TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
Đề tài 2: Phân tích môi trường của Nam Phi.
Trên cơ sở đó đề xuất phương thức kinh
doanh quốc tế cho một sản phẩm cụ thể của
Việt Nam.
LỜI MỞ ĐẦU
Ngày nay, trên thế giới, không một quốc gia nào có thể tồn tại và phát triển mà không có sự quan
hệ, giao lưu với phần còn lại của thế giới. Đó là một xu thế tất yếu của thời đại mới-xu thế toàn cầu hóa.
Xu thế mới này đã tạo ra rất nhiều thuận lợi cho các quốc gia, cũng như các công ty đa quốc gia.
Tuy nhiên, bên cạnh đó, nó cũng tạo ra vô vàn những khó khăn, thách thức; nếu như chúng ta không hiểu
rõ, không nắm bắt kịp thời cơ hội. Chính vì thế, nghiên cứu các hoạt động kinh doanh quốc tế là một bước
rất quan trọng, giúp chúng ta có thể hiểu rõ môi trường kinh doanh quốc tế, vạch ra những chính sách,
chiến lược đúng đắn, phù hợp với đặc điểm, tình hình của mỗi quốc gia, mỗi công ty. Từ đó, có thể phát
huy mạnh mẽ tiềm lực, thế mạnh của mình, cũng như né tranh được những thách thức.
Nam Phi, với địa thế thuận lợi-là cửa ngõ chiến lược của lục địa đen, là quốc gia phát triển hàng
đầu châu Phi, bạn hàng lớn của Việt Nam và là một quốc gia được nhiều doanh nghiệp lựa chọn để phát
triển kinh doanh quốc tế. Từ trước đến nay, khách hàng quen thuộc của các mặt hàng xuất khẩu Việt Nam
vẫn là các quốc gia thuộc hệ thống Xã hội chủ nghĩa, hay những bạn hàng truyền thống như Mỹ, châu
Âu… Khi quan hệ hợp tác với những quốc gia trên chúng ta có các lợi thế: hiểu được môi trường kinh
doanh, có những đối tác quen thuộc, được khách hàng biết tới và có những ưu đãi nhất định về thuế
quan… Trong bối cảnh cạnh tranh gay gắt như hiện nay, tìm kiếm một thị trường mới có tiềm năng phát
triển đang là xu hướng tất yếu, mà châu Phi là một trong những châu lục điển hình. Từ năm 1996, Việt
Nam thực hiện quan hệ buôn bán 2 chiều với nhiều quốc gia châu Phi. Đặc biệt từ năm 2000 đến nay, thị
trường xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam sang châu Phi chủ yếu từ 2 hướng: Thứ nhất, từ Bắc Phi qua thị
trường Ai Cập, Libi; Thứ hai, từ Cộng hòa Nam Phi để thâm nhập các quốc gia Nam Phi và Trung Phi.
Là cửa ngõ của châu Phi, phát triển kinh doanh quốc tế tại Nam Phi,có thể nói chúng ta đã một
mặt thâm nhập được vào toàn thị trường này. Mặt khác, với một thị trường hơn 40 triệu dân không quá
khắt khe, đồng thời là một thành viên của WTO, một nền kinh tế ổn định và phát triển nhất châu Phi,
Nam Phi thể hiện là một thị trường hấp dẫn phù hợp với xuất khẩu Việt Nam.
Dưới đây là những phân tích về thị trường này.
tăng tới 30% kể từ năm 1994 tới nay. Ngược lại, khoảng 45% số người da đen ở tốp dưới có thu nhập
giảm xấp xỉ 10%. [4]
4
Trình độ dân cư khá cao so với các nước trong khu vực, tuy nhiên sự phân hóa giàu nghèo giữa
các thành phần dân cư cũng đang là vấn đề bức xúc.
Môi trường kinh tế:
Một góc Johannesburg, thành phố lớn nhất của Cộng hòa
Nam Phi
1.Các chỉ số kinh tế thương mại, đầu tư cơ bản
GDP (2004): 162,1 tỉ USD
GDP (PPP)/người (2004): 11.100 USD
5
Tỉ lệ lạm phát (2004): 4,5%
Tỷ lệ thất nghiệp (2004): 26,2%
Thu chi ngân sách 2004:
- Thu ngân sách: 47,43 tỷ USD
- Chi ngân sách: 42,54 tỷ USD
Nợ nước ngoài (2004): 27,42 tỷ USD
Năm tài chính : 1/4-31/3
Tỷ giá hối đoái (2004): rand/US dollar = 6.4597
Mức tăng trưởng sản xuất công nghiệp (2004): 5,5%
Sản xuất và tiêu thụ điện năng (2002):
- Sản xuất: 202,6 tỷ kWh
- Tiêu thụ: 189,4 tỷ kWh
Các sản phẩm nông nghiệp chủ đạo: ngô, lúa mì, mía đường, hoa quả, các loại rau, cừu, thịt cừu, lông
cừu, gia cầm, các sản phẩm sữa
6
2. Kinh tế
Kinh tế Nam Phí chịu ảnh hưởng nhiều của kinh tế Mỹ, nhất là sau sự kiện 11/9. Bên cạnh đó, khủng
hoảng tài chính ở Achentina và diễn biến phức tạp của nền kinh tế, chính trị Zinbabwe cũng có tác
trung tâm tài chính và công nghiệp của Nam Phi tập trung chủ yếu tại tỉnh Gauteng. Tỉnh này đóng
góp 37% cho tổng GDP của cả nước
Theo đánh giá của IMF, nếu GDP của Nam Phi tăng 1% sẽ góp phần tạo nên mức tăng trưởng từ 0,4
đến 0,75% GDP của toàn châu Phi do đóng góp của Nam Phi trong các lĩnh vực đầu tư, chuyển giao
công nghệ và đào tạo nghề.
Một số chỉ số kinh tế, thương mại cơ bản của Nam Phi (1999-2004)
Năm 1999 2000 2001 2002 2003 2004
GDP(tỷ USD) 130,9 127,8 114 104,5 156,9 162,1
Mức tăng trưởng GDP
(%/năm
2 3,5 2,8 3 1,9 3,7
Dân số (triệu người) 43 43,7 44,3 45 45,7 45,8
Xuất khẩu (FOB, triệu USD) 28.62
6
31.63
6
30.71
7
31.08
5
36.773,
4
45.929,6
Nhập khẩu (FOB, triệu USD) 24.55
4
27.32
0
25.85
5
26.71
Từ những nhận định trên ta có thể thấy được những điểm sáng của nền kinh tế Nam Phi
- Sở hữu cơ sở dịch vụ tài chính, ngân hàng tiên tiến,
- Dẫn đầu thế giới trong lĩnh vực khai thác mỏ;
- Nền công nghiệp sản xuất khá đa dạng;
- Thị trưởng viễn thông bùng nổ;
- Mạng lưới giao thông hiện đại;
- Công nghiệp năng lượng phát triển.
- Công nghiệp hóa chất rất năng động
- Ngành du lịch tiềm năng.
Một số thách thức đối với sự phát triển kinh tế Nam Phi trong giai đoạn sắp tới
- Sự thiếu hụt lao động có tay nghề.
- Tỷ lệ tiết kiệm rất thấp so với thế giới
- Khoảng cách giầu nghèo còn quá lớn, đặc biệt là giữa người da đen và người da trắng.
- Nạn thất nghiệp trên 30%.
- Nạn dịch AIDS/HIV gây tác động lớn tới lực lượng lao động.
9
- Năng suất lao động Nam Phi còn thấp, đặc biệt trong lĩnh vực nông nghiệp, cộng thêm việc
Chính phủ chuyển trọng tâm vào việc tạo công ăn việc làm lên trên lợi nhuận và chính sách Trợ
quyền cho người da đen (BEE) được coi là những rủi ro trong kinh doanh.
Môi trường chính trị và luật pháp:
Thủ đô: Pretoria.
Các thành phố chính: Cape Town (Trung tâm lập pháp) và Bloemfontein (Trung tâm hành pháp).
Cơ cầu chính quyền: Theo chế độ dân chủ cộng hòa.
Đứng đầu nhà nước: Tổng thống Thabo MBEKI (kể từ 16/6/1999); phó tổng thống, Jacob ZUMA (từ
17/6/1999); Tổng thống vừa là người đứng đầu nhà nước vừa là người đứng đầu chính phủ.
Nội các: Nội các được bổ nhiệm bởi Tổng thống.
Các đảng phái chính trị chính:
• Đảng Dân chủ Thiên chúa giáo Phi (ACDP) [ Chủ tịch: Kenneth MESHOE];
• Đảng Đại hội Dân tộc Phi (ANC) [ Chủ tịch: Thabo MBEKI];
• Đảng Liên minh Dân chủ (DA) [ Chủ tịch: Anthony LEON];
Từ chính luật thứ hai vào năm 2000, (Luật 39 trong năm 2000) quy định về vấn đề tranh chấp, chịu
trách nhiệm trực tiếp đối với các thiếu sót trong việc thực hiện ở năm đầu tiên của Đạo luật quy định
việc tranh chấp năm 1998.
Từ chính luật thứ hai vào năm 2000, (Luật 39 trong năm 2000) gây ra một loạt những thay đổi, trong
đó sự thay đổi lớn nhất là việc xoá bỏ phần 3 (1) (d), cũng như việc bổ sung một số các điều khoản
quy định rằng chỉ có Bộ trưởng mới được phép thay đổi ngưỡng quản lý sự liên doanh liên kết cùng
sự lạm dụng ưu thế mỗi giai đoạn 5 năm.
Phần 3 (1) (d) được điều chỉnh nhằm phục vụ cho quyền xét xử xảy ra đồng thời đối với các vấn đề
tranh chấp giữa quyền được cạnh tranh và những điều chỉnh trong ngành. Thêm vào đó, Bộ trưởng
chính phủ bây giờ sẽ có quyền thay đổi ngưỡng quản lý sự liên doanh liên kết cùng việc lạm dụng ưu
thế bất kỳ lúc nào chúng phát sinh.
Bên cạnh đạo luật này, các luật lệ mới cho các tiến trình trong ủy Ban giải quyết tranh chấp và Tòa án
giải quyết tranh chấp, cho những ngưỡng mới của việc liên doanh liên kết và các thành tựu đạt được,
cũng như cho các hình thái mới, sẽ trở nên có hiệu lực.
11
Với danh nghĩa là các quy tắc mới, ngưỡng thấp hơn của việc liên doanh liên kết đã tăng từ 50 triệu
rand đối với doanh số hàng năm trên giá trị tài sản lên 200 triệu, và tỉ lệ giá trị phân xưởng của ngành
cơ bản /giá trị tài sản cho tới thời điểm này tăng từ 5 triệu rand lên 30 triệu rand.
Thêm vào đó, chi phí cho việc khai báo thành lập liên doanh đã được đơn giản hóa và giảm thiểu
đáng kể. Mức phí đơn cho các liên doanh mới thành lập là 75 000 rand vừa được đưa ra. Trước khi có
đạo luật bổ sung này thì mức phí trên đựơc bố trí từ 5 000 rand đến 250 000 rand. Phí cho việc thành
lập các liên doanh quy mô được chia đôi, từ 500 000 rand xuống còn 250 000 rand.
Các vấn đề luật pháp liên quan tới hàng hoá xuất nhập khẩu
- Bảo vệ bản quyền
Các quyền sở hữu, trong đó bao gồm cả quyền sở hữu trí tuệ được bảo vệ bằng nhiều nguồn luật và
quy định khác nhau. Nam Phi có một hệ thống tư pháp độc lập theo đó tất cả sự vi phạm quyền sở
hữu trí tuệ đều có thể xảy ra không dính líu đến chính trị.
Có thể đăng ký bằng sáng chế theo Đạo luật bằng sáng chế 1978 và có hiệu lực trong vòng 20 năm.
Nhãn hiệu thương mại có thể đăng ký theo Đạo luật nhãn hiệu thương mại 1993, có thời hạn 10 năm
và có thể xin gia hạn thêm 10 năm. Các kiểu mẫu thương mại mới có thể đăng ký theo Đạo luật về
Nam Phi quy định. Bộ thương mại và công nghiệp cũng có quyền quy định, cấm hoặc hạn chế hàng
hoá nhập khẩu vào Nam Phi vì lợi ích quốc gia nhưng hầu hết hàng hoá nhập vào Nam Phi không
phải chịu hạn ngạch. Giấy phép nhập khẩu chỉ cần thiết đối với một số danh mục hàng hoá đặc biệt và
do Ban xuất nhập khẩu cấp. Nhà nhập khẩu phải có giấy phép nhập khẩu trước khi nhận hàng. Nếu
không có giấy phép nhập khẩu có thể sẽ bị phạt
- Kiểm soát xuất khẩu
Nhiều hàng hoá phải tuân theo các quy định kiểm soát xuất khẩu và cấp giấy phép, như các mặt hàng
thuộc lĩnh vực quân sự, tài nguyên đang cạn kiệt, rác thải kim loại và phế liệu. Kim cương dành cho
xuất khẩu phải đăng ký với Ban kim cương SA. Các mặt hàng dầu khí không có sự kiểm soát giá cả
được sản xuất ở các nhà máy chất đốt được phép xuất khẩu. Đà điểu sống và trứng đã được thụ tinh
của chúng bị cấm xuất khẩu.
Việc trao đổi và giao thương buôn bán giữa các nước trong khu vực và các khối kinh tế gặp
nhiều thuận lợi.
Giấy phép nhập khẩu
Luật Kiểm soát nhập khẩu và xuất khẩu của Nam Phi năm 1963 cho phép Bộ Thương mại và Công
nghiệp nghiêm cấm, hạn chế cũng như kiểm soát hàng nhập khẩu vì lý do an ninh, môi trường và sức
khoẻ và đảm bảo quy định kỹ thuật về chất lượng tối thiểu. Trong một vài năm gần đây, danh mục
các mặt hàng bị hạn chế nhập khẩu cần phải có giấy phép nhập khẩu đã giảm đi đáng kể, điều này
chứng tỏ chính sách của Bộ Thương mại và Công nghiệp (DTI) không bảo vệ các ngành công nghiệp
trong nước bằng các rào cản phi thuế quan.
Những mặt hàng cần phải có giấy phép nhập khẩu là cá và các sản phẩm từ cá, hàng đã qua sử dụng,
phế liệu, chất thải, tro hoả táng, chất cặn bã, dầu mỏ, hoá chất huỷ hoại tầng ôzôn, vũ khí và đạn
dược, thiết bị dùng cho đánh bạc và các nguyên tố hoá học phóng xạ. DTI đang dần huỷ bỏ Giấy phép
nhập khẩu thay vào đó là đánh thuế. DTI đang phát triển một hệ thống cung cấp giấy phép tự động và
kết nối DTI với hải quan và với những người muốn xin giấy phép nhập khẩu để làm đơn giản hoá quá
trình thông quan và khai báo hải quan. Giấy phép nhập khẩu phải được cấp từ ban lãnh đạo về xuất
khẩu và nhập khẩu trước ngày gửi hàng.
Cho thấy chính sách của chính phủ trong việc làm đơn giản hóa các thủ tục nhập khẩu bằng
thuế quan, thuận lợi cho các nhà xuất khâu của nước ngoài.
Yêu cầu về nhập khẩu ôtô và các phương tiện có động cơ