Hoàng Viết Thảo Quản lý đất đai
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn
1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Đất đai là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá, là tư liệu đặc biệt, là
thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn hoạt động
chủ yếu của nền kinh tế. Đất phục vụ cho phát triển Nông - Lâm nghiệp được
đánh giá theo tầng dày, độ phì của nó. Xói mòn đất là một hiện tượng phổ
biến trong mùa mưa thường xuyên xảy ra trên đất dốc, các lớp đất màu bị trôi
đi khiến cho đất đai mất độ phì nhiêu, làm giảm năng suất của cây trồng, gây
thiệt hại nghiêm trọng về kinh tế.
Xói mòn đất là quá trình phá huỷ lớp thổ nhưỡng (bao gồm cả phá huỷ
các thành phần cơ, lý, hoá, chất dinh dưỡng v.v của đất) dưới tác động của
các nhân tố tự nhiên và nhân sinh làm giảm độ phì của đất, gây ra bạc màu,
thoái hoá đất, laterit hoá, trơ sỏi đá v.v , ảnh hưởng trực tiếp tới sự sống và
phát triển của thảm thực vật rừng, thảm cây trồng khác.
Võ Nhai là huyện vùng cao nằm về phía Đông Bắc tỉnh Thái Nguyên
có tổng diện tích tự nhiên 84.5104,41 ha với dân số 58.900 người, với điều
kiện địa hình phức tạp nhiều đồi núi có độ dốc cao, giao thông đi lại khó
khăn, đồng thời tổng lượng mưa và cường độ mưa trong năm lớn. Đây chính
là nguyên nhân dẫn đến lượng đất đai bị xói mòn mạnh.
Có nhiều có nhiều phương pháp nghiên cứu, đánh giá xói mòn đất được
các tác giả trong và ngoài nước sử dụng để chống xói mòn đất như trồng cây
phòng hộ, thâm canh, cải tạo các hệ thống chắn nước, thoát nước Trong đó,
việc ứng dụng công nghệ hệ thống thông tin địa lý (GIS) là một phương pháp,
là công cụ mạnh có khả năng phân tích không gian trong thời gian ngắn. Công
nghệ GIS còn cho phép tích hợp phương trình mất đất tổng quát của
Wischmeier W.H và Smith D.D để tính toán và xây dựng bản đồ xói mòn đất
đắn bản chất hiện tượng và quá trình xói mòn đất đai.
Hoàng Viết Thảo Quản lý đất đai
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn
3
- Đề tài sau khi hoàn thành sẽ là minh chứng cho việc củng cố và áp
dụng các kiến thức chuyên môn đã học vào thực tiễn công tác.
* Về thực tiễn
- Luận văn ứng dụng hệ thống thông tin địa lý (GIS) trong việc nghiên
cứu xói mòn đất đai tại huyện Võ Nhai. Từ đó xây dựng bản đồ dự báo nguy
cơ xói mòn đất khu vực nghiên cứu làm cơ sở đề xuất một số giải pháp hạn
chế xói mòn đất.
4. Bố cục của luận văn
Luận văn bao gồm 2 phần và 3 chương
Phần mở đầu
Chương 1: Tổng quan tài liệu
Chương 2: Nội dung và phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Phần kết luận và đề nghị
Hoàng Viết Thảo Quản lý đất đai
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn
4
Chƣơng 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1. Cơ sở khoa học và tầm quan trọng của việc nghiên cứu xói mòn đất đai
Có nhiều định nghĩa về xói mòn đất, để phù hợp với khu vực nghiên
cứu, luận văn sử dụng định nghĩa của Nguyễn Quang Mỹ [6]: Xói mòn đất
(soil erosion) là quá trình phá hủy lớp thổ nhưỡng (bao gồm phá hủy các
tuyết tan và chịu ảnh hưởng của rất nhiều yếu tố tự nhiên, trong đó yếu tố địa
hình là quan trọng nhất [10].
1.2. Các nhân tố ảnh hƣởng đến quá trình xói mòn đất đai.
Các nhân tố chính ảnh hưởng đến quá trình xói mòn đất bao gồm: khí hậu,
địa hình, đất đai, thảm thực vật và con người được mô tả trong hình dưới đây:
A/h tích cực
A/h tiêu cực
A/h hai chiều
1.2.1. Ảnh hưởng của nhân tố khí hậu
Võ Nhai nằm trong vùng khí hậu đặc trưng của miền núi và trung du,
nhiệt độ trung bình hàng năm từ 23
0
- 24,5
0
C. Độ ẩm không khí trung bình
thay đổi từ 80% - 87%. Khí hậu Võ Nhai chia làm hai mùa rõ rệt, mùa mưa và
mùa khô. Mùa mưa vào khoảng tháng 3 đến tháng 9, nhiệt độ trung bình là
27
0
- 32
0
C, lượng mưa trung bình là 300 - 500 mm chiếm 50 - 70% lượng
mặt nước biển.
Địa hình là nhân tố tự nhiên ảnh hưởng lớn đến xói mòn đất. Nếu xét
trên diện rộng, địa hình có tác dụng làm thay đổi sự phân bố nhiệt và lượng
mưa rơi xuống. Sự thay đổi về độ cao kéo theo sự thay đổi về nhiệt độ, lượng
mưa, ẩm độ. Các yếu tố địa hình như độ dốc, chiều dài sườn dốc, hình dạng
(lồi, lõm, thẳng, bậc thang v.v ) mức độ chia cắt ngang của địa hình ảnh hưởng
trực tiếp đến xói mòn đất.
Độ dốc của sườn là yếu tố địa hình có ảnh hưởng lớn nhất đến quá trình
xói mòn. Độ dốc lớn làm tăng cường độ dòng chảy và do đó đẩy nhanh quá
trình rửa trôi, xói mòn đất, gây nên xói mòn mạnh hơn.
Chiều dài sườn dốc cũng là nhân tố ảnh hưởng đến quá trình xói mòn đất.
Chiều dài sườn càng tăng, khối lượng nước càng lớn, lớp nước càng dày, tốc độ và
năng lượng dòng chảy càng lớn thì quá trình rửa trôi, xói mòn đất xảy ra càng mạnh.
1.2.3. Ảnh hưởng của lớp phủ thực vật
Lớp phủ thực vật có ảnh hưởng đến quá trình xói mòn đất, nếu lớp phủ
thực vật càng tăng thì quá trình xói mòn đất càng giảm. Vai trò chống xói
Hoàng Viết Thảo Quản lý đất đai
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn
7
mòn của lớp phủ thực vật phụ thuộc vào tuổi và độ che phủ của nó. Thực vật
có khả năng bảo vệ đất chống xói mòn qua việc làm giảm ảnh hưởng của hạt
mưa xuống mặt đất bởi tán lá và làm cho nước có khả năng chảy xuống 50 -
60% theo chiều thẳng đứng của bộ rễ. Không những thế, vật rơi rụng của thực
vật như cành khô, lá rụng còn tạo ra lượng mùn lớn trong đất, giữ đất tơi
xốp, chống xói mòn.
1.2.4. Ảnh hưởng của đất đai
Đất là đối tượng bị dòng chảy mặt phá huỷ, bởi vậy sự phát triển của
xói mòn phụ thuộc vào tính chất và trạng thái của đất. Những yếu tố chính
của đất ảnh hưởng đến xói mòn đất là thành phần cơ giới, cấu trúc và độ thấm
nang cho các chuyên gia nông nghiệp sử dụng hữu hiệu trong phát triển nông
nghiệp ở Liên Xô (cũ). Trong các năm 1950 - 1960 hàng loạt các sách chuyên
khảo, sách giáo khoa của các tác giả N.N. Makkaveep (năm 1953), I.D. Brazil
(năm 1956), M.N. Zaslabski (năm 1964, 1966, 1987) bổ sung vào nguồn tài
liệu quý giá trong lĩnh vực nghiên cứu xói mòn đất của Liên Xô (cũ).
Trong các năm 70 của thế kỷ 20, ở Liên Xô (cũ) có 10 Viện và hàng
trăm trạm nghiên cứu xói mòn và chống xói mòn đã được xây dựng trên các
vùng lãnh thổ phát triển nông nghiệp của Liên Xô (cũ) nhằm hướng dẫn cho
nông dân phát triển nông lâm nghiệp hiện đại theo Luật bảo vệ đất đai khỏi
xói mòn.
Sau khi có nghị quyết của Đảng Cộng Sản và Chính phủ Liên Xô (cũ)
về “Bảo vệ đất khỏi xói mòn do gió và do nước”, hàng vạn công trình đã ra
mắt bạn đọc, đặc biệt các công trình của D.C. Zakharop (năm 1971),
N.I.Makkaveep (năm 1987) đã làm cho công cụ nghiên cứu xói mòn hiện đại
mang tính định lượng cao, đem lại hiệu quả lớn.
Từ năm 1980 đến nay đã có trên 10 nghìn đầu sách, báo viết về xói
mòn đất. Đây là những chỉ dẫn quan trọng cho sản xuất đất nông lâm nghiệp
có hiệu quả mang lại nhiều sản phẩm có chất lượng cao, sản lượng lớn khi sử
dụng đất đai ở Liên Xô (cũ) đúng mục đích [10].
2.1.2. Nghiên cứu xói mòn đất ở Mỹ
Diện tích ruộng đất của nước Mỹ là 906,40 triệu ha, trong đó đất rừng
chiếm gần 293 triệu ha. Một nguy cơ to lớn mà nhân dân Mỹ phải đối mặt là
nạn xói mòn đất, thậm chí nó đã được chính thức thừa nhận là tai hoạ của dân
Hoàng Viết Thảo Quản lý đất đai
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn
9
tộc. Trong thập niên gần đây giá trị tổn thất của tài nguyên đất và nguồn nước
đạt tới 4 tỉ đôla trong một năm, chưa kể đến những thiệt hại do mất chất dinh
dưỡng vì xói mòn đất. Thiệt hại do xói mòn đất được đánh giá đến 500 triệu đôla
kỷ XX. Những người di cư (chủ yếu là từ Châu Âu sang) đã bắt đầu áp dụng
những biện pháp làm đất phổ biến ở quê mình, việc cày ruộng hoang bằng cày
lật vỉa và việc sử dụng rộng rãi bừa đã tạo điều kiện cho sự phát triển của xói
mòn do gió, còn ở những vùng có địa hình đồi gò thì lại phát triển do nước.
Sự xói mòn do gió bắt đầu ngay sau khi đất hoang được cày lên và mỗi năm
một mạnh thêm đã bao trùm toàn bộ các vùng mới. Trong những năm 30 xói
mòn đã có một nguy cơ rộng lớn và trở thành vấn nạn thiên tai tầm cỡ quốc
gia. Trong quá trình nghiên cứu các nhà khoa học đã chứng minh rằng đất
không bị phá hoại ở những vùng có giữ được rạ (gốc thân) của cây nông
nghiệp hoặc đất đã được phủ bởi cỏ gieo hoặc cỏ tự nhiên. Loại trừ việc cày
bằng cày lật vỉa, người ta bắt đầu áp dụng máy xới cắt phẳng, máy xới lưỡi
nặng và cày ngả rạ loại đĩa, khi làm đất chúng sẽ trừ lại gốc không bị cày lên,
tiêu diệt được cỏ dại và tích trữ được độ ẩm cho đất. Ở đây tất cả mọi biện
pháp làm đất cũng như việc gieo cây nông nghiệp đều theo nguyên tắc là tiến
hành theo phương trực giao với các ngọn gió ưu thế.
Trong cuộc đấu tranh chống xói mòn do gió người ta áp dụng việc cày
cấy theo dải và vòng khoanh với các giải gieo trồng có chiều rộng từ 40 -
200m. Xen kẽ với các dải bỏ hoang, ở đó người ta giữ lại rạ cho đến khi xuất
hiện cây non ở dải bên cạnh. Một biện pháp triệt để nhất chống xói mòn do
gió và nước được phổ biến rộng rãi là việc gây rừng phòng hộ. Các dải rừng
phòng hộ thường được bố trí theo ranh giới đất quanh nhà [10].
2.1.4. Nghiên cứu xói mòn đất ở Pháp
Nước Pháp có khoảng 30% lãnh thổ là núi và miền cao, miền Bắc và
miền Tây là những miền đất thấp, rộng lớn. Đặc trưng của địa hình nơi đây là
đồi núi, miền đất cao và cao nguyên có độ mấp mô lớn, ổn định chống xói
Hoàng Viết Thảo Quản lý đất đai
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn
11
mòn yếu của tầng sườn tích - bồi tích là yếu tố chính làm cho quá trình xói
2.2.1. Giai đoạn trước năm 1945
Trong thời gian Việt Nam bị thực dân Pháp thống trị, hầu như không có
công trình nào về lĩnh vực xói mòn đất. Tuy nhiên vẫn có hàng loạt các công
trình chống xói mòn đất được xây dựng từ thực tế sản xuất và kinh nghiệm
sống của người nông dân, minh chứng rõ ràng nhất là hệ thống ruộng bậc
thang được xây dựng trên đất dốc của đồng bào các dân tộc H.Mông, Dao…ở
các vùng Đông Bắc, Tây Bắc Việt Nam.
Cộng đồng các dân tộc đã có ý thức xây dựng các công trình trên đất
dốc bằng gỗ chắn hoặc xây dựng ruộng bậc thang nhằm mục đích ngăn cắt
dòng chảy, giảm cường độ xói mòn để sản xuất nông nghiệp.
2.2.2. Giai đoạn từ năm 1945 - 1975
Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, hiệp định Giơnevơ được ký kết, hoà
bình được lập lại, cách mạng Việt Nam bước vào một giai đoạn mới. Hai
nhiệm vụ quan trọng được đặt ra là xây dựng Chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc
và tiếp tục làm cách mạng dân tộc, dân chủ ở miền Nam.
Trong thời gian đó tuy còn bề bộn công việc phải làm, sự nghiệp cách
mạng còn nhiều khó khăn, nhưng Nhà nước vẫn đặt ra nhiệm vụ cải tạo sử
dụng đất hợp lý mà trọng tâm là việc toàn dân làm thuỷ lợi.
Hội nghị tháng 2 năm 1963 của Bộ chính trị Đảng Lao Động Việt Nam
đã nêu rõ nhiệm vụ tiếp tục phát triển nông nghiệp ở miền núi cao, cho đây là
nhiệm vụ cơ bản để phát triển nông nghiệp cần chú ý bảo vệ và củng cố đất
dốc. Chú ý khai thác đất dốc phải gắn liền với bảo vệ rừng, bảo vệ đất khỏi
xói mòn là nhiệm vụ đặc biệt quan trọng, cấp bách và phức tạp.
Thực tế cho thấy trong điều kiện khí hậu nhiệt đới ẩm ở Việt Nam, xói
mòn do nước phát triển rộng rãi trên khắp các miền trung du và miền núi. Vì
thế bảo vệ đất khỏi xói mòn là nhiệm vụ chủ yếu trong chính sách phát triển nông
nghiệp miền núi.
Hoàng Viết Thảo Quản lý đất đai
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn
14
Ngoài ra các sách chuyên khảo được viết và dịch ra tiếng Việt cũng góp
phần không nhỏ cho công tác nghiên cứu xói mòn đất ở Việt Nam lúc bấy
giờ, chăng hạn như cuốn: “Bảo vệ đất khỏi xói mòn ở trung du và miền núi”
của Xôbôlep (năm 1962) hay công trình nghiên cứu của Lâm Công Định
(năm 1963), v.v… Số lượng công trình nhiều đã giải quyết được khá nhiều về
vấn đề nghiên cứu xói mòn đất ở Việt Nam, tuy vậy tính định lượng chưa cao.
2.2.3. Giai đoạn từ năm 1975 đến nay
Năm 1976 và 1981, trường Đại học tổng hợp Hà Nội (nay là trường Đại
học khoa học tự nhiên - Đại học Quốc gia Hà Nội) đã xây dựng trạm nghiên
cứu xói mòn đất Tây Nguyên tại Hàm Rồng - Pleicu - Gia Lai (năm 1976 -
1981) và trạm nghiên cứu xói mòn đất trung du (năm 1981 - 1997) tại xã Khải
Xuân, tỉnh Phú Thọ với 15 - 20 bãi bể nghiên cứu được xây dựng ở các địa
phương này.
Ngoài hai trạm nêu trên có trạm nghiên cứu xói mòn đất Thái Nguyên
của trường Đại học nông nghiệp III (nay là trường Đại học Nông Lâm Thái
Nguyên), trạm nghiên cứu Hữu Lũng của Viện Lâm nghiệp, trạm nghiên cứu
xói mòn đất của Viện nghiên cứu cà phê Đắc Lắc Ekmat ở Buôn Mê Thuột.
Việc xây dựng các trạm thực nghiệm quan trắc thu thập số liệu thực tế đã mở
đầu thời kỳ nghiên cứu xói mòn đất định lượng.
Các chương trình nghiên cứu tổng hợp Tây nguyên I (năm 1976 -
1980), Tây nguyên II (năm 1980 - 1985) và các chương trình nghiên cứu Tây
Bắc v.v… đã coi trọng công tác nghiên cứu xói mòn đất và đề ra các biện
pháp chống xói mòn đất thích hợp.
Đặc biệt trong các báo cáo chính trị Đại hội Đảng cộng sản Việt Nam
lần thứ IV, V, VI… đều khẳng định công tác nghiên cứu xói mòn và chống
xói mòn trên đất dốc có tầm quan trọng đặc biệt trong phát triển nông lâm
nghiệp ở trung du và miền núi. Trong phương hướng phát triển của các ngành
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn
16
Chƣơng 2
NỘI DUNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
2.1.1. Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu yếu tố xói mòn đất và xây dựng bản đồ dự báo nguy cơ xói
mòn đất tại huyện Võ Nhai tỉnh Thái Nguyên.
2.1.2. Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu nguy cơ xói mòn đất dựa trên 3 yếu tố cơ bản là độ dốc, kết
cấu đất và độ che phủ đất đai của huyện Võ Nhai tỉnh Thái Nguyên.
2.2. Nội dung nghiên cứu
2.2.1. Đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế và xã hội của huyện Võ Nhai
2.2.2. Xác định bộ tiêu chuẩn đánh giá xói mòn đất bằng công nghệ GIS
Trên cơ sở tổng hợp các điều kiện về tự nhiên của khu vực nghiên cứu bằng
công nghệ GIS, từ đó chỉ ra kết quả dự báo và phân cấp nguy cơ xói mòn.
- Các nhân tố tham gia xác định mức độ nguy cơ xói mòn bao gồm:
+ Độ dốc: Mức độ xói mòn dựa trên sự phân cấp độ dốc của khu vực
nghiên cứu.
+ Độ che phủ: Các loại hình sử dụng đất với mức độ che phủ có ảnh
hưởng đến mức độ xói mòn.
+ Kết cấu đất: Các loại đất khác nhau có mức độ kết cấu khác nhau và
mức độ xói mòn khác nhau.
2.2.3. Chồng ghép bản đồ, xây dựng bản đồ dự báo nguy cơ xói mòn đất
2.2.3.1. Quy trình thực hiện việc xây dựng bản đồ
* Quy trình thực hiện việc xây dựng bản đồ độ dốc.
* Quy trình thực hiện việc xây dựng bản đồ đất dạng lưới.
* Quy trình thực hiện việc xây dựng bản đồ che phủ.
Hoàng Viết Thảo Quản lý đất đai
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn
18
Chƣơng 3
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1. Đặc điểm của địa bàn nghiên cứu
3.1.1. Điều kiện tự nhiên
3.1.1.1. Vị trí địa lý
Võ Nhai là một huyện vùng cao, nằm phía Đông Bắc của tỉnh Thái
Nguyên, cách trung tâm thành phố Thái Nguyên 40km, có toạ độ địa lý
105
0
45 - 106
0
17 kinh độ Đông và 21
0
36 - 21
0
56 vĩ độ Bắc.
- Phía Đông giáp huyện Bắc Sơn (Lạng Sơn)
- Phía Tây giáp huyện Đồng Hỷ và huyện Phú Lương
- Phía Nam giáp Đồng Hỷ và huyện Yên Thế (Bắc Giang)
- Phía Bắc giáp huyện Na Rì (Bắc Kạn)
Toàn huyện có 11 xã vùng cao, 3 xã vùng núi và một thị trấn được chia
làm 3 tiểu vùng.
Tổng diện tích đất tự nhiên trên toàn huyện 84.510,41 ha, phần lớn diện
tích là đất dốc, núi đá vôi, diện tích đất bằng phẳng thuận tiện cho sản xuất
nông nghiệp chiếm tỷ lệ nhỏ, chủ yếu là các thung lũng nhỏ hẹp nằm xen giữa
giao lưu hàng hoá trong và ngoài huyện.
Căn cứ vào địa hình, địa mạo và đất đai huyện chia làm 3 tiểu vùng có
những đặc điểm sau:
+ Tiểu vùng 1: Gồm 6 xã (Nghinh Tường, Thượng Nung, Cúc Đường,
Thần Xa, Vũ Chấn, Sảng Mộc), địa hình núi dốc cao, phần lớn là núi đá vôi
(72%), độ dốc lớn (đa phần từ 25
0
trở lên). Một số vùng phân bố dọc theo các
khe suối và thung lũng có độ dốc từ 0
0
- 25
0
là vùng thích hợp để sản xuất
nông nghiệp, lâm nghiệp theo hướng nông lâm kết hợp và trồng cây đặc sản.
+ Tiểu vùng 2: Gồm 3 xã (La Hiên, Lâu Thượng, Phú Thượng) và thị
trấn Đình Cả có dạng địa hình tương đối bằng phẳng chạy dọc theo quốc lộ
1B với hai bên là hai dãy núi có độ dốc lớn. Đất đai đã sử dụng chủ yếu vào
nông nghiệp, phát triển ngành công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng.
+ Tiểu vùng 3: Gồm 5 xã (Tràng Xá, Liên Minh, Dân Tiến, Bình Long,
Phương Giao) có địa hình bát úp bị chia cắt bởi nhiều khe suối, sông và xen
lẫn núi đá vôi, các soi bãi ven sông địa hình thấp và tương đối bằng phẳng
hơn các xã vùng 1. Độ dốc từ 10
0
- 20
0
thích hợp để phát triển cây hàng năm,
cây công nghiệp ngắn ngày và cây ăn quả.
Hoàng Viết Thảo Quản lý đất đai
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn
súc. Mùa khô từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau, nhiệt độ trung bình 17
0
- 21
0
C
có lúc xuống thấp đến 12
0
C. Mùa này ít mưa, thường hay hạn hán và có
những đợt gió thổi mạnh theo hướng Bắc kèm theo thời tiết lạnh, đôi khi có
sương muối kéo dài rét đậm gây ảnh hưởng đến sản xuất nông, lâm nghiệp.
Nhìn chung điều kiện thời tiết, khí hậu của Võ Nhai khá thuận lợi cho
việc phát triển các loại vật nuôi và các loại cây lâu năm như: vải, nhãn, xoài, cam,
quýt, na
Hoàng Viết Thảo Quản lý đất đai
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn
23
Bảng 3.1: Một số đặc điểm khí hậu thuỷ văn huyện Võ Nhai
Các
yếu tố
Tháng
Nhiệt độ (
0
C)
Lƣợng mƣa (mm)
trung
bình
(m/s)
1
14,9
19,4
3,0
29,7
8,2
80
75
1,7
2
17,4
20,2
4,3
36,5
10,5
82
64,1
1,8
3
21,7
22,9
6,1
69,5
16,1
85
62,7
1,8
20,6
441,1
17,8
86
93,5
1,6
8
28,7
32,3
21,7
391,8
18,9
86
77,8
1,4
9
26,1
31,4
16,3
257,0
12,3
86
84,2
1,4
10
24,4
29,1
10,2
67,8
7,8
(Nguồn: Niên giám thống kê huyện Võ Nhai 2010)
Hoàng Viết Thảo Quản lý đất đai
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn
24
* Nhiệt độ (
0
C)
0
5
10
15
20
25
30
35
40
1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12
Tháng
Hình 3.3: Nhiệt độ trung bình các tháng trong năm huyện Võ Nhai
* Lượng mưa (mm)
0
50
100
150
200
250
300
350
400
khoảng 60.000 tấn.
- Khoáng sản vật liệu xây dựng
Khoáng sản vật liệu xây dựng như: đá xây dựng, đá sét, cát sỏi. Đặc biệt
có sét xi măng ở Cúc Đường có trữ lượng lớn và chất lượng tốt.
Nhóm khoáng sản lớn nhất phải kể đến là đá Cacbonnat bao gồm đá vôi
xây dựng, đá vôi xi măng, đôlômit với các mỏ khác ở núi Voi, La Giang và La
Hiên được xác định có trữ lượng khoảng 222 triệu tấn.
Ngoài các khoáng sản trên, Võ Nhai còn có nhiều loại sét làm gạch ngói,
cát dùng cho xây dựng, đá bùn, đá răm dùng làm đường giao thông.