BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG TRẦN THỊ THÚY AN PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ THẺ TẠI NGÂN
HÀNG TMCP CÔNG THƯƠNG VIỆT NAM
CHI NHÁNH CỬA LÒ
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Khánh Hòa – 2013
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin gửi lời cám ơn chân thành đến tất cả các thầy cô Trường Đại học Nha
Trang, Khoa Kinh tế, Khoa Sau đại học, đã truyền đạt cho tôi những kiến thức vô cùng
quý báu, đặc biệt xin chân thành cảm ơn đến cô Tiến sĩ Nguyễn Thị Trâm Anh đã tận
tình hướng dẫn tôi hoàn thành luận văn.
Xin cảm ơn Ngân hàng Thương mại cổ phần Công thương Việt Nam - Chi
nhánh Cửa Lò đã tạo mọi điều kiện thuận lợi, giúp đỡ, hỗ trợ tôi trong quá trình thu
thập dữ liệu.
Học viên thực hiện Trần Thị Thúy An
ii
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
LỜI CAM ĐOAN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC BẢNG vii
DANH MỤC BIỂU ĐỒ viii
DANH MỤC SƠ ĐỒ viii
PHẦN MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ THẺ
CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 4
1.1. GIỚI THIỆU CHUNG VỀ THẺ 4
1.1.1. Sự ra đời của thẻ. 4
1.1.2. Khái niệm, vai trò, đặc điểm cấu tạo thẻ 5
1.1.3. Phân loại thẻ 9
1.2. Nghiệp vụ phát hành và thanh toán thẻ của Ngân hàng thương mại 16
1.2.1. Chủ thể tham gia vào hoạt động thanh toán thẻ 16
1.5. Nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển dịch vụ thẻ của NHTM. 31
1.6. PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ THẺ Ở MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI VÀ BÀI
HỌC KINH NGHIỆM ĐỐI VỚI VIỆT NAM 33
1.6.1. Xu hướng phát triển dịch vụ thẻ trên thế giới 33
1.6.2. Sự hình thành và phát triển dịch vụ thẻ ở một số nước trên thế giới và khu vực 35
1.6.3. Bài học phát triển dịch vụ thẻ đối với các ngân hàng thương mại Việt Nam 38
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 39
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ THẺ TẠI NGÂN HÀNG
TMCP CÔNG THƯƠNG VIỆT NAM CHI NHÁNH CỬA LÒ giai ĐOẠN 2010 -
2012 40
2.1. GIỚI THIỆU CHUNG VỀ NGÂN HÀNG TMCP CÔNG THƯƠNG VIỆT NAM
CHI NHÁNH CỬA LÒ 40
2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển 40
2.1.2. Cơ cấu tổ chức 41
2.2. KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG TMCP CÔNG
THƯƠNG VIỆT NAM– CHI NHÁNH CỬA LÒ 41
2.2.1. Hoạt động huy động vốn 41
2.3.7. Đánh giá tình hình phát triển dịch vụ thẻ tại chi nhánh Cửa Lò 77
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 87
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ THẺ TẠI NGÂN
HÀNG TMCP CÔNG THƯƠNG VIỆT NAM – CHI NHÁNH CỬA LÒ 88
3.1. ĐỊNH HƯỞNG PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ THẺ TẠI CHI NHÁNH CỬA LÒ
TRONG THỜI GIAN TỚI 88
3.1.1. Định hướng hoạt động chung 88
3.1.2. Định hướng phát triển dịch vụ thẻ tại chi nhánh Cửa Lò 91
3.2. MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ THẺ TẠI VIETINBANK CHI
NHÁNH CỬA LÒ 94
3.2.1 Phân đoạn thị trường và lựa chọn thị trường mục tiêu cho các loại thẻ 94
Phát triển sản phẩm thẻ tín dụng nội địa 94
3.2.2. Đào tạo phát triển nguồn nhân lực có kiến thức chuyên sâu về dịch vụ thẻ 97
3.2.3. Giải pháp về kỹ thuật – công nghệ . 98
3.2.4. Phát triển đa dạng sản phảm và các tiện ích của thẻ để kích cầu 100
3.2.5. Nhóm giải pháp hạn chế rủi ro trong phát hành và thanh toán thẻ 101
3.3. KIẾN NGHỊ 105
ĐVCNT Đơn vị chấp nhận thẻ
NHNN Ngân hàng nhà nước
TCTQT Tổ chức thẻ quốc tế
TDQT Tín dụng quốc tế
TMCP Thương mại cổ phần
TTKDTM Thanh toán không dùng tiền mặt
VN Việt Nam vii
DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1: Dự báo thị trường VISA và MASTER CARD trên thế giới 33
Bảng 2.1: Tình hình huy động vốn tại chi nhánh qua các năm: 2010 - 2012 42
Bảng 2.2: Dư nợ cho vay và đầu tư 46
Bảng 2.3: Kết quả hoạt động kinh doanh 49
Bảng 2.4: Phân loại thẻ tại Vietinbank Cửa Lò 53
Bảng 2.5: Số lượng thẻ E-Partner và thẻ TTQT giai đoạn 2010 - 2012 của Vietinbank
Cửa Lò và toàn hệ thống Vietinbank 59
Bảng 2.6: Số lượng thẻ tín dụng phát hành mới năm 2010 - 2012 của Vietinbank Cửa
Lò và hệ thống Vietinbank 61
Bảng 2.7: Doanh thu từ thẻ và dịch vụ của Vietinbank Cửa Lò từ 2010-2012 67
Bảng 2.8: Doanh thu từ thẻ và dịch vụ của toàn hệ thống Vietinbank từ 2010-2012 67
viii
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Sự cần thiết của đề tài.
Hiện nay, nền kinh tế nước ta đang phát triển lên một cấp độ mới – nền kinh tế
hội nhập. Với vị trí là một ngành kinh tế tổng hợp, các Ngân hàng thương mại cần phải
vươn cao hơn nữa về mọi mặt – tăng cường năng lực kinh doanh và đặc biệt chú trọng
phát triển và ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động để có thể thích nghi nhanh
chóng với những biến động của nền kinh tế thị trường. Đó chính là yêu cầu nội tại và
tất yếu của mỗi ngân hàng. Hình thức dịch vụ đang được các ngân hàng chú trọng là
hệ thống dịch vụ cung cấp thông tin tự động và hệ thống thanh toán điện tử, hệ thống
thanh toán qua thẻ. Việc nhân rộng và phát triển loại hình dịch vụ này mang lại nhiều
lợi ích cho ngân hàng, và tác động tích cực đến thương mại điện tử thúc đẩy nền kinh
tế phát triển. Với những tính năng như vậy, thanh toán qua thẻ ngày càng được nghiên
cứu và sử dụng rộng rãi – được coi là dịch vụ của ngân hàng hiện đại.
NHTMCP Công thương Việt Nam - Chi nhánh Cửa Lò là một chi nhánh thành
viên của NHTMCP Công thương Việt Nam. Cũng giống như các NHTM khác, chi
nhánh rất quan tâm tới đẩy mạnh phát triển hoạt động thẻ trong hoạt động kinh doanh
của mình nhằm: tăng cường thanh toán không dùng tiền mặt trong lưu thông, cùng hệ
thống Vietinbank giúp Ngân hàng nhà nước kiểm soát lượng tiền lưu thông hiệu quả,
từ đó xây dựng được cung tiền hợp lý với nền kinh tế; bên cạnh đó hoạt động thẻ còn
mang lại phí dịch vụ thanh toán và nguồn vốn giá rẻ cho ngân hàng.
Tuy nhiên, tình hình kinh doanh thẻ thanh toán của ngân hàng TMCP Công
thương chi nhánh Cửa Lò lại có những điểm bất cập. Mặc dù, chi nhánh đã có những
hoạt động tích cực khuếch trương dịch vụ thẻ, nhưng lượng thẻ được phát hành chưa
đúng với tiềm năng hiện có. Thẻ ghi nợ do ngân hàng Công thương phát hành chủ yếu
là để rút tiền mặt, còn thẻ thanh toán quốc tế thì chủ yếu do người nước ngoài thanh
toán, hiệu quả sử dụng máy ATM cũng chưa cao.
Nhận thức được tính thiết thực của vấn đề này nên tôi đã lựa chọn đề tài: “Phát
triển dịch vụ thẻ tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam – chi nhánh Cửa
Lò” làm luận văn tốt nghiệp của mình.
3. Mục tiêu nghiên cứu đề tài.
- Phân tích thực trạng phát triển dịch vụ thẻ tại NHTMCP Công thương Việt
Nam- Chi nhánh Cửa Lò giai đoạn 2010 - 2012
- Đề xuất giải pháp và một số kiến nghị nhằm phát triển dịch vụ thẻ tại ngân
hàng thương mại Công thương Việt Nam - Chi nhánh Cửa Lò.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
- Đối tượng nghiên cứu: Dịch vụ thẻ tại ngân hàng TMCP Công thương Việt
Nam - Chi nhánh Cửa Lò.
3
- Phạm vi nghiên cứu: Phát triển dịch vụ thẻ tại ngân hàng TMCP Công thương
Việt Nam - Chi nhánh Cửa Lò giai đoạn 2010 - 2012
5. Phương pháp nghiên cứu.
Tác giả sử dụng số liệu thứ cấp của ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam - Chi
nhánh Cửa Lò để phân tích thực trạng phát triển dịch vụ thẻ giai đoạn 2010 – 2012.
- Phương pháp thu thập số liệu: Thu thập số liệu thứ cấp trên sách, báo, tạp chí
kinh tế, tivi và Internet, số liệu báo cáo tổng kết hoạt động kinh doanh ngân hàng
TMCP Công thương Việt Nam - Chi nhánh Cửa Lò.
- Phương pháp phân tích số liệu: Sử dụng phương pháp so sánh, phương pháp
phân tích dựa trên các con số tương đối và tuyệt đối kết hợp với phân tích SWOT để
thấy được điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và đe doạ đối với việc phát triển thẻ tại ngân
hàng TMCP Công thương Việt Nam - Chi nhánh Cửa Lò. Dựa vào số liệu đó để đưa ra
một số giải pháp phát triển thẻ tại Chi nhánh Cửa Lò.
Ngoài ra, tác giả cón tiến hành điều tra mẫu nhằm xác định các nhân tố ảnh
hưởng tới sự phát triển dịch vụ ngân hàng và đã tiến hành khảo sát một số câu hỏi
trong các bảng khảo sát với tổng số 300 bảng phát ra cho 300 khách hàng trên địa bàn
thị xã Cửa Lò, tỉnh Nghệ An.
6. Đóng góp của đề tài
mua hàng trước và trả tiền sau.
Tuy nhiên, thẻ ngân hàng lại ra đời một cách ngẫu nhiên vào năm 1940 với tên
gọi đầu tiên là thẻ DINNERS CLUB do ý tưởng của một doanh nhân người Mỹ là
Frank Mc Namara. Năm 1950 chiếc thẻ nhựa đầu tiên được phát hành, những người có
thẻ DINNERS CLUB này có thể ghi nợ khi ăn tại 27 nhà hàng tại thành phố New
York và phải chịu một khoản lệ phí hàng năm là 5 USD. Những tiện ích của chiếc thẻ
ngay lập tức gây được sự chú ý và đã chinh phục một lượng đông đảo khách hàng do
họ có thể mua hàng trước mà không cần phải trả tiền ngay. Còn đối với những nhà bán
lẻ, tuy phải chịu mức chiết khấu là 5% nhưng doanh thu của họ tăng đáng kể do lượng
khách hàng tiêu dùng tăng lên rất nhanh. Đến năm 1951, hơn 1 triệu đôla được ghi nợ,
doanh số phát hành thẻ ngày càng tăng và công ty phát hành thẻ DINNERS CLUB bắt
đầu có lãi. Một cuộc cách mạng về thẻ diễn ra ngay sau đó đã nhanh chóng đưa thẻ trở
thành một phương tiện thanh toán mang tính toàn cầu. Tiếp nối thành công của thẻ
DINNERS CLUB, hàng loạt các công ty thẻ như Trip Change, Golden Key, Esquire
Club ra đời. Phần lớn các thẻ này trước hết được phát hành nhằm phục vụ giới doanh
nhân, nhưng sau đó các ngân hàng nhận thấy rằng giới bình dân mới là đối tượng sử
dụng thẻ trong tương lai.
Năm 1960, Bank of America cho ra đời sản phẩm thẻ đầu tiên của mình là
BANKAMERICARD. Đến năm 1966, 14 ngân hàng hàng đầu của Mỹ thành lập
Interbank, một tổ chức mới với chức năng là đầu mối trao đổi các thông tin về giao
5
dịch thẻ. Ngay sau đó, vào năm 1967, 4 ngân hàng bang California đổi tên từ Bank
Card Association thành Western State Bank Card Association và tổ chức này đã liên
kết với Interbank cho ra đời thẻ MASTER CHARGE, loại thẻ này đã nhanh chóng trở
thành một đối thủ cạnh tranh lớn của BANKAMERICARD. Đến năm 1977, tổ chức
BANKAMERICARD đổi tên thành VISA USD và sau đó là tổ chức thẻ quốc tế VISA.
Năm 1979, tổ chức thẻ MASTER CHARGE đổi tên thành MASTER CARD. Hiện
là biểu tượng về sự cam kết của ngân hàng hoặc tổ chức phát hành bảo đảm thanh toán
những khoản tiền do chủ thẻ sử dụng bằng tiền của ngân hàng cho chủ thẻ vay hoặc
tiền của chính chủ thẻ đang gửi tại ngân hàng. Bản chất của thẻ có thể hiểu qua các
khái niệm về thẻ như sau:
- Theo khái niệm tổng quát thì: Thẻ là một danh từ chung chỉ một vật nhỏ, gọn,
chứa đựng các thông tin nhằm sử dụng vào một hoặc một số mục đích nào đó. Do vậy,
thẻ sẽ được gắn với những tính chất, đặc điểm, nội dung riêng biệt để trở thành một
loại cụ thể như thẻ tín dụng, thẻ ghi nợ
- Xét về giác độ phát hành thì: Thẻ là một phương tiện do ngân hàng, các định
chế tài chính hoặc các công ty phát hành dùng để giao dịch mua bán hàng hoá, dịch vụ
hoặc rút tiền mặt.
- Đứng từ giác độ công nghệ thanh toán thì: Thẻ là phương thức thanh toán ghi sổ
điện tử số tiền của các giao dịch cần thanh toán thực hiện trên hệ thống thanh toán
được kết nối giữa các chủ thể tham gia dựa trên nền tảng công nghệ ngân hàng và tin
học viễn thông.
- Theo quan điểm của NHNN VN thể hiện qua quy chế phát hành, sử dụng và
thanh toán thẻ ngân hàng ban hành theo Quyết định 371/1999/QD-NHNN1 ngày
19/10/1999 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước và xét theo mục đích sử dụng thì:
Thẻ ngân hàng là một phương tiện thanh toán tiền hàng hoá, dịch vụ không dùng tiền
mặt hoặc có thể được rút tiền mặt tại các máy rút tiền tự động hoặc các ngân hàng đại
lý; hoặc: Thẻ ngân hàng là một phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt mà chủ
thẻ có thể sử dụng để rút tiền mặt hoặc thanh toán chi phí mua hàng hoá, sử dụng dịch
vụ tại các điểm chấp nhận.
Theo quan điểm của luận án thì: Xuất phát từ thực tiễn qua quá trình phát triển
chức năng sử dụng của các loại thẻ hiện nay, dựa trên sự phát triển của công nghệ thì
mục đích sử dụng của thẻ không còn bó hẹp trong tình lĩnh vực cụ thể như lúc mới
hình thành. Với một tấm thẻ không chỉ dùng để thanh toán tại ĐVCNT để mua hàng
hoá dịch vụ, cũng không chỉ dùng để rút tiền mặt mà với một tấm thẻ, khách hàng có
thể vừa dùng để mua hàng, rút tiền mặt, chuyển khoản, xem sao kê tài khoản của mình
tại ngân hàng, giao dịch mua bán qua Internet, trả cước phí dịch vụ công cộng; chủ thẻ
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế các phương tiện thanh toán phi tiền mặt
trên ngày càng đựơc sử dùng rộng rãi trong giao dịch kinh doanh của các tổ chức kinh
tế. Tuy nhiên, các phương tiện thanh toán này mới chỉ giới hạn trong các giao dịch
kinh tế, ít được phổ biến trong đời sống sinh hoạt của đại bộ phận dân cư. Sự ra đời
của thẻ ngân hàng chính là nhằm đáp ứng nhu cầu giao dịch đơn lẻ của các cá nhân
nhằm từng bước dần thay thế tiền mặt trong giao dịch của xã hội.
Nhờ những thành tựu rực rỡ trong lĩnh vực công nghệ thông tin những năm gần
đây, công dụng của thẻ ngày càng được phát triển và mở rộng. Thẻ ngày càng thể hiện
8
vai trò to lớn của mình trong phát triển kinh tế xã hội. Điều này được thể hiện trên các
mặt sau:
Giảm khối lượng tiền mặt trong lưu thông: Là một phương tiện thanh toán
không dùng tiền mặt, vai tròđầu tiên của thẻ là giảm khối lượng tiền mặt trong lưu
thông. Ở các nước phát triển, thanh toán tiêu dùng bằng thẻ chiếm tỷ trọng lớn nhất
trong tổng số các phương tiện thanh toán. Nhờ vậy mà khối lượng cũng như áp lực tiền
mặt trong lưu thông giảm đáng kể.
Tăng nhanh khối lượng chu chuyển, thanh toán trong nền kinh tế: Hầu hết
mọi giao dịch thẻ trong phạm vi quốc gia hay toàn cầu đều được thực hiện và thanh
toán trực tuyến (online) vì vậy tốc độ chu chuyển, thanh toán nhanh hơn nhiều so với
những giao dịch thanh toán khác như: séc, uỷ nhiệm chi, uỷ nhiệm thu… Thay vì thực
hiện các giao dịch trên giấy tờ, với giao dịch thẻ, mọi thông tin đều được xử lý qua hệ
thống máy móc điện tử thuận tiện, nhanh chóng.
Thực hiện chính sách quản lý vĩ mô của nhà nước: Trong thanh toán thẻ,
các giao dịch đều nằm dưới sự kiểm soát của ngân hàng. Nhờ đó các ngân hàng có thể
dễ dàng kiểm soát được mọi giao dịch, tạo nền tảng cho công tác quản lý thuế của nhà
nước, thực hiện chính sách ngoại hối quốc gia. Thực tế hiện nay, mọi chế độ, chính
sách liên quan đến thẻ đều dựa trên chính sách quản lý ngoại hối của nhà nước.
* Mặt sau của thẻ bao gồm:
- Dãy băng từ có khả năng lưu trữ những thông tin như: số thẻ, ngày hiệu lực,
tên chủ thẻ, tên ngân hàng phát hành, số PIN.
- Băng chữ ký mẫu của chủ thẻ.
1.1.3. Phân loại thẻ
Sơ đồ 1.1: Phân loại thẻ
10
1.1.3.1. Phân loại theo đặc tính kỹ thuật
* Thẻ băng từ (Magnetic Stripe): được sản xuất dựa trên kỹ thuật từ tính với 1
băng từ chứa 2 rãnh thông tin ở mặt sau của thẻ. Thẻ này được sử dụng phổ biến trong
vòng 20 năm nay. Tuy nhiên nó có một số nhược điểm sau:
- Khả năng bị lợi dụng cao do thông tin ghi trong thẻ không tự mã hóa được,
người ta có thể đọc thẻ dễ dàng bằng thiết bị đọc gắn với máy vi tính.
- Thẻ mang tính thông tin cố định, khu vực chứa thông tin hẹp không áp dụng
các kỹ thuật mã đảm bảo an toàn. Do đó, trong những năm gần đây đã bị lợi dụng lấy
cắp tiền
* Thẻ thông minh (thẻ điện tử có bộ vi xử lí chip): là thế hệ mới nhất của thẻ
thanh toán, thẻ thông minh dựa trên kỹ thuật vi xử lý tin học nhờ gắn vào thẻ "chip" điện
tử có cấu trúc giống như một máy tính hoàn hảo. Thẻ thông minh an toàn và hiệu quả hơn
thẻ băng từ do "chip" có thể chứa thông tin nhiều hơn 80 lần so với dãy băng từ.
1.1.3.2. Phân loại theo chủ thể phát hành
* Thẻ do ngân hàng phát hành: là loại thẻ giúp cho khách hàng sử dụng linh
động tài khoản của mình tại ngân hàng, hoặc sử dụng một số tiền do ngân hàng cấp tín
dụng, loại thẻ này hiện nay được sử dụng khá phổ biến, nó không chỉ lưu hành trong
một số quốc gia mà còn có thể lưu hành trên toàn cầu (ví dụ như: thẻ VISA,
MASTER ).
khách hàng và là nguồn lợi nhuận quan trọng của ngân hàng. Trên thế giới hiện nay
phổ biến hai loại thẻ tín dụng được khác du lịch rất ưa chuộng là VISA và Mastercard.
Bên cạnh thẻ tín dụng thông thường, sau đây là một số hình thức thẻ tín dụng
khác được sử dụng trên thế giới:
Thẻ ngân sách (Budget Card)
Thẻ ngân sách là một hình thức riêng của thẻ tín dụng thường do các nhà bán lẻ
phát hành. Chủ thẻ hàng tháng phải trả tối thiểu một khoản tiền nhất định đã cam kết
trước và được cấp một hạn mức tín dụng lớn gấp một số lần khoản thanh toán cam kết
trước này. Ví dụ chủ thẻ cam kết hàng tháng sẻ trả tối thiểu là 10 Pounds và số nhân
của ngân hàng là 25 lần, như vậy chủ thẻ có một hạn mức tín dụng là 250 pounds. Thẻ
này khác thẻ tín dụng thông thường ở giới hạn mức tín dụng. Chủ thẻ cam kết với ngân
hàng sẽ thanh toán một khoản tiền cố định vào mỗi tháng bằng cách ghi nợ trực tiếp.
Hạn mức tín dụng mà chủ thẻ được cấp trong trường hợp này là khoản tiền chủ thẻ đã
cam kết sẽ trả ngân hàng hàng tháng.
Thẻ liên kiết (Co-branded Cards)
Đây là thẻ tín dụng được cơ sở phát hành thẻ kết hợp với tổ chức hoặc công ty có
tên tuổi đồng phát hành và thông thường, tên hoặc nhãn hiệu thương mại, logo của cơ
12
sở đồng phát hành này cũng đồng thời xuất hiện trên tấm thẻ như Ford/Barclaycard và
GM/HFC Card. Ngoài những đặc điểm sẵn có của thẻ ngân hàng thông thường, thẻ
liên kết có sức hấp dẫn hơn đối với khách hàng bởi chính những lợi ích phụ trội do cơ
sở đồng phát hành mang lại. Ví dụ, thẻ Visa co-brand do ngân hàng Standard
Chartered và Tập đoàn thời trang Espirit phát hành mang lại cho chủ thẻ những tiện
ích phụ trội riêng biệt như: được chăm sóc sắc đẹp miễn phí, giảm giá 20% cho tất cả
các mặt hàng hiệu Espirit trong 3 tháng đầu tiên, chương trình điểm thưởng tích luỹ
theo lượng tiền thanh toán bằng thẻ.
Thẻ tín dụng liên kết giữa một ngân hàng hay tổ chức tài chính với một tổ chức
đủ thanh toán, ngân hàng sẽ cấp cho chủ thẻ một mức thấu chi (Chi vượt quá số tiền
hiện có trên tài khoản). Với hình thức thấu chi, thẻ ghi nợ đã giúp cho cá nhân, doanh
nghiệp được cấp một khoản tín dụng ngắn hạn mà không cần làm nhiều thủ tục.
Đứng ở góc độ ngân hàng mà nói thì việc phát hành thẻ ghi nợ an toàn hơn vì
việc chi tiêu của chủ thẻ dựa trên số dư tiền gửi của chủ thẻ tại ngân hàng, như vậy
ngân hàng đỡ phải gánh chịu những rủi ro do việc khách hàng chi tiêu số tiền vượt quá
số tiền trong tài khoản của họ và nói về mức độ có thể thay thế tiền mặt. thẻ ghi nợ
chiếm ưu thế vượt trội hơn thẻ tín dụng.
Thẻ ghi nợ có hai loại cơ bản:
- Thẻ on-line là thẻ ghi nợ mà giá trị những giao dịch được khấu trừ ngay lập
tức vào tài khoản của chủ thẻ khi xuất hiện giao dịch.
- Thể off-line là thẻ ghi nợ mà giá trị những giao dịch sẽ được khấu trừ vào tài
khoản của chủ thẻ sau khi giao dịch được thực hiện vài ngày.
Một số dạng khác của thẻ ghi nợ
Thẻ tính tiền (Charge Card)
Là một hình thức thẻ ghi nợ nhưng thẻ tính tiền được phát hành theo phương
thức giống như thẻ tín dụng, tuy nhiên hàng tháng chủ thẻ phải hoàn trả đầy đủ hóa
đơn thanh toán. Thẻ này được nối mạng cùng hệ thống với thẻ tín dụng nhưng lệ phí
hàng năm lớn hơn lệ phí thẻ tín dụng, đặc biệt là đối với các loại thẻ vàng (Gold
Charge Card). Loại thẻ này có thể mang đến các lợi ích khác như ưu tiên đặt chỗ, mua
vé hay bao gồm phí bảo hiểm du lịch và thường do các tổ chức du lịch và giải trí như
Diners Club và American Express phát hành.
Thẻ rút tiền mặt (ATM Card)
ATM là viết tắt của cum từ (Automatic Tellers Machine) - có nghĩa là máy giao
dịch tự động. Thẻ rút tiền mặt là một hình thức của thẻ ghi nợ, thẻ này có chức năng
rút tiền mặt tại các máy ATM và có chức năng thanh toán tại các điểm chấp nhận thẻ
của các ngân hàng đã kết nối Internet banking ở trong nước
14
1.1.3.5. Phân loại theo phạm vi sử dụng của thẻ
* Thẻ dùng trong nước: Có 2 loại
- Local use only card: là loại thẻ do tổ chức tài chính hoặc ngân hàng trong
nước phát hành, chỉ được dùng trong nội bộ hệ thống tổ chức đó mà thôi.
15
- Domestic use only card: là thẻ thanh toán mang thương hiệu của tổ chức thẻ
quốc tế được phát hành để sử dụng trong nước.
* Thẻ quốc tế (International card): là loại thẻ không chỉ dùng tại quốc gia nơi
nó được phát hành mà còn dùng được trên phạm vi quốc tế. Để có thể phát hành loại
thẻ này thì ngân hàng phát hành phải là thành viên của một tổ chức thẻ quốc tế.
1.1.3.6. Phân loại theo mục đích sử dụng thẻ
* Thẻ cá nhân: đây là loại thẻ dùng cho mục đích thanh toán của cá nhân, chủ thẻ
chịu trách nhiệm thanh toán thông qua số tiền ký quỹ trong tài khoản cá nhân mở tại
ngân hàng.
* Thẻ công ty: đây là thẻ được phát hành cho các nhân viên công ty sử dụng,
công ty sở hữu thẻ và chịu trách nhiệm về việc sử dụng thẻ. Hàng tháng/quý/năm ngân
hàng phát hành sẽ cung cấp cho công ty những thông tin tóm tắt chi tiêu của các nhân
viên sử dụng thẻ công ty trong kỳ giúp cho công ty có thể quản lý chặt chẽ tình hình
chi tiêu vì mục đích công việc của nhân viên mình.Thẻ công ty có một số hình thức
như sau:
Thẻ du lịch (Travel cards/Corporate Cards)
Là một loại thẻ công ty chuyên dùng để trả tiền du lịch, giải trí, ăn uống và các chi
phí liên quan. Thẻ thường dùng để các cơ quan như trường học quản lý các khoản chi
tiêu của nhân viên thường xuyên phải đi công tác và dùng thẻ để xin chiết khấu với
khách sạn và hãng hàng không. Thẻ này cho phép đơn vị không phải ứng tiền mặt
trước cho nhân viên và nhân viên thì có thể sử dụng tín dụng cá nhân phục vụ mục
đích kinh doanh.