kHÓA LUẬN NGOẠI THƯƠNG Thực trạng và triển vọng phát triển nhượng quyền phương thức kinh doanh tại Việt Nam - Pdf 64

LỜI MỞ ĐẦU
Xu thế toàn cầu hóa đang từng ngày từng giờ tác động đến nhiều lĩnh vực hoạt động
của nền kinh tế xã hội Việt Nam. Mức độ hội nhập kinh tế ngày càng sâu rộng của Việt
Nam được thể hiện rất rõ qua các chỉ tiêu kinh tế như số lượng công ty nước ngoài và
nội địa, sự phong phú về hàng hóa, dịch vụ, quảng cáo, các dự án đầu tư trực tiếp nước
ngoài,..Trong bối cảnh này, rất nhiều các công ty nước ngoài thâm nhập vào thị trường
Việt Nam thông qua hình thức nhượng quyền thương mại (franchising), làm cho thị
trường Việt Nam trở nên năng động và sự cạnh tranh trở nên căng thẳng hơn. Đặc biệt
sự kiện Việt Nam gia nhập WTO đã tạo nên áp lực ngày càng tăng cho thị trường phân
phối của Việt Nam nói chung và hệ thống nhượng quyền thương mại nói riêng. Sự phát
triển của hệ thống nhượng quyền thương mại bằng cách tận dụng tối ưu các nguồn lực
của các nhà nhượng quyền và các nhà nhận quyền Việt Nam cũng như phản ứng của
doanh nghiệp Việt Nam để bảo vệ thị phần, phát triển bền vững và mở rộng ra nước
ngoài cũng không nằm ngoài xu thế cạnh tranh quốc tế này.
Vào những năm 1998, 1999, nhượng quyền thương mại còn là một hiện tượng rất
mới trong cộng đồng kinh doanh Việt Nam với sự xuất hiện của một loạt các quán cà
phê mang thương hiệu Trung Nguyên trên khắp các tỉnh thành cả nước. Nối tiếp sau
Trung Nguyên là những thương hiệu như Phở 2000, KFC, Lotteria, Kinh Đô, Phở 24,..
càng làm cho hoạt động nhượng quyền trở nên sôi động và khái niệm này trở nên quen
thuộc hơn với thị trường Việt Nam.
Mặc dù mới xuất hiện gần đây ở Việt Nam nhưng trên thực tế, hình thức này đã hình
thành từ lâu và phát triển nở rộ trên thế giới và ngay cả tại các nước láng giềng của
chúng ta. Tại Trung Quốc, thời gian gần đây các thương hiệu nhượng quyền luôn phát
triển với tốc độ tăng trưởng hai con số: từ năm 2000, bình quân mỗi năm hệ thống
nhượng quyền tăng 38%, các cửa hàng nhượng quyền tăng 55%. Năm 2004, nước này
đã có 2.100 hệ thống nhượng quyền (nhiều nhất trên thế giới ) với 120.000 cửa hàng
1
nhượng quyền trong 60 lĩnh vực khác nhau.
1
Tại Thái Lan, các thương hiệu nhượng
quyền cũng ngập tràn trên khắp các ngả đường, trung tâm mua sắm, nơi vui chơi giải trí

từ đó đánh giá kết quả và nhận biết những thuận lợi và khó khăn cho sự phát triển của hệ
thống này trong thời gian sắp tới, khi mà các nhà kinh tế đang dự đoán một sự bùng nổ
về nhượng quyền thương mại ở nước ta.
1
Khóa luận nghiên cứu về đề tài: “Thực trạng
và triển vọng phát triển nhượng quyền phương thức kinh doanh tại Việt Nam”, do vậy,
mang ý nghĩa thực tiễn và cần thiết để từ đó đưa ra những đề xuất cho hoạt động của
phương thức này trong thời gian tới nhằm đạt được hiệu quả cao.
1. Mục tiêu nghiên cứu:
Khóa luận nhằm mục tiêu tìm hiểu thực trạng hoạt động, cơ hội và thách thức đối
với xu hướng phát triển nhượng quyền phương thức kinh doanh, hình thức nhượng
quyền thương mại hiện đại phổ biến nhất hiện nay, tại Việt Nam, thông qua việc tìm
hiểu những lợi ích mà hình thức nhượng quyền thương mại nói chung mang lại cho các
bên tham gia hợp đồng nhượng quyền cũng như các cản trở mà họ có thể vấp phải, thực
trạng môi trường kinh doanh và pháp lý của Việt Nam và dựa trên phân tích mô hình
năm lực lượng của Porter.
2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu là các hệ thống nhượng quyền phương thức kinh doanh mang
thương hiệu Việt Nam và nước ngoài và các cơ sở pháp lý điều chỉnh hoạt động của các
hệ thống này ở Việt Nam. Do tính chất mới mẻ của đề tài và sự hạn chế của nguồn tài
liệu, khóa luận xin chỉ hướng phân tích vào những mô hình nhượng quyền tiêu biểu nhất
tại Việt Nam.
1
Nhượng quyền thương mại sẽ bùng nổ. www.vnexpress.net.
3
3. Phương pháp nghiên cứu:
Nghiên cứu kết hợp sử dụng những phương pháp như: phương pháp thống kê,
phương pháp đối chiếu, so sánh, phương pháp tổng hợp, phân tích,… Các bảng, biểu,
mô hình,… cũng được sử dụng để hỗ trợ cho việc trình bày nội dung nghiên cứu.
4

doanh mới và tạo thêm 1,2 triệu việc làm. Riêng trong năm 2005, trên nước Mỹ có hơn
900.000 cơ sở kinh doanh nhượng quyền, cung cấp việc làm cho 11 triệu người Mỹ và
tạo ra doanh thu khổng lồ 2,3 tỷ tỷ đô la, chiếm tỷ trọng 11% doanh thu của nền kinh tế
Mỹ.
1
Theo số liệu thống kê của Liên đoàn nhượng quyền thương mại châu Âu thì năm
1998, toàn châu Âu có tổng cộng 3.888 hệ thống nhượng quyền với 167.432 cửa hàng
nhượng quyền. Những cửa hàng này hàng năm đóng góp khoảng 95 tỷ Euro doanh số và
tạo hơn 1,5 triệu việc làm cho người dân các nước châu Âu.
2
Đến năm 2005, số lượng
các thương hiệu nhượng quyền tại châu Âu là 6.500, hoạt động tại 20 nước.
3
Theo những
thống kê cập nhật nhất, riêng ở Anh, nhượng quyền thương mại là một trong những hoạt
động kinh tế tăng trưởng nhanh nhất của nền kinh tế với khoảng 32.000 doanh nghiệp
nhượng quyền, doanh thu mỗi năm lên tới 8,9 tỷ bảng Anh, thu hút khoảng 317.000 lao
động và chiếm 29% thị phần bán lẻ. Tại Đức, trong năm 2000 có khoảng 3.700 cửa hàng
nhượng quyền mới ra đời, khu vực này đóng góp 20 tỷ đô la doanh số và sử dụng
346.500 lao động Đức.
4

Nhượng quyền thương mại ở châu Á cũng đang khởi sắc. Tại Trung Quốc, từ năm
2000, bình quân mỗi năm hệ thống nhượng quyền tăng 38%, các cửa hàng nhượng
quyền tăng 55%.
5
1
International Franchise Association (2005). Economic Impact of franchised businesses. (volume 2). The IFA
Educational Foundation, New York.
2

Chính phủ Malaysia cũng đã lập hẳn một chương trình quốc gia để thúc đẩy sự phát
triển của nhượng quyền thương mại (Franchise Development Programme) vào năm
1992, thông qua đó, nỗ lực gia tăng số lượng doanh nghiệp nhượng quyền cũng như
chọn lọc ra những lĩnh vực sản phẩm, dịch vụ của Malaysia có tính tiêu biểu để phát
triển theo hình thức này.
Tại Australia, kể từ khi Luật về nhượng quyền thương mại chính thức ra đời năm
1998, số lượng hệ thống nhượng quyền phương thức kinh doanh đã phát triển không
1
PricewaterhouseCoopers (2005). Franchising opportunities in China, Japan and Singapore. Franchising and
Licensing Association, Singapore
7
ngừng. Điều đó cũng cho thấy vai trò quan trọng của nhượng quyền thương mại trong
nền kinh tế của nước này:
Biểu 1: Số lượng hệ thống nhượng quyền phương thức kinh doanh tại Australia
Nguồn: Franchising Australia 2006 Survey, Griffith University
Những con số trên khẳng định vai trò không nhỏ của nhượng quyền thương mại
trong nền kinh tế thế giới, đồng thời cũng thể hiện sự ưu việt của hình thức này. Với xu
thế toàn cầu hóa hiện nay, mô hình này lại càng có nhiều cơ hội để phát triển, khi nó có
được sự tiếp cận vào các thị trường bán lẻ của các nước đang phát triển, nơi nhu cầu về
dịch vụ và hàng hóa đang ngày càng tăng, hứa hẹn một sự bùng nổ trong tương lai của
nhượng quyền thương mại tại các thị trường mới khai thác rất màu mỡ này.
2. Khái niệm nhượng quyền thương mại
2.1. Nhượng quyền thương mại là gì
Nhượng quyền thương mại (franchise) hay còn được gọi là nhượng quyền kinh
doanh là một quan hệ thương mại trong đó bên nhượng quyền (franchisor - chủ thương
hiệu), với một khoản thù lao, cho phép bên được nhượng quyền - bên nhận quyền
(franchisee) bán và phân phối hàng hoá của bên nhượng quyền đồng thời được sử dụng
8
thương hiệu và phương thức kinh doanh của bên nhượng quyền trong một thời gian nhất
định với sự kiểm soát và trợ giúp đáng kể và thường xuyên của bên nhượng quyền. Hai

Ngoài những định nghĩa trên còn có rất nhiều khái niệm khác nhau về nhượng quyền
thương mại, mỗi khái niệm đề cập đến một số khía cạnh của phương thức này. Nhưng
tựu chung lại, các định nghĩa đều có điểm chung là việc một bên nhận phân phối sản
phẩm hoặc dịch vụ dưới nhãn hiệu hàng hoá, các đối tượng khác của quyền sở hữu trí
tuệ và hệ thống kinh doanh đồng bộ do một bên khác (bên nhượng) phát triển và sở hữu.
Để được phép làm việc này, bên nhận phải trả phí và chấp nhận một số điều kiện do bên
nhượng quy định. Như vậy, tất cả những hoạt động kinh doanh tiến hành theo phương
thức này đều gồm 3 yếu tố cơ bản là: nhãn hiệu (Brand), hệ thống kinh doanh (Business
system), phí nhượng quyền (Fees). Ngoài 3 yếu tố trên, hình thức kinh doanh này có đặc
điểm cơ bản là bao gồm những thực thể độc lập. Mỗi người nhận quyền đều tự chịu
trách nhiệm về công việc kinh doanh của mình. Những người nhận quyền tự tiến hành
hoạt động kinh doanh, có toàn quyền với lợi nhuận mà họ kiếm được, tự chịu trách
nhiệm về việc đóng thuế cho hoạt động kinh doanh cũng như trả lương cho công nhân,
nhân viên của họ. Họ chỉ nhất thiết phải trả một khoản phí cho người nhượng quyền bất
kể công việc kinh doanh có lãi hay không.
2.2. Các yếu tố cấu thành nên mô hình nhượng quyền thương mại
 Nhãn hiệu (Brand)
Trong mỗi một hợp đồng nhượng quyền, bên nhượng quyền cho phép bên nhận
quyền được sử dụng nhãn hiệu (trademark), nhãn mác (service mark - thường được sử
dụng để nhận biết các dịch vụ hơn là hàng hoá, tương đương với nhãn hiệu), biểu tượng
hay các hình ảnh quảng cáo của bên nhượng quyền hay do bên nhượng quyền thực hiện.
Trong một số hệ thống nhượng quyền, bên nhận quyền chỉ sử dụng nhãn hiệu của
bên nhượng quyền, chẳng hạn như McDonald’s, Burger King,… Nhưng cũng có những
hệ thống nhượng quyền trong đó bên nhận quyền sử dụng nhãn hiệu của mình nối theo
10
nhãn hiệu của bên nhượng quyền, cách thức này thường được sử dụng trong lĩnh vực
kinh doanh bất động sản. Ví dụ: Century 21/ ABC Real Estate Company, ProForma/John
Smith Business Products (trong đó Century 21 và ProForma là nhãn hiệu của bên
nhượng quyền, ABC và John Smith là nhãn hiệu của bên nhận quyền),…
Việc sử dụng nhãn hiệu chung của bên nhượng quyền cho phép tất cả các bên tham

hàng hóa, thương hiệu và nhãn mác của bên nhượng quyền mà nó cung cấp cho bên
nhận quyền một phương thức hoàn chỉnh để quản lý công việc kinh doanh của mình bao
gồm cả kế hoạch bán hàng, hướng dẫn hoạt động kinh doanh. Hợp đồng nhượng quyền
bao gồm thêm việc chuyển giao kỹ thuật kinh doanh và công thức điều hành quản lý.
Các chuẩn mực của mô hình kinh doanh phải được tuyệt đối tuân thủ, ở đây không chỉ
có nhãn hiệu, nhãn mác, khẩu hiệu, biểu tượng, …được nhượng quyền mà là cả quyền
sử dụng toàn bộ phương thức kinh doanh, bao gồm kế hoạch kinh doanh, hệ thống quản
lý hình ảnh chất lượng sản phẩm. Tiêu chuẩn, sự tuân thủ và tính hệ thống trên tất cả các
mặt là nét đặc trưng của hình thức này. Điều đó đòi hỏi mối quan hệ hợp tác giữa bên
nhượng quyền và bên nhận quyền phải rất chặt chẽ và liên tục. Trong mối quan hệ này,
người nhượng quyền phải duy trì sự hỗ trợ, hợp tác chặt chẽ, thường xuyên liên tục với
bên nhận quyền. Sự hỗ trợ bao gồm các hoạt động: lập kế hoạch và chính sách
marketing, đưa ra các tiêu chuẩn về điều hành, về hệ thống kinh doanh, hỗ trợ việc quản
lý và điều hành công việc kinh doanh, đào tạo đội ngũ công nhân viên, kiểm soát chất
lượng, hướng dẫn và giám sát các hoạt động,… Đổi lại, bên nhận quyền phải trả một
khoản phí cho bên nhượng quyền, có thể là một khoản phí trọn gói, có thể là phí định kỳ
dựa trên doanh thu hoặc một khoản cố định, và cũng có thể tổng hợp cả hai khoản phí
trên. Khoản phí phải trả cao hay thấp là tuỳ thuộc vào uy tín thương hiệu, chủ trương của
bên nhượng quyền cũng như sự thoả thuận giữa hai bên.
12
Đây là hình thức nhượng quyền thương mại phổ biến nhất, phát triển nhanh nhất và
hiệu quả nhất hiện nay. Trên thực tế, nó được áp dụng trong hầu hết các ngành nghề
trong nền kinh tế. Các hệ thống nhượng quyền thương mại lớn, có tên tuổi trên thế giới ở
Mỹ hoạt động ở 13 lĩnh vực, trong đó nhượng quyền phương thức kinh doanh có tới 10
ngành (ô tô, dịch vụ thương mại và nhà ở, nhà hàng phục vụ nhanh, nhà hàng phục vụ
trọn gói, thức ăn bán lẻ, nhà nghỉ, bất động sản, hàng hoá bán lẻ và dịch vụ, dịch vụ kinh
doanh và các dịch vụ cá nhân).
1

2.4. Hợp đồng nhượng quyền thương mại

vùng và nhượng quyền độc quyền khu vực/ nhượng quyền thứ cấp.
Với hợp đồng thứ nhất, nhượng quyền phát triển vùng, người nhượng quyền cho
phép người nhận quyền (còn được gọi là người phát triển vùng) được mở một số lượng
cơ sở kinh doanh nhất định trong một vùng lãnh thổ nhất định theo thỏa thuận. Bên nhận
quyền không được phép bán lại hợp đồng nhượng quyền thương mại cho bất cứ ai
nhưng cũng không phải cung cấp dịch vụ này cho bất cứ ai. Để được nhượng quyền,
người phát triển vùng phải trả một khoản phí nhượng quyền ban đầu tương đối cao.
Đồng thời, người nhận quyền phải ký hai thoả thuận với người nhượng quyền, một bản
thoả thuận về phát triển vùng trong đó nêu rõ vùng lãnh thổ và quá trình triển khai các cơ
sở kinh doanh và trước khi mỗi một cơ sở kinh doanh được mở người nhận quyền phải
ký thêm một bản thoả thuận nhượng quyền một đơn vị. Thông thường, nếu người nhận
quyền không đảm bảo số lượng cơ sở hoạt động như thoả thuận thì người nhượng quyền
có quyền huỷ bản thoả thuận phát triển vùng nhưng vẫn cho phép các cơ sở mà người
nhận quyền đã lập được tiếp tục hoạt động. Hình thức này cũng chỉ bao gồm hai chủ thể
như hình thức trên.
Hợp đồng thứ hai, nhượng quyền độc quyền khu vực hay thứ cấp, cung cấp cho bên
nhận quyền nhiều quyền lợi hơn nhượng quyền phát triển vùng. Ngoài quyền và nghĩa
vụ được mở một số đơn vị kinh doanh nhất định tại một vùng lãnh thổ nhất định, bên
14
nhận quyền còn có quyền bán hợp đồng nhượng quyền cho một bên thứ ba trong vùng
lãnh thổ đó. Do đó, bên nhận quyền phải đảm nhận những nghĩa vụ, trách nhiệm và
quyền lợi của một bên nhượng quyền như hỗ trợ và đào tạo bên nhận quyền thứ cấp,
đồng thời nhận phí nhượng quyền.
Đây là hình thức nhanh nhất và phổ biến nhất để bành trướng thương hiệu ra nước
ngoài. Khi đó, người ta hay sử dụng thuật ngữ nhượng quyền độc quyền khu vực (master
franchise) và người nhận quyền gọi là đại lý độc quyền (master franchisee), bên nhận
quyền độc quyền sẽ kí với bên nhượng quyền một hợp đồng nhượng quyền thứ cấp.
Thông thường, bên nhượng quyền sẽ chọn và chỉ định một đối tác địa phương tại quốc
gia mà mình muốn xâm nhập làm đối tác nhận quyền độc quyền về kinh doanh và phân
phối thương hiệu. Đối tác này có thể là một cá nhân hay một công ty, và phạm vi khu

 Nhượng quyền sáp nhập (Affiliation/ Conversion franchise)
Không giống như hầu hết các hợp đồng khác, nhượng quyền sáp nhập không cung
cấp rộng rãi cho cộng đồng chung mà chỉ cho một nhóm người đã có sẵn cơ sở kinh
doanh và là những chuyên gia có kinh nghiệm trong lĩnh vực kinh doanh đó. Ngược lại,
họ phải chấp nhận từ bỏ hoạt động kinh doanh độc lập của mình để tham gia vào hệ
thống nhượng quyền. Để đạt tới các lợi ích của mô hình này, các cơ sở kinh doanh độc
lập phải thay đổi nhãn hiệu kinh doanh của mình, chấp nhận những thủ tục và hướng dẫn
của hệ thống nhượng quyền, và trả phí cho bên nhượng quyền.
3. Lợi ích và rủi ro của nhượng quyền thương mại
16
Nhượng quyền phương thức kinh doanh là hình thức hiện đại và phổ biến nhất hiện
nay của nhượng quyền thương mại. Do vậy, khi đánh giá được các yếu tố lợi ích và rủi
ro của nhượng quyền thương mại nói chung, chúng ta cũng đồng thời phân tích được
những lợi ích và rủi ro có thể có trong hình thức nhượng quyền phương thức kinh doanh.
3.1. Lợi ích của nhượng quyền thương mại
3.1.1. Đối với bên nhượng quyền
- Nhân rộng mô hình kinh doanh: Nhượng quyền thương mại là phương thức giúp
cho chủ thương hiệu có thể mở rộng mô hình kinh doanh mà vẫn đảm bảo được tính
đồng bộ của hệ thống (nhờ những quy định và yêu cầu đối với bên nhận quyền trong
hợp đồng). Bên cạnh đó, chủ thương hiệu cũng không cần đầu tư nhiều về vốn, công
sức tìm hiểu thị trường và hoàn thành các thủ tục pháp lý cần thiết so với việc tự mở
một cơ sở kinh doanh mới bởi những vấn đề này sẽ được chia sẻ với bên nhận quyền.
Điều này rất có ý nghĩa khi doanh nghiệp muốn mở rộng kinh doanh ra thị trường
nước ngoài hay những thị trường không tiềm năng với GDP trên đầu người chưa cao
và có nhiều khác biệt về văn hóa, con người. Hơn thế nữa, bên nhượng cũng không
cần quản lý hoạt động kinh doanh thường nhật do bên nhận quyền sẽ phải có trách
nhiệm quản lý điều hành công việc kinh doanh sao cho có hiệu quả và đảm bảo các
quy định trong hợp đồng. Như vậy, bằng cách sử dụng vốn và các nguồn lực có sẵn
của bên nhận quyền, doanh nghiệp nhượng quyền có thể phát triển mô hình của mình
tới những khu vực mới, vượt ra ngoài biên giới lãnh thổ, đồng thời vẫn giữ được

nhận quyền bỏ ra, việc quyết tâm quản lý kinh doanh của bên nhận quyền. Bên nhượng
quyền thu được phí nhượng quyền và một khoản tiền mặt liên tục thông qua tiêu thụ sản
phẩm và các khoản phí định kỳ mà không phải cung cấp thêm vốn hoặc trực tiếp quản lý
bên nhận quyền. Nhượng quyền thương mại đã thể hiện một chiến lược có hệ thống và
18
tiết kiệm chi phí để phát triển nhanh chóng hệ thống tiếp thị với sự tham gia trực tiếp và
đầu tư tài chính tối thiểu.
3.1.2. Đối với bên nhận quyền
- Khởi động kinh doanh nhanh, cạnh tranh giảm thiểu: Nhượng quyền thương
mại đem lại cơ hội thiết lập một cơ sở kinh doanh nhanh chóng nhờ dựa trên thương
hiệu và phương thức kinh doanh đã được xây dựng và áp dụng thành công. Rõ ràng
đây là một lợi ích vượt trội so với việc thiết lập một cơ sở kinh doanh mới với một
nhãn hiệu chưa ai biết tới (chắc chắn sẽ phải chịu sự cạnh tranh gay gắt với những
thương hiệu đã được xây dựng như của bên nhượng quyền chẳng hạn). Một mô hình
nhượng quyền thành công sẽ là một cơ sở kinh doanh chìa khóa trao tay cho bên
nhận quyền: từ việc chọn vị trí đến thỏa thuận thuê địa điểm, đào tạo nhân viên, nhận
những hỗ trợ liên tục từ bên nhượng quyền cũng như các yêu cầu pháp lý và giải
quyết khó khăn.
- Đầu tư an toàn, xác suất thành công cao: Xác suất thành công của các doanh
nghiệp nhượng quyền cao hơn rất nhiều so với các doanh nghiệp mới thử nghiệm mô
hình kinh doanh lần đầu, do các doanh nghiệp nhận quyền được kinh doanh dưới
thương hiệu, uy tín sẵn có, đồng thời sử dụng công thức, mô hình kinh doanh đã
được chứng minh thành công của bên nhượng quyền. Thực tế đã chứng minh là
thương hiệu và danh tiếng của sản phẩm đóng vai trò vô cùng quan trọng đối với
khách hàng khi họ quyết định chọn mua sản phẩm nào. Và theo các con số thống kê
tại Mỹ thì trung bình chỉ có 23% doanh nghiệp nhỏ kinh doanh độc lập có thể tồn tại
sau năm năm kinh doanh, so với 92% của các doanh nghiệp nhượng quyền.
1
- Nhận được sự hỗ trợ nhiều mặt từ bên nhượng quyền: Bên nhận quyền luôn
nhận được sự giúp đỡ của bên nhượng quyền , đây là một lợi thế rất lớn, đặc biệt với

lớn hơn, sự tin tưởng và sự thuận tiện đối với việc mua hàng hóa, dịch vụ. Chất lượng
hàng hóa cũng như giá cả của cùng một loại hàng hóa dịch vụ được đồng nhất, tiện lợi
làm giảm rủi ro cho người tiêu dùng khi mua hàng.
1
Mạnh Dương (2009). Tại sao nên nhượng quyền thương mại. Báo Nhịp cầu đầu tư số 113 (29-04 tháng 1 năm
2009)
20
3.2. Rủi ro của nhượng quyền thương mại
Bên cạnh những lợi ích, nhượng quyền thương mại cũng có những rủi ro cho cả hai
bên tham gia hợp đồng, cụ thể như sau:
- Mô hình kinh doanh của bên nhượng quyền không phải lúc nào cũng thành
công: Sự thành công của chủ thương hiệu đạt được trong những điều kiện nhất định
về thời điểm, không gian cụ thể,… Không có sự bảo đảm chắc chắn rằng mô hình
kinh doanh của họ sẽ luôn thành công ở bất cứ nơi đâu, vào bất cứ thời điểm nào.
Những tiêu chuẩn mà bên nhượng quyền đưa ra đối với bên nhận quyền chủ yếu dựa
trên những kinh nghiệm trong việc điều hành kinh doanh của bản thân khi hoạt động
tại những địa điểm, những thị trường nhất định. Có thể những kinh nghiệm này cũng
đúng với địa phương hay thị trường hoạt động của bên nhận quyền mà cũng có thể
không. Thông thường, bên nhượng quyền sẽ tiến hành điều tra khu vực và thị trường
của bên nhận quyền để điều chỉnh cho mô hình kinh doanh trở nên phù hợp hơn, và
có thể chấp nhận một vài sự thay đổi trong cách thức điều hành. Nhưng về cơ bản là
không khác nhiều so với mô hình của bên nhượng quyền và không phải lúc nào việc
điều chỉnh cũng thành công. Trong trường hợp này, lời cảnh báo của ngành công
nghiệp chứng khoán là không bao giờ thừa: “Sự thành công trong quá khứ không thể
đảm bảo chắc chắn cho lợi nhuận trong tương lai”.
- Phụ thuộc vào toàn bộ hệ thống: Tham gia vào một hệ thống nhượng quyền giống
như tham gia vào một môn thể thao đồng đội, không phải tất cả các doanh nghiệp
nhận quyền đều có sức mạnh ngang nhau cũng như các đối thủ mà từng doanh
nghiệp nhận quyền phải cạnh tranh cũng giống nhau, do đó dẫn đến các kết quả hoạt
động không đồng nhất. Tuy vậy, hoạt động của một doanh nghiệp trong chuỗi

sở hữu của cơ sở nhượng quyền.
Ngoài những rủi ro nêu trên, phương thức nhượng quyền kinh doanh còn tiềm ẩn một
số rủi ro khác. Chẳng hạn, đây là mô hình dễ nảy sinh tranh chấp, nhất là những tranh
22
chấp về doanh thu. Bên nhượng quyền có thể kiểm soát được từng khoản doanh thu cụ
thể của bên nhận quyền để tính phí, và quyền quản lý lại hoàn toàn thuộc về bên nhận
quyền. Mặt khác, nếu đối tác nhận quyền quá mạnh thì sẽ tiềm ẩn một nguy cơ rất lớn là
sẽ thao túng và thay thế luôn quyền kiểm soát của bên nhượng quyền. Một vấn đề nữa
đặt ra là thời hạn một hợp đồng nhượng quyền thường dài (từ 5 đến 20 năm), trong đó
các quyền lợi và nghĩa vụ đã được cam kết ngay từ khi kí kết hợp đồng và nó không dễ
thay đổi. Đôi khi những bản hợp đồng này không thể tính đến những điểm thay đổi căn
bản có thể xảy ra trong kinh doanh. Chẳng hạn, trước năm 1999, không một hợp đồng
nhượng quyền nào có đề cập đến vấn đề Internet sẽ gây ra bất kì một sự thay đổi nào
trong cách điều hành công việc kinh doanh của hệ thống nhượng quyền. Và không một
bản hợp đồng nhượng quyền nào trong lĩnh vực nhà nghỉ khách sạn đề cập đến việc tất
cả các phòng trong nhà nghỉ, khách sạn phải được trang bị hệ thống dây cáp phục vụ
khách hàng sử dụng Internet. Tuy nhiên, với sự bùng nổ của mạng Internet, nhu cầu về
nó ngày càng tăng khiến các điều khoản cũng phải sửa đổi để phù hợp với yêu cầu mới.
Ngày nay, các hợp đồng nhượng quyền đều yêu cầu bên nhận quyền phải tham gia và
đóng góp vào hoạt động thương mại điện tử.
Cần lưu ý rằng, tất cả những lợi ích và rủi ro ở trên là được xem xét một cách tổng
thể. Mỗi dạng hợp đồng nhượng quyền kinh doanh phần 2.4 mang đến những lợi ích và
rủi ro riêng. Không một mô hình nào có được tất cả các lợi ích và cũng chẳng có mô
hình nào là chứa đựng tất cả các rủi ro. Điều quan trọng là bên muốn nhận quyền cần
phải nhận thức những lợi ích có thể có được và những rủi ro có thể gặp phải, từ đó so
sánh, đánh giá mô hình nhượng quyền mà mình đang có ý định đầu tư vào để rút ra chọn
lựa cho mình. Cần phải nghiên cứu kĩ bản hợp đồng và những điều khoản được đưa ra
bởi người nhượng quyền, thảo luận với người nhượng quyền về các vấn đề mình quan
tâm, và nếu thấy có lợi thì mới tiến hành ký hợp đồng. Nhìn chung, các vấn đề doanh
nghiệp nhận quyền cần quan tâm khi tiến hành xem xét đó là: phí ban đầu, vốn đầu tư

đồng cấp phép đặc quyền kinh doanh - tiếng Anh gọi là franchise) sẽ do Bộ Khoa học,
Công nghệ và Môi trường phê duyệt.
Theo Thông tư 30/2005/TT-BKCN của Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường thì
“cấp phép đặc quyền kinh doanh còn gọi là Nhượng quyền thương mại trong Luật
Thương mại (franchise).” Và trong nghị định số 11/2005/NĐ-CP, khái niệm “cấp phép
đặc quyền kinh doanh” được đề cập như sau: “..cấp phép đặc quyền kinh doanh, theo đó
Bên nhận sử dụng tên thương mại, nhãn hiệu hàng hóa và bí quyết của Bên chuyển giao
25

Trích đoạn Khuôn khổ pháp lý quản lý hoạt động nhượng quyền thương mạ Hoạt động nhượng quyền phương thức kinh doanh tại Việt Nam Trần Ngọc Sơn Nhượng quyền kinh doan hở Việt Nam Văn phòng luật sư Phạm và Liên danh (Pham and Associates), Hà Nộ www.kfcvietnam.com.vn 2 www.lotteria.vn. Cuộc đổ bộ của thương hiệu nước ngoài vào Việt Nam www.vietbao.vn.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status