
Đến TK II, Trung Hoa đã đuổi kịpChâu Âu và ở một số lĩnh

Hoa có số lượng rất lớn, và ngày càng tăng. Số lượng th
ương mại tăng
lên. Nhưng Trung Hoa vẫn ở dưới ảnh hưởng của Nho giáo, và các nhà
Nho thường không coi trọng thương mại.
Do đó khi thu lợi từ thương mại, người ta mua đất để được
kính trọng. Vì thế cả thương mại tư nhân và doanh nghiệp công nghiệp tư
nhân không phát triển. Dưới thời nhà Tống, các doanh nghiệp không
thuộc nhà nước được phát triển tự do nhưng các nhà buôn vẫn phụ thuộc
vào quan chức chính ph
ủ. Việc trả cho họ một phần coi như là đóng góp
cho hoạt động của chính phủ và quà cáp cá nhân là công việc bắt buộc khi
làm ăn. Các doanh nghiệp tư nhân trồng trọt và buôn bán nhỏ phát triển
nhưng không theo kiểu tích lũy tài sản cần thiết cho sự phát triển tư bản.
Con đường vào triều chính hay làm việc hành chính trong thời này vẫn
chưa mở cho những thương nhân, nếu họ không thuộc những gia đình
giàu có.
Trung Hoa thờ
i nhà Minh sản xuất đồ sứ, tơ và vải bông.
Triều đình sử dụng thương mại như một nguồn tài sản. Trước hết, triều
đình tài trợ cho các phường hội thủ công, đồng thời đưa ra các quy định
cấm cạnh tranh cũng như các quy định nhằm phát triển thương mại. Tiếp
đến, triều đình thu mua các sản phẩm từ các nhà sản xuất và các ngành
công nghiệp thường bị
ép buộc phải bán hàng cho triều đình với giá rất
thấp. Tuy nhiên, việc phát triển thương mại bị cản trở bởi những người
dân thường không thể tăng khả năng tiêu thụ. Bên cạnh đó, triều đình tiếp

25
tục áp đặt các giới hạn đối với ngoại thương, bao gồm cả việc cấm các lái
buôn Trung Hoa đi ra biển.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status