LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan, đây là công trình nghiên cứu
của riêng tôi. Các số liệu là trung thực. Những kết
quả nêu trong luận văn chưa từng được ai công bố
trong bất kỳ công trình nào khác.
Tác giả
Tô Thị Nhung
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG VÀ BIỂU ĐỒ
TÓM TẮT LUẬN VĂN
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 4
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ THẺ CỦA NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI 4
1.1.3 Phân loại thẻ 7
1.1.4 Tính tiện ích của thẻ ngân hàng 8
1.2 Dịch vụ thẻ 13
1.2.1 Các thành viên tham gia 13
1.2.2 Dịch vụ phát hành và sử dụng thẻ 15
1.2.3 Rủi ro trong cung ứng dịch vụ thẻ 15
1.3 Phát triển dịch vụ thẻ của ngân hàng thương mại 18
1.3.1 Quan niệm về phát triển dịch vụ thẻ 18
1.3.2 Các tiêu chí phản ánh phát triển dịch vụ thẻ 20
1.4 Các nhân tố ảnh hưởng tới phát triển dịch vụ thẻ 22
1.4.1 Nhân tố khách quan 22
CHƯƠNG 2 25
THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ THẺ 25
TẠI NGÂN HÀNG TMCP NGOẠI THƯƠNG VN 25
– CHI NHÁNH HẢI PHÒNG 25
3.2.5 Đào tạo nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, nhân viên 81
3.2.6 Một số giải pháp khác 84
3.3 Kiến nghị 85
3.3.1 Kiến nghị với NH TMCP Ngoại thương Việt Nam 85
3.3.2 Kiến nghị với Ngân hàng Nhà nước 86
3.3.3 Kiến nghị với Chính phủ và các Bộ, ngành 88
3.3.4 Kiến nghị với Hiệp hội thẻ và các Công ty kết nối thanh toán 89
KẾT LUẬN 91
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 93
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
ATM Automatic Transfer Machine
CN Chi nhánh
DSSD Doanh số sử dụng
DSTT Doanh số thanh toán
ĐVCNT Đơn vị chấp nhận thẻ
EDC Electric Data Capturer
GNNĐ Ghi nợ nội địa
GNQT Ghi nợ quốc tế
HP Hải Phòng
NHNN Ngân hàng Nhà nước
NHPHT Ngân hàng phát hành thẻ
NHTM/NHTMCP Ngân hàng thương mại/cổ phần
NHTTT Ngân hàng thanh toán thẻ
NSNN Ngân sách nhà nước
PIN Personal Identification Number
POS Point Of Sale
TCPH Tổ chức phát hành
TCTQT Tổ chức thẻ quốc tế
USD Đô la Mỹ
VCB Hải Phòng Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam CN
1.2.1 Các thành viên tham gia 13
1.2.2 Dịch vụ phát hành và sử dụng thẻ 15
1.2.3 Rủi ro trong cung ứng dịch vụ thẻ 15
1.3 Phát triển dịch vụ thẻ của ngân hàng thương mại 18
1.3.1 Quan niệm về phát triển dịch vụ thẻ 18
1.3.2 Các tiêu chí phản ánh phát triển dịch vụ thẻ 20
1.4 Các nhân tố ảnh hưởng tới phát triển dịch vụ thẻ 22
1.4.1 Nhân tố khách quan 22
CHƯƠNG 2 25
THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ THẺ 25
TẠI NGÂN HÀNG TMCP NGOẠI THƯƠNG VN 25
– CHI NHÁNH HẢI PHÒNG 25
2.1 Tổng quan về hoạt động kinh doanh của Ngân hàng TMCP Ngoại thương VN –
Chi nhánh Hải Phòng 25
2.1.1 Quá trình hình thành Ngân hàng TMCP Ngoại thương VN-Chi nhánh Hải Phòng 25
2.1.2. Khái quát hoạt động kinh doanh của NH TMCP ngoại thươngVN-CN Hải Phòng 26
2.2 Thực trạng triển khai và phát triển dịch vụ thẻ tại ngân hàng TMCP Ngoại
thương VN – CN Hải Phòng 30
2.2.1 Các sản phẩm thẻ hiện tại của VCB Hải Phòng 30
2.2.2 Hoạt động thanh toán thẻ quốc tế 30
2.2.3 Hoạt động phát hành và sử dụng thẻ của VCB Hải Phòng 35
2.2.4 Mạng lưới máy móc, đơn vị chấp nhận thẻ 47
2.2.5 Thu nhập và rủi ro trong phát triển dịch vụ thẻ 50
2.2.6 Hoạt động Marketing 53
2.2.7 Dư nợ cho vay thẻ tín dụng 54
2.3 Đánh giá hoạt động phát triển dịch vụ thẻ tại NH TMCP Ngoại thương VN – CN
Hải Phòng 55
2.3.1 Kết quả đạt được 55
2.3.2 Hạn chế và nguyên nhân 59
CHƯƠNG 3 66
đoàn tài chính đa năng đã chuyển hướng kinh doanh sang lĩnh vực bán lẻ, trong đó
kinh doanh dịch vụ thẻ ngày càng quan trọng đối với chiến lược hoạt động của các
ngân hàng.
Thẻ ngân hàng là sản phẩm của sự kết hợp giữa những thành tựu phát triển
vượt bậc của ngành tin học-điện tử-viễn thông và nghiệp vụ ngân hàng hiện đại, nó
là một trong những phương tiện phổ biến và hiện đại nhất hiện nay để thực hiện
thanh toán không dùng tiền mặt. Phương thức này được biết đến là một phương
thức an toàn, hiệu quả, sử dụng thuận tiện, góp phần thực thi chính sách tiền tệ quốc
gia, minh bạch hóa nền kinh tế, nâng cao hiệu quả giám sát của các cơ quan nhà
nước. Sự ra đời của phương thức thanh toán thẻ đã đánh dấu một bước tiến bộ vượt
bậc của dịch vụ ngân hàng hiện đại.
Tại Việt Nam, trong thời gian qua các ngân hàng thương mại trong nước và
nước ngoài đã tung ra thị trường hàng loạt các sản phẩm dịch vụ của ngân hàng bán
lẻ hiện đại, trong đó có dịch vụ thẻ và tập trung mở rộng mạng lưới thanh toán thẻ
bằng việc phát triển hệ thống máy ATM, điểm POS để thu hút khách hàng. Ngân
hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam là ngân hàng đi tiên phong trong lĩnh vực này
và trở thành một trong những ngân hàng hàng đầu trong việc cung cấp dịch vụ thẻ.
LỜI MỞ ĐẦU
2
Tuy nhiên, so với mong muốn và tiềm năng của thị trường thì việc phát triển dịch
vụ thẻ trong thời gian qua còn gặp nhiều khó khăn, hạn chế trong công tác triển
khai thực hiện. Các chi nhánh của ngân hàng TMCP ngoại thương Việt Nam trong
đó có Chi nhánh Hải Phòng cũng gặp không ít khó khăn tương tự và trong quá trình
triển khai dịch vụ thẻ đã bộc lộ nhiều hạn chế, bất cập.
Trước tình hình đó, để có thể giữ vững ưu thế là một ngân hàng thương mại
đi đầu trong việc khai thác và phát triển dịch vụ thẻ tại Việt Nam, việc tổng hợp,
phân tích, đánh giá đúng thực trạng phát triển của dịch vụ thẻ của Ngân hàng
TMCP ngoại thương Việt Nam chi nhánh Hải Phòng trong thời gian qua, trên cơ sở
đó đưa ra những giải pháp phát triển dịch vụ thẻ, nâng cao được khả năng cạnh
tranh của dịch vụ ngân hàng bán lẻ là một yêu cầu cấp thiết.
4
1.1 Tổng quan về thẻ của Ngân hàng thương mại
1.1.1 Quá trình hình thành và phát triển thẻ của Ngân hàng thương mại
Thẻ ngân hàng là một phương tiện thanh toán thông dụng và không thể thiếu
trong đời sống kinh tế xã hội của nhiều quốc gia trên thế. Thẻ ra đời vào năm 1949
do ông Frank Mc Namara, một doanh nhân người Mỹ sáng chế mang tên “Dinners
Club”-ra đời một cách ngẫu nhiên trong một lần ăn tối tại nhà hàng, ông Frank quên
không mang theo tiền để thanh toán và phải gọi điện về nhà nhờ người mang giúp.
Chính tình huống đó ông đã nảy ra ý định về một phương tiện thanh toán thay thế
tiền mặt có thể sử dụng được ở mọi nơi. Sau đó, thẻ Dinners Club phát triển thành
thẻ du lịch và giải trí do tổ chức thẻ tự phát hành. Những tiện ích của thẻ ngay lập
tức được chú ý và đã chinh phục được một lượng khách hàng đông đảo bởi họ có
thể mua hàng trước mà không phải trả tiền ngay. Còn đối với các nhà bán lẻ, tuy họ
phải chịu mức chiết khấu 5% nhưng doanh thu của họ tăng rất nhanh. Đến năm
1951, doanh thu của loại thẻ này lên đến hơn 1 triệu USD và số lượng thẻ ngày
càng gia tăng, năm 1960 nó đã có mặt tại Nhật Bản.
Sau Dinners Club là hàng loạt thẻ ra đời từ năm 1955 như: Esquire Club,
Trip Charge, Golden Key, Gourmet Club và đến năm 1958 thì Carte Blanche và
American Express ra đời đã thống nhất thị trường thẻ. Phần lớn thị trường thẻ dành
cho giới doanh nhân nhưng sau đó các ngân hàng nhận thấy rằng giới bình dân mới
chính là đối tượng sử dụng nhiều nhất. Và đến cuối năm 1950 một ngân hàng tại
Mỹ đã tiến hành cung cấp dịch vụ thẻ theo cơ chế tín dụng tuần hoàn. Ngân hàng
này phát hành các loại thẻ xanh, trắng và vàng mang tên Bank Americard và đến
năm 1977 đã trở thành thẻ Visa. Năm 1966 ngân hàng Barclays tại Anh là ngân
CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHÁT TRIỂN DỊCH
VỤ THẺ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
5
hàng hải ngoại đầu tiên được phép phát hành thẻ Bank Americard có tên gọi
Barclaycard. Sự thành công của Barclays đã thôi thúc ba ngân hàng lớn khác là
Có rất nhiều cách diễn đạt khác nhau về thẻ ngân hàng. Tuy nhiên, theo
Quyết định số 20/2007/-QĐ-NHNN ngày 15/05/2007 của Thống đốc Ngân hàng
Nhà nước Việt Nam về quy chế phát hành, thanh toán, sử dụng và cung cấp dịch vụ
hỗ trợ hoạt động thẻ ngân hàng thì: “Thẻ ngân hàng là phương tiện do tổ chức
phát hành thẻ phát hành để thực hiện giao dịch thẻ theo các điều kiện và điều
khoản được các bên thoả thuận”. “Giao dịch thẻ”: Là việc sử dụng thẻ để
gửi, nạp, rút tiền mặt, thanh toán tiền hàng hoá, dịch vụ, sử dụng các dịch vụ
khác do tổ chức phát hành thẻ, tổ chức thanh toán thẻ cung ứng.
1.1.2.2 Đặc điểm cấu tạo của thẻ ngân hàng
Hiện nay, hầu hết các loại thẻ đều được làm bằng nhựa cứng với 4 góc tròn,
có dạng hình chữ nhật.
Thẻ gồm 3 lớp được ép với kỹ thuật công nghệ cao, lõi thẻ được làm bằng
nhựa cứng nằm giữa hai lớp nhựa cán mỏng.
Kích thước thẻ: 95mm*55mm*0,76mm
Với mỗi cách quản lý và xử lý thông tin của thẻ mà thẻ được cấu tạo bởi dải
băng từ (thẻ từ) hay vi mạch điện tử (thẻ chíp) hoặc ghi số liệu (thẻ chíp) hoặc cả
băng từ và cả chíp (thẻ từ có chíp).
Mặt trước của thẻ gồm có:
- Tên và biểu tượng của ngân hàng phát hành: Có thể xem như yếu tố an
ninh chống giả mạo.
- Số thẻ: Được dập nổi trên thẻ.
- Họ và tên của chủ thẻ: Là chữ in nổi, có cả ảnh nếu là thẻ Visa.
- Con chíp điện tử (với thẻ smart): Có chứa bộ nhớ hoặc bộ nhớ với một bộ
vi xử lý chứa các ứng dụng như xác thực thông tin cá nhân.
- Ngày hiệu lực của thẻ: Thời hạn mà thẻ được lưu hành.
7
- Biểu tượng của tổ chức thẻ
Mặt sau của thẻ gồm có:
- Dải băng từ màu đen, chứa các thông tin đã được mã hóa theo một thể
thống nhất: Số thẻ, ngày hết hạn, các đặc điểm an ninh, tên chủ thẻ, mã số cá
giao dịch trong lãnh thổ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Hoặc là thẻ do
ngân hàng phát hành thẻ tại một quốc gia phát hành, được sử dụng và thanh toán tại
quốc gia đó, do vậy đồng tiền giao dịch phải là đồng bản tệ của quốc gia đó.
Thẻ quốc tế: Là thẻ được tổ chức phát hành thẻ tại Việt Nam phát hành để
giao dịch trong và ngoài lãnh thổ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam; hoặc
là thẻ được tổ chức nước ngoài phát hành và giao dịch trong lãnh thổ nước Cộng
hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, sử dụng các ngoại tệ mạnh để thanh toán.
1.1.3.4 Phân loại thẻ theo đối tượng sử dụng thẻ
Thẻ cá nhân: Là loại thẻ dùng cho mục đích thanh toán của cá nhân, người
sử dụng đứng tên trên hợp đồng sử dụng thẻ và chịu trách nhiệm thanh toán bằng
nguồn tiền của mình thông qua tài khoản của họ mở tại ngân hàng phát hành.
Thẻ công ty: Là thẻ do công ty đề nghị NHPHT cấp thẻ cho cá nhân được
công ty ủy quyền làm đại diện hợp pháp của công ty khi sử dụng thẻ. Công ty có
trách nhiệm thanh toán các khoản chi tiêu phát sinh bằng thẻ của cá nhân đó.
Việc phân loại thẻ một cách chi tiết như trên một mặt giúp NHTM dễ dàng
quản lý việc phát hành, thanh toán và sử dụng thẻ, mặt khác điều đó cũng tạo điều
kiện giúp các cơ quan có liên quan quản lý thẻ và phòng ngừa rủi ro tốt hơn.
1.1.4 Tính tiện ích của thẻ ngân hàng
1.1.4.1 Tính tiện ích của thẻ ngân hàng đối với nền kinh tế
Giảm khối lượng tiền mặt lưu thông trên thị trường: Thanh toán thẻ giúp loại
bỏ một lượng tiền mặt lớn lẽ ra phải lưu thông trực tiếp trong lưu thông để thanh
toán các khoản giao dịch trên thị trường ngày càng sôi động, phát triển ở tất cả các
9
nước trên thế giới, qua đó giảm các chi phí bảo quản, vận chuyển, phát hành tiền
cũng như chi phí chống tội phạm làm tiền giả.
Ngoài ra, thanh toán thẻ tạo điều kiện thanh toán tiền hàng hóa dịch vụ một
cách an toàn, văn minh, hiệu quả…qua đó tạo niềm tin cho dân chúng trong hoạt
động ngân hàng.
Hạn chế các hoạt động ngầm trong nền kinh tế, góp phần minh bạch tài
chính, dễ dàng thực thi chính sách tiền tệ của NHNN: Khi thực hiện thanh toán thẻ,
nạn hay tử vong khi đi du lịch…
Thuận tiện và linh hoạt: Thay cho việc dùng một khối lượng tiền mặt khổng
lồ, giờ đây chỉ cần một tấm thẻ tí hon trong tay bạn có thể thanh toán tiền hàng hóa,
dịch vụ ở nhiều nơi hay rút tiền mặt bất cứ lúc nào tại các máy rút tiền tự động được
đặt ở những nơi công cộng, tại các tổ chức tài chính hay các ngân hàng trên thế giới
với loại tiền phù hợp với nước sở tại. Ngoài ra, chủ thẻ còn có thể sử dụng các dịch
vụ khác như: xem số dư tài khoản, trả nợ vay, thanh toán chuyển khoản cho một số
đơn vị chấp nhận thanh toán qua thẻ…Tiện ích nổi bật của dịch vụ thẻ góp phần
hình thành thói quen không dùng tiền mặt khi thanh toán.
Với sự linh hoạt và thuận tiện của thẻ thanh toán đặc biệt là khi chủ thẻ đi
công tác hay du lịch ở nước ngoài, chủ thẻ có thể còn được hưởng một số dịch vụ
ưu đãi của nhà phát hành kèm theo như: dịch vụ bảo hiểm lữ hành, dịch vụ hỗ trợ
khách hàng 24/7.
Bên cạnh đó đối với thẻ ghi nợ (debit card), chủ thẻ còn có thể được sử dụng
một mức thấu chi theo quy định trên tài khoản tiền gửi của mình tại ngân hàng. Còn
đối với thẻ tín dụng (credit card), chủ thẻ còn có thể được cấp một khoản tín dụng
tiêu dùng tự động, tức thời với hạn mức tín dụng nhất định, điều này tạo điều kiện
cho khách hàng mở rộng các giao dịch tài chính trong khả năng thu nhập. Khách
hàng có thể thực hiện các giao dịch trước, thanh toán sau mà không bị tính lãi trong
thời gian quy định hoặc mức lãi suất thấp.
Văn minh: Tiền mặt chỉ sử dụng trong một giới hạn lãnh thổ nhất định trừ
các loại ngoại tệ mạnh nhưng nếu là chủ thẻ thì họ có thể tiêu ở bất kỳ đâu có cơ sở
11
chấp nhận thẻ. Thẻ giúp chủ thẻ hòa nhập cùng với các cộng đồng trên thế giới, sử
dụng thẻ, chủ thẻ trở nên văn minh, lịch sự trong giao dịch công việc của mình.
Gọn nhẹ, nhanh chóng và hiệu quả: Thẻ được cấu tạo gọn nhẹ, tinh vi nên
không những dễ dàng mang theo mà còn thực hiện được khối lượng chi trả lớn chỉ
trong giây lát mà không sợ nhầm lẫn. Khi sử dụng trong giao dịch chủ thẻ chỉ cần
xuất trình thẻ và ký vào hóa đơn thì mọi giao dịch coi như hoàn tất. Bằng việc sử
dụng thẻ khách hàng không những tiết kiệm được công sức, thời gian vận chuyển,
ĐVCNT có thể được hưởng những dịch vụ khác ưu đãi hơn: quan hệ tín dụng, phát
hành thẻ tín chấp…
- Được làm quen với các tổ chức, ngân hàng có uy tín nhờ đó tăng uy tín cho
các ĐVCNT: Thẻ là một trong những phương tiện thanh toán hiện đại, thể hiện sự
văn minh nhờ đó mà sự sang trọng cũng như uy tín của ĐVCNT tăng lên.
1.1.4.4 Tính tiện ích của thẻ đối với ngân hàng
Cạnh tranh giữa các NHTM đã tạo điều kiện cho khách hàng lựa chọn các
sản phẩm, dịch vụ phù hợp với mình, làm cho thế độc quyền trong ngân hàng giảm
đi. Điều đó buộc các ngân hàng phải tự mình đa dạng hóa các loại hình dịch vụ. Sự
ra đời và phát triển của thẻ ngân hàng là một quá trình phát triển tất yếu, nó mang
lại lợi ích cho nhiều đối tượng. Vai trò của dịch vụ thẻ trong hoạt động của ngân
hàng được thể hiện:
Đối với ngân hàng phát hành thẻ (NHPHT): Qua nghiệp vụ phát hành thẻ,
NHPH đa dạng hóa được các nghiệp vụ, thu hút được thêm nhiều khách hàng mới
tạo điều kiện cho các nghiệp vụ khác phát triển: tín dụng, nhận tiền gửi, kinh doanh
ngoại tệ…Mặt khác, khi tham gia phát hành thẻ thì NHPHT phải tham gia các tổ
chức thẻ quốc tế nhờ đó mà uy tín của ngân hàng ngày một tăng cao.
Ngoài ra, các khoản thu từ phí dịch vụ thẻ như phí phát hành, cho vay, phí
thường niên, phí chiết khấu…Bên cạnh đó, khi yêu cầu khách hàng phát hành thẻ
thì ngân hàng yêu cầu khách hàng phải ký quỹ một khoản tiền nhất định trên tài
13
khoản cá nhân hay sổ tiết kiệm tại ngân hàng. Đây sẽ là một nguồn thu, nguồn vốn
nhãn rỗi tương đối lớn để cho vay nếu nghiệp vụ thẻ phát triển. Khi tham gia phát
hành thẻ, ngân hàng có thể mở rộng được mạng lưới cho vay với một mức lãi suất
nhất định.
Đối với ngân hàng thanh toán thẻ (NHTTT): Cũng giống như NHPHT,
NHTTT thu hút được nhiều khách hàng mới sử dụng dịch vụ thẻ sau nữa là các dịch
vụ khác kèm theo, đồng thời có điều kiện để đa dạng hóa các loại hình dịch vụ của
mình. Ngoài ra, khi tham gia thanh toán thẻ NHTT thu thêm được một loại phí chiết
khấu đại lý từ hoạt động thanh toán đại lý.
trung tâm thương mại, các quầy hàng tại sân bay, khách sạn lớn…
1.2.1.5 Tổ chức thẻ quốc tế
Tổ chức thẻ quốc tế là tổ chức cho phép NHPH làm trung tâm xử lý cấp
phép, thông tin giao dịch, thanh toán của các ngân hàng thành viên trên thế giới.
Các tổ chức thẻ quốc tế đều có tên trên biểu tượng của mình hay gắn với một
thương hiệu độc quyền như: Visa, Master card…Khác với ngân hàng thành viên, tổ
chức thẻ quốc tế không có quan hệ trực tiếp với chủ thẻ hay ĐVCNT mà chỉ cung
cấp một mạng lưới viễn thông toàn cầu phục vụ cho quy trình thanh toán, cấp phép
cho ngân hàng thành viên một cách nhanh chóng, tiện lợi.
1.2.1.6 Các chủ thể khác
- Trung tâm chuyển mạch: Kết nối các NHPH, NHTT, ĐVCNT, TCTQT
thành một mạng lưới rộng khắp.
- Trung tâm thanh toán bù trừ: Được các ngân hàng ủy quyền thực hiện
thanh toán bù trừ các giao dịch qua thẻ giữa các ngân hàng và chuyển kết quả sang
NHNN để quyết toán.
- Ngân hàng Nhà nước (NHNN): Là cơ quan quản lý Nhà nước, đưa ra các
văn bản pháp quy, cấp phép cho các NHTM hoạt động kinh doanh thẻ…
15
- Hiệp hội các ngân hàng thanh toán thẻ: Do các NHPH và NHTT thành lập có
nhiệm vụ là soạn thảo các quy định riêng về cấp phép, bù trừ, thanh toán…giải quyết
những vướng mắc trong hoạt động thẻ nhằm đảm bảo cạnh tranh lành mạnh, công bằng.
1.2.2 Dịch vụ phát hành và sử dụng thẻ
(1a) Chủ thẻ nộp hồ sơ xin phát hành thẻ
(2a) NHPH cấp thẻ cho khách hàng nếu khách hàng đủ điều kiện
(1b) ĐVCNT nộp hồ sơ xin đăng ký làm đại lý của NHTT
(2b) NHTT ký hợp đồng với ĐVCNT nếu đủ điều kiện
(3) Chủ thẻ sử dụng thẻ để thanh toán tiền hàng hóa dịch vụ hay rút tiền mặt
(4) ĐVCNT cung cấp hàng hóa cho khách hàng
(5) ĐVCNT gửi hóa đơn thanh toán cho NHTT
(6) NHTT tạm ứng cho ĐVCNT
16
ngân hàng, chủ thẻ, ĐVCNT đều là các đối tượng chịu rủi ro. Rủi ro có thể xảy
ra trong hoạt động phát hành và thanh toán thẻ.
1.2.3.1 Rủi ro trong hoạt động phát hành thẻ
- Đơn phát hành thẻ với các thông tin giả mạo: Khi yêu cầu phát hành thẻ,
khách hàng có thể cung cấp các thông tin không chính xác về bản thân, khả năng tài
chính, mức thu nhập, hoặc có thể sử dụng giấy tờ giả mạo…cho NHPH. Tổn thất có
thể xảy ra là: Chủ thẻ không có đủ khả năng thanh toán các khoản tín dụng thẻ hoặc
chủ thẻ cố tình lừa đảo để chiếm dụng vốn của ngân hàng. Do vậy, cán bộ ngân
hàng cần thẩm định thông tin trên hồ sơ của khách hàng một cách chính xác.
- Thẻ giả: Đây là loại rủi ro lớn nhất và nguy hiểm nhất hiện nay mà mọi tổ
chức đều quan tâm. Đó là việc cá nhân hay tổ chức làm giả thẻ căn cứ vào các
thông tin có được từ việc đánh cắp các dữ liệu của thẻ thật, từ các thẻ bị mất cắp,
thất lạc…Thẻ giả bao gồm thẻ trắng bị dập nổi lại, thông tin trên thẻ bị sửa đổi, thẻ
bị mã hóa lại, hay thẻ bị làm giả hoàn toàn dựa trên các dữ liệu của thẻ thật. Trường
hợp này đặt ra cho các ngân hàng phát hành là phải có các biện pháp bảo mật thông
tin cũng như các ràng buộc kiểm tra. Ngày nay, với sự phát triển như vũ bão của
công nghệ thông tin thì tình trạng thẻ giả đang phát triển tràn lan ở nhiều nước trên
thế giới gây ra những tổn thất vô cùng to lớn cho các ngân hàng cũng như chủ thẻ.
- Thẻ bị mất cắp, thất lạc: Trong trường hợp thẻ bị mất cắp thất lạc mà chủ
thẻ chưa kịp thông báo cho NHPH để có thể có những biện pháp hạn chế và kiểm
tra. Trường hợp này cũng có thể được các tội phạm sử dụng làm thẻ giả như trong
trường hợp thẻ giả hoặc chính chủ thẻ cố tình báo mất sau đó sử dụng lại.
- Chủ thẻ không nhận được thẻ đã phát hành: Đó là việc thẻ bị đánh cắp
trước khi chủ thẻ nhận được thẻ và sử dụng để thực hiện các giao dịch giả mạo hay
khi giao nhận thẻ tại TCPHT chủ thẻ không ký nhận thẻ và cố tình sử dụng thẻ.
- Tài khoản của chủ thẻ bị lợi dụng: Khi TCPHT nhận được yêu cầu thay đổi
thông tin của chủ thẻ giả mạo đặc biệt là thay đổi địa chỉ sau đó yêu cầu phát hành
lại thẻ. Trong trường hợp này, nếu TCPHT không kiểm tra kỹ các thông tin mà vẫn
17
thanh toán thẻ và sử dụng vào mục đích bất hợp pháp thông qua các thiết bị chuyên
dùng (skimming device), lấy cắp dữ liệu trên đường truyền (wire taping), lấy cắp dữ
liệu qua internet (phishing)…
1.2.3.3 Các loại rủi ro khác
- Rủi ro tác nghiệp: Đó là loại rủi ro xảy ra khi cán bộ thẻ không tuân thủ
quy trình nghiệp vụ thẻ gây ra tổn thất tài chính cũng như uy tín của ngân hàng.
- Rủi ro kỹ thuật: Rủi ro xảy ra liên quan đến cơ sở dữ liệu bị đánh cắp, sự cố
liên quan đến xử lý dữ liệu hoặc kết nối…
- Rủi ro đối với hệ thống ATM: Tội phạm ăn cắp dữ liệu từ đường truyền
máy ATM, gắn camera để lấy thông tin số PIN hoặc máy ATM hoạt động sai lệch
do phát sinh các sự cố kỹ thuật hay lỗi tác nghiệp.
- Rủi ro do độ trễ của thông tin: Rủi ro này xảy ra khi các ĐVCNT thanh
toán các thẻ bị cấm lưu hành vì chưa nhận được thông tin thẻ bị cấm lưu hành từ
ngân hàng.
1.3 Phát triển dịch vụ thẻ của ngân hàng thương mại
1.3.1 Quan niệm về phát triển dịch vụ thẻ
Với những tiện ích mà dịch vụ thẻ ngân hàng mang lại cho khách hàng, dịch
vụ ngân hàng bán lẻ nói chung và dịch vụ thẻ nói riêng ngày càng khẳng định được
vị trí quan trọng của mình trong hoạt động kinh doanh chiến lược của ngân hàng.
Sự phát triển dịch vụ thẻ đối với các ngân hàng thương mại không chỉ làm tăng thu
nhập, nâng cao được năng lực cạnh tranh mà còn giúp các ngân hàng khẳng định
được uy tín, thương hiệu và vị thế của mình trên thị trường nội địa cũng như thị
trường quốc tế. Đặc biệt, trong giai đoạn hội nhập nền kinh tế thế giới, sự phát triển
dịch vụ thẻ ngân hàng hiện đại là mục tiêu mà các ngân hàng thương mại hướng tới.