Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM
ĐỖ THỊ THU HƢƠNG
XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG BÀI TẬP THỰC HÀNH
MÔN GIÁO DỤC HỌC Ở TRƢỜNG CAO ĐẲNG
SƢ PHẠM QUẢNG NINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
THÁI NGUYÊN, NĂM 2011
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
i
MỤC LỤC
Trang
Trang bìa phụ
Lời cảm ơn
Mục lục 0
Danh mục các chữ viết tắt iv
Danh mục các biểu bảng v
Danh mục các sơ đồ vi
MỞ ĐẦU 1
1. Lý do chọn đề tài 1
2. Mục đích nghiên cứu 2
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu 1
4. Giả thuyết khoa học 3
5. Nhiệm vụ nghiên cứu 3
6. Phạm vi nghiên cứu 3
7. Các phương pháp nghiên cứu 4
Chƣơng 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG BÀI
TẬP THỰC HÀNH MÔN GIÁO DỤC HỌC Ở TRƢỜNG CAO
ĐẲNG SƢ PHẠM 5
1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề 5
1.2 Một số khái niệm công cụ 8
1.2.1 Bài tập thực hành 8
1.2.2 Bài tập thực hành Giáo dục học
1.2.3 Dạy học 14
cho SV trường CĐSP Quảng Ninh. 37
2.3.1 Thực trạng xây dựng BTTH môn GDH cho SV trường CĐSP
Quảng Ninh. 37
2.3.2 Thực trạng sử dụng Bài tập thực hành môn Giáo dục học cho
SV trường Cao đẳng sư phạm Quảng Ninh 42 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
iii
Chƣơng 3. XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG BÀI TẬP THỰC HÀNH
MÔN GIÁO DỤC HỌC Ở TRƢỜNG CAO ĐẲNG SƢ PHẠM
QUẢNG NINH 52
3.1. Quy trình xây dựng bài tập thực hành môn Giáo dục học 52
3.1.1. Nguyên tắc xây dựng Bài tập thực hành Giáo dục học 52
3.1.2. Quy trình xây dựng Bài tập thực hành Giáo dục học 56
3.2. Các yêu cầu khi sử dụng bài tập thực hành giáo dục học 62
3.2.1. Yêu cầu đối với giảng viên 63
3.2.2. Yêu cầu đối với sinh viên 63
3.2.3. Các yêu cầu khác 64
3.3. Ý kiến đánh giá về quy trình xây dựng bài tập và hệ thống bài
tập thực hành. 66
3.3.1. Ý kiến đánh giá về quy trình xây dựng bài tập. 66
3.3.2. Ý kiến đánh giá về hệ thống bài tập đã xây dựng. 66
3.4. Thực nghiệm sư phạm 67
3.4.1. Khái quát thực nghiệm. 67
3.4.2. Khảo sát đầu vào và phân tích kết quả ở hai nhóm thực
nghiệm và đối chứng 67
3.4.3. Kiểm tra, đánh giá thực nghiệm 71
3.4.5. Xử lý kết quả thực nghiệm 72
SV
Sinh viên
7.
CĐSP
Cao đẳng sư phạm
8.
THCS
Trung học cơ sở
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
v
DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 1: Nhận thức của SV về tác dụng của việc sử dụng BTTH trong
quá trình học môn GDH 32
Bảng 2: Nhận thức của GV về tác dụng của BTTH môn GDH đối với SV 35
Bảng 3: Những căn cứ xây dựng Bài tập thực hành GDH cho SV 37
Bảng 4: Thực trạng tổ chức xây dựng BTTHGDH 40
Bảng 5: Thực trạng sử dụng các hình thức dạy học có sử dụng
BTTHGDH của GV 45
Bảng 6: Nguyên nhân việc học BTTH môn GDH chưa đạt hiệu quả,
chất lượng 48
Bảng 7: Đánh giá của GV về quy trình xây dựng bài tập 66
Bảng 8: Bảng phân phối tần số điểm kiểm tra trước thực nghiệm 68
Bảng 9: Bảng phân phối tỉ lệ phần trăm kiểm tra đầu vào theo mức độ
đánh giá 68
Bảng 10: Bảng phân phối các tham số có đặc trưng về kết quả kiểm tra
Trong thời đại ngày nay, các quốc gia trên thế giới đều nhận rõ tầm
quan trọng của giáo dục đối với sự phát triển con người – nguồn nhân lực của
xã hội – động lực của mọi sự phát triển. Con người với trí tuệ của mình đã trở
thành động lực phát triển kinh tế xã hội, là yếu tố làm gia tăng của cải xã hội,
sự giàu sang và thịnh vượng của mỗi con người nói riêng và của toàn xã hội
nói chung.
Trong giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và
hội nhập quốc tế, nguồn lực con người Việt Nam càng trở nên có ý nghĩa
quan trọng, quyết định sự thành công của công cuộc phát triển đất nước. Vì
vậy, để “ theo kịp’’ sự phát triển của thế giới chúng ta không chỉ “ chạy theo”
mà phải đón đầu công nghệ, làm chủ thông tin tri thức đang hàng ngày hàng
giờ biến đổi theo “cấp số nhân”. Và, trong cuộc chạy đua này thì khoa học và
giáo dục là nguồn xuất phát và phát triển nhân lực tri thức, là nguồn đào tạo
và bồi dưỡng nhân tài cho đất nước. Mục tiêu của giáo dục hiện nay là nhằm
hình thành nhân cách toàn diện cho người học, nhằm tạo ra lực lượng lao
động đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của xã hội. Vì thế, chất lượng giáo dục
là vấn đề không chỉ nước ta mà cả thế giới luôn luôn quan tâm và đầu tư.
Giáo dục là một quá trình kết hợp vai trò chủ đạo của giáo viên với sự
tích cực rèn luyện của học sinh nhằm hình thành ý thức, tình cảm, hành vi và
thói quen đạo đức phù hợp với các chuẩn mực xã hội đã quy định. Điều 24
Luật Giáo dục 2005 đã chỉ rõ: "Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát
huy tính tích cực, chủ động và sáng tạo của học sinh phù hợp với đặc điểm
trường, lớp, môn học. Bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kĩ năng vận Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
2
dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng
thú học tập cho học sinh". Điều này đòi hỏi rất nhiều đến nỗ lực, bản lĩnh và
Nghiên cứu bài tập thực hành môn Giáo dục học.
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Quy trình xây dựng và sử dụng bài tập thực hành trong dạy học môn
Giáo dục học cho sinh viên trường Cao Đẳng sư phạm.
4. Giả thuyết khoa học
Bài tập thực hành đóng vai trò quan trọng trong dạy học môn Giáo dục
học. Việc xây dựng và sử dụng bài tập thực hành môn Giáo dục học cho sinh
viên trường CĐSP Quảng Ninh hiện nay vẫn chưa thực sự đạt hiệu quả cao.
Nếu xây dựng được bài tập thực hành môn Giáo dục học cho sinh viên phù
hợp với điều kiện thực tế của nhà trường, đặc điểm của sinh viên theo một
quy trình hợp lý thì sẽ góp phần nâng cao hiệu quả của quá trình giảng dạy
học tập môn Giáo dục học cho sinh viên trường CĐSP Quảng Ninh.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Cơ sở lý luận về xây dựng và sử dụng bài tập thực hành môn GDH
ở trường CĐSP.
5.2 Thực trạng xây dựng và sử dụng bài tập thực hành môn GDH ở
trường CĐSP Quảng Ninh.
5.3 Xác định được qui trình xây dựng và các yêu cầu sử dụng bài tập
thực hành môn GDH nhằm nâng cao chất lượng việc dạy học môn GDH ở
trường CĐSP Quảng Ninh.
6. Phạm vi nghiên cứu
Trong khuôn khổ đề tài này chúng tôi xây dựng bài tập thực hành
môn GDH – học phần : Lý luận giáo dục để giảng dạy tại trường CĐSP
Quảng Ninh. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
4
7. Các phƣơng pháp nghiên cứu
toàn diện vè lĩnh vực tự nhiên và xã hội. Những kiến thức, hiểu biết, kinh
nghiệm của người học là quá trình lưu trữ trong trí nhớ trên cơ sở hiểu những
sự kiện cơ bản của khoa học, những quy tắc, quy luật xuất xứ từ những sự
kiện ấy. Trên thực tế, người học sẽ dễ quên và không nắm vững kiến thức nếu
như chỉ lĩnh hội ở dạng lý thuyết suông, học thuộc lòng, học máy móc mà
“lý luận phải gắn với thực tiễn, học phải đi đôi với hành” đúng như Hồ Chí
Minh nhấn mạnh:“ Phương châm, phương pháp học tập lý luận liên hệ với
thực tiễn là một nguyên tắc cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lê nin.“ Thực tiễn Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
6
không có lý luận hướng dẫn thì thành thực tiễn mù quáng, lý luận không gắn
với thực tiễn là lý luận suông; lý luận cốt để áp dụng vào thực tế; lý luận cũng
như cái đích để bắn, có tên mà không bắn hoặc bắn lung tung thì cũng như
không có tên ; học là để áp dụng vào việc làm, làm mà không có lý luận thì
không khác gì đi mò trong đêm tối, vừa chậm chạp vừa vấp váp; học với hành
phải đi đôi với nhau” [14]. Do đó trong quá trình dạy học, người học cần phải
thông qua thực hiện giải các bai tập, vận dụng linh hoạt các dạng bài tập khác
nhau thì người học mới nắm chắc được tri thức, hoàn thành nhiệm vụ học tập.
- Ở nước ta trong những năm gần đây, đã có nhiều công trình nghiên
cứu về vấn đề dạy học tư duy bằng nhiều con đường khác nhau trong đó có
con đường truyền thụ cho học sinh những tri thức cần thiết rồi sau đó đề ra
cho họ những bài toán vận dụng những tri thức đó. Các tác giả như Tôn Thất
Thân (1995), Trần Đình Châu (1996), Vũ Đức Lưu (2002), Nguyễn Xuân
Trường (2005) cùng nhiều tác giả khác đi vào xây dựng hệ thống câu hỏi và
bài tập, coi đó là phương tiện để bồi dưỡng năng lực, tư duy sáng tạo cho học
sinh trong học tập Toán học, Hóa học, Sinh học. Ngoài ra còn có nhiều công
trình nghiên cứu về xây dựng và sử dụng bài tập trong quá trình dạy học các
nâng cao chất lượng hiệu quả dạy học. Như tác giả Okon V cho rằng tổ chức
kiểu dạy học nêu vấn đề bằng các câu hỏi và bài tập làm cho người học có
khả năng độc lập giải quyết, diễn đạt ý kiến của bản thân, phê phán các giả
thuyết không thích hợp, kiểm tra các bài giải, ứng dụng chúng [17].
Vấn đề xây dựng và sử dụng bài tập thực hành trong dạy học đã được
các tác giả nghiên cứu dưới dạng khái quát và rộng cho tất các môn học nói
chung và trên cơ sở lý luận chung một số tác giả đã đi sâu nghiên cứu vấn đề
bài tập trong các môn học cụ thể. Trong công trình nghiên cứu của mình, các
tác giả đã chứng minh ý nghĩa, tác dụng của việc vận dụng bài tập, bài toán
trong dạy học các môn học cụ thể như Toán, Vật Lý, Hóa học [18]. Hệ
thống bài tập, bài toán là phương tiện mang lại hiệu quả và không thế được
trong dạy học bộ môn, đồng thời việc tổ chức cho học sinh giải bài tập được
xem là một phương pháp dạy học tích cực. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
8
Vấn đề xây dựng và sử dụng bài tập chủ yếu được quan tâm nhiều trong
nghiên cứu các môn học ở phổ thông và trong một số môn khoa học nghiệp
vụ ở trường sư phạm. Nhiều công trình nghiên cứu đã tập trung vào xây dựng
và sử dụng hệ thống bài tập thực hành nhằm rèn luyện kỹ năng sư phạm cho
sinh viên trường sư phạm [1], [3]. Các tác giả thống nhất quan điểm định
hướng dạy nghề bằng quy trình kỹ thuật cụ thể, bên cạnh việc dạy lý thuyết
cần tập trung vào rèn luyện kỹ năng tương ứng thông qua các bài tập.
Hệ thống bài tập, bài toán của môn học là phương tiện có hiệu quả và
không thể thay thế được trong quá trình dạy học bộ môn, việc tổ chức cho
người học giải bài tập được coi là một phương pháp dạy học tích cực. Ngoài
hệ thống bài tập đã được biên soạn trong sách giáo khoa, hiện nay đã và đang
có rất nhiều nghiên cứu tìm tòi, thiết kế hệ thống bài tập mới phù hợp với sự
thuật ngữ “Bài tập”. Ví dụ như: bài tập là một nhiệm vụ nhận thức, bài tập là
một hình thức thực hành trả lời câu hỏi, bài tập là một tình huống có vấn đề,
bài tập là một hình thức vận dụng tri thức để giải quyết vấn đề Theo
Nguyễn Ngọc Quang thì “ bài tập là một nhiệm vụ mà người giải cần phải
thực hiện, trong bài tập có bao gồm dữ kiện và yêu cầu cần tìm”. Cũng theo
ông thì bài toán là một hệ thông tin cố định, bao gồm những điều kiện và
nhiều yêu cầu luôn luôn không phù hợp (mâu thuẫn) với nhau, dẫn tới nhu
cầu phải khắc phục bằng cách biến đổi chúng [8]. Thuật ngữ bài tập là chung
hơn thuật ngữ bài toán, thuật ngữ bài toán được sử dụng rộng rãi trong bộ
môn toán thuộc khoa học tự nhiên, thuật ngữ bài toán được sử dụng để chỉ
những bài tập định lượng. Hiện nay ở nước ta, trong cách dùng tên sách của
các môn học, đặc biệt là các môn khoa học tự nhiên, người ta thường dùng
thuật ngữ “Bài tập”. Ví dụ như : Bài tập Toán học, bài tập Vật lý, bài tập Hóa
học, bài tập Sinh học Theo nghĩa này thì bài tập được hiểu là dạng bài học
mô phỏng lai kiến thức và thao tác thực hành đã được giới thiệu có mục đích
rèn luyện khả năng vận dụng, củng cố để nắm vững lý thuyết và hình thành
các kĩ năng cần thiết theo yêu cầu của chương trình môn học. Mỗi môn học có Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
10
những kiểu bài tập đặc trưng của chúng như: môn toán có Bài tập đại số, Bài
tập hình học; môn văn có Bài tập đọc, Bài tập làm văn, Bài tập ngữ pháp ;
Bài tập vẽ; Bài tập thể dục thuật ngữ “Bài tập” là chung hơn, bao hàm
nghĩa rộng hơn thuật ngữ “Bài toán”.
Như vậy, bài tập và bài toán là hai thuật ngữ khác nhau nhưng có quan
hệ với nhau, thể hiện ở các đặc điểm sau : Bài tập bao hàm bài toán, có nội
dung rộng hơn bài toán; Bài toán và bài tập đều chứa đựng những dữ kiện và
yêu cầu để giải quyết; Bài toán là một dạng nhận thức có tính chất tìm tòi
- Những yêu cầu: là “cái phải tìm”, “cái chưa biết” mà chủ thể phải
hướng tới để thỏa mãn nhu cầu của mình.
- Nhu cầu nhận thức: hai tập hợp các yếu tố trên không phù hợp với
nhau, mâu thuẫn nhau, từ đó xuất hiện nhu cầu nhận thức ở chủ thể (người
học), kích thích hoạt động nhận thức để giải quyết của chủ thể.
Quá trình giải bài tập là quá trình mà người học vận dụng tri thức vốn
có của mình, sử dụng các thao tác trí tuệ hay thực hành để tìm cách khắc phục
sự không phù hợp hoặc mâu thuẫn giữa các điều kiện và các yêu cầu của bài
tập, biến đổi chúng để cuối cùng đưa chúng tới sự thống nhất. Quá trình giải
bài tập làm cho người học có được nhận thức mới, sự phát triển mới.
* Bài tập thực hành
Thực hành được hiểu theo hai nghĩa, nghĩa rộng và nghĩa hẹp. Thực
hành (nghĩa rộng) là vận dụng sự hiểu biết để thực hiện các nhiệm vụ của
thực tiễn đời sống, thực hành (nghĩa hẹp) là hình thức luyện tập để người học
đào sâu tri thức, vận dụng tri thức lý thuyết, hình thành và rèn luyện các thao
tác về kỹ năng – kỹ xảo hoạt động. Đây chính là hoạt động thực tiễn của dạy
học, là khâu quan trọng nhất đảm bảo nguyên lý giáo dục “ học đi đôi với
hành”. Trong nhà trường khái niệm thực hành thường được hiểu theo nghĩa
hẹp, là hình thức luyện tập gắn liền với từng bộ môn, từng chuyên đề dưới
nhiều hình thức học tập khác nhau như làm bài tập, làm thí nghiệm, viết bài Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
12
văn, tập nghe, nói, đọc … Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn này chúng
tôi cũng thiên về nghiên cứu thuật ngữ thực hành theo nghĩa hẹp. Như vậy,
loại bài tập được sử dụng trong hoạt động thực hành nhằm mục đích giúp
người học củng cố tri thức, phát triển năng lực sử dụng độc lập những tri
thức thu nhận được, rèn luyện được các kỹ năng – kỹ xảo trong các hoạt
nảy sinh trong quá trình học tập cũng như công tác sau này. Do đó, trong khâu
thực hành về GDH cần tạo ra một quy trình khép kín bằng cách dạy lý luận
nghề nghiệp trong mối quan hệ tương hỗ với dạy thực hành nghề nghiệp. Với
ý nghĩa này thì Bài tập thực hành giáo dục học là một trong những hình thức
thực hành rèn luyện nghiệp vụ sư phạm cho SV, giúp SV có được những kĩ
năng – kĩ xảo tương ứng. Xuất phát từ Bài tập, BTTH nói chung, chúng tôi
quan niệm Bài tập thực hành Giáo dục học là những nhiệm vụ thực hành GV
đặt ra cho SV trong quá trình học tập GDH được trình bày dưới dạng một
tập hợp yêu cầu hoạt động, một tình huống sư phạm hay một câu hỏi với yêu
cầu và nội dung có tính khái quát cao buộc SV luyện tập nhằm củng cố , đào
sâu hệ thống tri thức đã học, vận dụng những tri thức đó vào các tình huống
dạy học, giáo dục, rèn luyện, phát triển kĩ năng – kĩ xảo sư phạm và những
phẩm chất nhân cách cần thiết của người GV tương lai.
BTTHGDH bao giờ cũng chứa đựng hoàn cảnh có vấn đề, chứa đựng
những mâu thuẫn của những tình huống giống như thực tế, buộc người học
phải suy nghĩ, tìm tòi để có thể tìm ra phương án giải quyết tối ưu nhất đáp
ứng được những yêu cầu của hoạt động dạy học – giáo dục.
* Phân loại bài tập thực hành giáo dục học
Có nhiều cách phân loại BTGDH dựa trên những cơ sở khác nhau. Tuy
nhiên cách phân loại phổ biến nhất hiện nay trong thực tế nới riêng và các tài
liệu Tâm lý – Giáo dục học là dựa vào mục đích và yêu cầu sử dụng BT. Theo
đó BTTHGDH được phân thành ba loại: Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
14
- Loại BT yêu cầu phân tích, giải thích, chứng minh làm sáng tỏ lý luận
giáo dục.
- Loại BT yêu cầu vận dụng kiến thức để giải quyết các tình huống
chặt chẽ, thực hiện một nội dung bao gồm nhũng tri thức phổ thông cơ bản,
những kỹ năng, kỹ xảo hoạt động nhờ một hệ thống các tác động sư phạm của
đội ngũ giáo viên. Bản chất của dạy học chính là gây ảnh hưởng có chủ định
đến hành vi học tập và quá trình học tập của người khác, tạo ra môi trường và
những điều kiện để người học duy trì việc học, cải thiện hiệu quả, chất lượng
học tập, kiểm soát quá trình và kết quả học tập của mình. Có thể nói, dạy học
là phương tiện đem lại hiệu quả lớn lao trong việc phát triển hệ thống năng
lực hoạt động trí tuệ của người học. Khi người học đã lũy được một khối
lượng tri thức cần thiết, có được một trình độ nhận thức xác định, người học
sẽ có thể nhận thức được thế giới khách quan sâu sắc hơn và có thể thích ứng
được với tự nhiên, với xã hội được định hướng theo những quan điểm chính
thống của thời đại, đồng thời mang màu sắc cá nhân. Dạy học góp phần vào
việc nâng cao trình đọ học vấn cho người học và song song với điều đó là
hình thành bộ mặt nhân cách cho mỗi cá nhân, giúp họ sống có ích cho bản
thân và xã hội. Dạy học không đồng nghĩa với dạy người nhưng lại là phương
tiện cơ bản giúp cho mỗi cá nhân trở thành người có ích. Nhiều tác giả cho
rằng: “ Dạy học là toàn bộ các thao tác có mục đích nhằm chuyển các giá trị
tinh thần, các hiểu biết, các giá trị văn hóa mà nhân loại đã đạt được hoặc
cộng đồng đã đạt được vào bên trong một con người”. Quan niệm này lí giải
đầy đủ cách mà nền giáo dục đang cố gắng đào tạo những con người thích
ứng với những nhu cầu hiện tại của xã hội. Tuy nhiên quan niệm này làm cho
nền giáo dục luôn đi sau sự phát triển của xã hội. Bởi vì nó chỉ có nhiệm vụ
tái hiện lại các giá trị tinh thần xã hội đã được vật chất hóa bằng cách nào đó
để trở lại thành giá trị tinh thần bên trong người học. Thời đại của chúng ta,
và hơn nữa xã hội chúng ta đang hướng đến một xã hội tri thức, đòi hỏi mỗi Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
16
17
những năng lực sư phạm cần thiết, thể hiện được sự vững vàng về chuyên
môn (trình độ chuyên môn về giảng dạy, giáo dục và các công tác khác có
liên quan) và năng lực nghiệp vụ sư phạm (kiến thức và các kỹ năng sư phạm)
để giúp giáo viên làm tốt công tác dạy học và giáo dục học sinh trong nhà
trường phổ thông.
Đối với các nhà sư phạm, khoa học giáo dục đã khẳng định được vai trò
và vị thế của mình trong công tác giáo dục nghiệp vụ và đây là tính chất
chuyên môn nghiệp vụ đặc trưng nổi bật của trường sư phạm.
1.3.2 Dạy học môn Giáo dục học tại trường CĐSP
Trong công cuộc đào tạo giáo viên, việc hình thành trình độ văn hóa sư
phạm cơ bản, toàn diện là một yêu cầu cực quan trọng. Trình độ văn hóa sư
phạm có thể hiểu là toàn bộ kiến thức, sự hiểu biết về hoạt động sư phạm,
kinh nghiệm lý thuyết cũng như king nghiệm và khả năng thực hành hoạt
động sư phạm. Đặc biệt, trong điều kiện phát triển xã hội chủ yếu dựa trên
nền kinh tế tri thức, cộng với trình độ phát triển cao của hoạt động dạy học và
giáo dục trên thế giới thì việc hình thành cho sinh viên sư phạm một nền tảng
văn hóa sư phạm vừa sâu, vừa rộng lại là một yêu cầu ngày càng trở nên cấp
bách. Để đạt được một trình độ văn hóa sư phạm như vậy, trên cơ sở tinh
thông kiến thức chuyên ngành, người sinh viên sư phạm phải có những tri
thức cơ bản về nghề sư phạm, rèn luyện những kỹ năng – kỹ xảo của nghề sư
phạm. Cùng với các bộ môn khác thuộc khoa học Giáo dục như Tâm lý học,
Lí luận dạy học bộ môn, lịch sử giáo dục học Giáo dục học với tư cách là
một môn khoa học nghiệp vụ, góp một vai trò cực kỳ quan trọng trong việc
hình thành và phát triển trình độ văn hóa sư phạm cho những người giáo viên
tương lai. Cụ thể là nó cung cấp cho họ nhũng hiểu biết cơ bản về hoạt động
nghiệp vụ của người giáo viên, rèn luyện cho họ hệ thống những kỹ năng sư