một số giải pháp nâng cao hiệu quả tín dụng tại nhtmcp sài gòn công thương, trong điều kiện cạnh tranh trên thị trường tiền tệ việt nam hiện nay - Pdf 22

MỤC LỤC
2.1. Tổng quan về NHTMCP Sài Gòn Công Thương 46
2.1.1.Sự hình thành và phát triển 46
2.1.2.Tổ chức bộ máy 47
2.1.3.Chức năng nhiệm vụ 48
3.2. Một số giải pháp nâng cao hiệu quả tín dụng tại NHTMCP Sài Gòn
Công Thương, trong điều kiện cạnh tranh tự do trên thị trường tiền tệ Việt
Nam 93
3.2.1.Nâng cao năng lực cạnh tranh của NHTMCP Sài Gòn công thương
93
3.2.2. Nâng cao hiệu quả huy động vốn 98
3.2.3. Nâng cao HQCV và đầu tư 100
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU
SƠ ĐỒ
2.1. Tổng quan về NHTMCP Sài Gòn Công Thương 46
2.1.1.Sự hình thành và phát triển 46
2.1.2.Tổ chức bộ máy 47
(Nguồn: Phòng hành chính- chi nhánh ngân hàng TMCP Sài Gòn Công Thương
Hà Nội) 48
2.1.3.Chức năng nhiệm vụ 48
3.2. Một số giải pháp nâng cao hiệu quả tín dụng tại NHTMCP Sài Gòn
Công Thương, trong điều kiện cạnh tranh tự do trên thị trường tiền tệ Việt
Nam 93
3.2.1.Nâng cao năng lực cạnh tranh của NHTMCP Sài Gòn công thương
93
3.2.2. Nâng cao hiệu quả huy động vốn 98
3.2.3. Nâng cao HQCV và đầu tư 100
Bảng 3.1. Kết quả cho vay của NHTMCP Sài Gòn Công Thương 102
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của luận văn
Cùng với xu thế phát triển chung của nền kinh tế thế giới, lĩnh vực tài

- Thực trạng cạnh tranh trong hoạt động tín dụng giữa các NHTM Việt
Nam hiện nay
- Nghiên cứu, phân tích và đánh giá một số chỉ tiêu tín dụng giữa các
ngân hàng hiện nay.
- Đề tài nghiên cứu nhằm mục đích đề ra một số giải pháp nâng cao
hiệu quả tín dụng của NHTMCP Sài Gòn Công Thương trong điều kiện cạnh
tranh trên thị trường tiền tệ Việt Nam hiện nay.
3. Đối tượng và phạm nghiên cứu của đề tài:
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài: Đề tài tập trung nghiên cứu các
giải pháp nâng cao hoạt động tín dụng của ngân hàng TMCP Sài Gòn Công
Thương trong điều kiện cạnh tranh
- Phạm vi nghiên cứu của đề tài: hoạt động tín dụng của các ngân
hàng trong thị trường tiền tệ của Việt Nam.
Đề tài không đi sau vào nghiên cứu các nghiệp vụ khác của các ngân
hàng, cũng như chi tiết các nghiệp vụ tín dụng của các ngân hàng mà chỉ quan
tâm đến các giải pháp nhằm nâng cao hoạt động tín dụng của ngân hàng
TMCP Sài Gòn Công Thương.
4. Phương pháp nghiên cứu đề tài:
Đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu là duy vật biện chứng và duy
vật lịch sử là chủ yếu. Cùng với đó là các phương pháp như phương pháp
tổng hợp, phương pháp phân tích, phương pháp so sánh, phương pháp thống
kê và dự báo… để nghiên cứu đối tượng của đề tài.
2
5. Những đóng góp của luận văn:
- Hệ thống hóa được các lý luận hoạt động tín dụng của các ngân hàng
trong điều kiện cạnh tranh
- Xây dựng các giải pháp nhằm nâng cao hoạt động tín dụng của các
ngân hàng TMCP Sài Gòn Công Thương nói riêng và các ngân hàng
thương mại nói chung trong điều kiện cạnh tranh trong thị trường tiền tệ
của Việt Nam

khoán, tham gia các hoạt động bảo hiểm, đầu tư vào quỹ tương hỗ và thực
hiện nhiều dịch vụ môi giới khác.
Ngân hàng là các tổ chức tài chính cung cấp danh mục các dịch vụ tài
chính đa dạng nhất, đặc biệt là tín dụng, thanh toán và thực hiện nhiều chức
năng tài chính nhất so với bất kỳ tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế.
Luật các tổ chức tín dụng của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ghi
“ Hoat động ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng
với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi và sử dụng số tiền vay này để cấp
tín dụng số tiền vay này để cấp tín dụng và cung cấp các dịch vụ thanh toán”
Ngân hàng thương mại .( NHTM) được hiểu theo nhiều cách khác nhau
ở các nước trên thế giới thì khái niệm này dùng để chỉ một số tổ chức tài
4
chính- tiền tệ mà hoạt động kinh doanh chủ yếu của nó là nhận tiền gửi từ các
cá nhân hay các tổ chức kinh tế, cho các tổ chức này vay lại. Các ngân hàng
không được phép kinh doanh tổng hợp các dịch vụ khác như đầu tư tàic hính,
cung caaos dịch vụ cho các nhóm ngành nghề riêng biệt. Trong khi đó ở một
số nước khác thì lại cho rằng ngân hàng thương mại là ngân hàng được phép
kinh doanh tổng hợp các loại dịch vụ ngân hàng.
Do đó, ở Việt Nam các ngân hàng thương mại thường được hiểu như
một ngân hàng thực hiện các dịch vụ tổng hợp dề kinh doanh tiền tệ như nhận
gửi của khách hàng để cho vay, cung cấp lại vốn đầu tư… và chịu sự giám sát
chặt chẽ của nhà nước.
Ngân hàng thương mại là một doanh nghiệp đặc biệt, hoạt động và kinh
doanh trên lĩnh vực tiền tệ và tín dụng, không trực tiếp sản xuất ra của cải vật
chất như các doanh nghiệp thuộc lĩnh vực sản xuất- kinh doanh nhưng tạo điều
kiện thuận lợi cho quá tình sản xuất, lưu thông và phân phối sản phẩm xã hội
bằng cách cung ứng vốn tín dụng, vốn đầu tư cho các doanh nghiệp, tổ chức
kinh tế mở rộng kinh doanh, góp phần tăng nhanh tốc độ phát triển kinh tế.
Ngân hàng thương mại đã hình thành và phát triển hàng trăm năm gắn
liền với sự phát triển của kinh tế hàng hóa. Sự phát triển hệ thống ngân hàng

Ngân hàng kinh doanh tiền tệ dưới hình thức huy động, cho vay đầu tư
và cung cấp các dịch vụ khác. Huy động vốn – hoạt động tạo nguồn vốn cho
ngân hang thương mại đóng vai trò quan trọng ảnh hưởng đến chất lượng hiệu
quả hoạt động của ngân hàng.
Bản chất của vốn huy động là tài sản thuộc các chủ sở hữu khác nhau, ngân
hàng chỉ có quyền sử dụng mà không có quyền sở hữu và có trách nhiệm hoàn
trả cả gốc và lãi đến kỳ hạn ( đối với tiền gửi có kỳ hạn) hoặc khi họ có nhu cầu
6
rút vốn để chi trả ( đối với tiền gửi không có kỳ hạn). Vốn huy động đóng vai trò
rất quan trọng đối với mọi hoạt động kinh doanh của NHTM.
Hoạt động huy động vốn luôn biến động, nên ngân hàng không được
phép sử dụng hết số vốn đó vào kinh doanh mà phải dự trữ với một tỷ lệ hợp
lý để đảm bảo khả năng thanh toán. Huy động vốn bao gồm các nguồn:
1.1.1.1. Huy động vốn từ tiền gửi.
Để huy động vốn, các ngân hàng đã cung cấp rất nhiều loại tiền gửi khác
nhau cho khách hàng lựa chọn. Mỗi công cụ huy động tiền gửi mà các ngân
hàng đưa ra đều có những đặc điểm riêng nhằm làm cho chúng phù hợp hơn
với nhu cầu của khách hàng trong việc tiết kiệm và thực hiện thanh toán. Căn
cứ vào nguồn hình thành, vốn tiền gửi của các NHTM bao gồm tiền gửi của tổ
chức kinh tế, tiền gửi dân cư và tiền gửi khác.
- Tiền gửi của tổ chức kinh tế.
Trong quá trình sản xuất kinh doanh, các tổ chức kinh tế thường có một
bộ phận vốn nhàn dỗi tạm thời như: khấu hao đã trích nhưng chưa đến lúc sử
dụng, tiền thu bán hàng chưa phải mua nguyên liệu, trả lương, các quỹ đầu tư
phát triển, phúc lợi khen thưởng đã trích nhưng chưa sử dụng đến…Để đảm
bảo an toàn tài sản và đồng vốn vẫn sinh lời, các tổ chức kinh tế có thể gửi số
vốn đó vào ngân hàng. Hoặc để thuận tiện cho quá trình sử dụng vốn, đơn vị
có thể thanh toán qua ngân hàng cũng như sử dụng các dịch vụ ngân hàng
khác. Khi đó họ cần phải gửi vốn vào ngân hàng. Tổ chức kinh tế có thể gửi
vốn vào ngân hàng dưới hình thức: Tiền gửi không kỳ hạn và tiền gửi có kỳ

thanh toán. Tiền gửi của dân cư bao gồm hai loại : tiền gửi tiết kiệm và tiền
gửi thanh toán.
+ Tiền gửi tiết kiệm
Đây là hình thức huy động vốn truyền thống của ngân hàng. Với loại tiền
gửi này, người gửi được ngân hàng giao cho một sổ tiết kiệm, trong thời gian
8
gửi tiền, sổ tiết kiêm có thể dùng làm vật cầm cố hoặc được chiết khấu để vay
vốn ngân hàng.
Tiền gửi tiết kiệm bao gồm: Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn và tiền gửi
tiết kiệm có kỳ hạn với các chuy kỳ khác nhau.
- Tiền gửi thanh toán.
Các cá nhân trong xã hội cũng có nhu cầu và được pháp luật cho phép
thanh toán qua ngân hàng. Khi đó họ cũng mở tài khoản tiền gửi thanh toán
tại ngân hàng và gửi tiền vào đó để đáp ứng nhu cầu thanh toán cũng như để
sử dụng những tiện ích khác cí liên quan của ngân hàng.
Giống như tiền gửi của các tổ chức kinh tế, tiền gửi tiết kiệm ( kể cả
không kỳ hạn và có kỳ hạn) và tiền gửi thanh toán của dân cư tạo nên nguồn
vốn hoạt động của NHTM.
- Tiền gửi khác
Ngoài hai loại tiền gửi trên tại các ngân hàng thương mại còn có thêm
các khoản tiền gửi khác như:
Tiền gửi của các tổ chức tín dụng khác
Tiền gửi của Kho bạc nhà nước
Tiền gửi của các tổ chức đoàn thể xã hội…
1.1.1.2 Huy động vốn thông qua phát hành giấy tờ có giá.
Trái phiếu ngân hàng: Là một cam kết xác nhận nghĩa vụ trả nợ ( cả gốc
và lãi) của ngan hàng phát hành đối với người chủ sở hữu trái phiếu. Mục
đích của ngân hàng khi phát hành trái phiếu là nhằm huy động vốn trung và
dài hạn. Việc phát hành trái phiếu, các NHTM chịu sự quản lý trên thị trường
chứng khoán và có thể bị chi phối bởi uy tín của ngân hàng.

thừa, thiếu vốn, đó là huy động vốn nhưng chưa cho vay hết, hay khi khách
10
hành có nhu cầu vay lớn nhưng nguồn vốn lại không đủ, hoăc người gửi rút
tiền trước thời hạn trong khi đó vốn cho vay chưa đến lúc thu hồi. Khi đó các
NHTM có thể gửi vào các tổ chức tín dụng ( TCTD) khác để hưởng lãi, hay đi
vay vốn để tận dụng cơ hội kinh doanh hoặc đảm bảo khả năng thanh toán.
NHTM có thể vay vốn ở các TCTD khác hoặc vay vốn ở ngân hàng trung
ương.
Vốn vay của tổ chức tín dụng khác
Hầu hết các NHTM được tổ chức thành hệ thống gồm nhiều chi nhánh
và hạch toán kinh doanh toàn ngành, thực hiện điều chuyển vốn giữa các chi
nhánh qua hội sở chính, khi thiếu vốn các chi nhánh nhận được vốn điều
chuyển từ hội sớ chính. Vì vậy việc vay vốn của TCTD khác trong và ngoài
nước thường chỉ thực hiện ở ngân hàng trung ương của từng hệ thống.
Vốn vay của ngân hàng trung ương
Ngân hàng trung ương là ngân hàng của các ngân hàng và là ngân hàng
cho vay cuối cùng trong nền kinh tế. Vì vậy, các NHTM có thể được ngân
hàng trung ương cho vay vốn khi cần thiết. Ở Việt Nam hiện nay ngân hàng
nhà nước ( NHNN) cho các NHTM vay vốn ngắn hạn dưới hình thức sau:
- Chiết khấu, tái chiết khấu thương phiếu và cá giấy tờ có giá trị ngắn hạn .
- Cho vay có đảm bảo bằng cầm cố thương phiếu và các giấy tờ có giá
ngắn hạn khác.
Ngoài ra, HNNN còn cho NHTM vay bổ sung vốn thiếu hụt trong thanh
toán bù trừ. Trong trường hợp đặc biệt, khi được Thủ tướng Chính phủ chấp
thuận, NHNN tạm thời mất khả năng chi trả, có nguy cơ gây mất an toàn cho
hệ thống.
Vốn vay của TCTD khác là vay của ngân hàng trung ương thường
chiếm tỉ trọng nhỏ trong tổng vốn kinh doanh của NHTM, cho nên ngoài tác
dụng góp phần gia tăng nguồn vốn, mở rộng kinh doanh của ngân hàng, nó
11

nghiệp, cho vay xây dựng nhà ở hoặc mua sắm hàng tiêu dùng có giá trị lớn
của cá nhân. Loại cho vay này có độ rủi ro không cao vì ngân hàng có thể tính
toán được những biến động có thể xảy ra.
+ Cho vay dài hạn: Là loại cho vay có thời hạn trên 60 tháng, được sử dụng
để cho vay các dự án đầu tư xây dựng mới, cải tiến và mở rộng sản xuất có quy
mô lớn. Loại cho vay này có độ rủi ro cao vì ngân hàng không thể dự đoán được
hết những biến động xảy ra trong một thời gian dài thực hiện dự án.
- Phân loại theo chủ thể cho vay
+ Cho vay thương mại: Là hoạt động cho vay mà NHTM cung cấp vốn
cho khách hàng, doanh nghiệp, đáp ứng nhu cầu về vốn phục vụ sản xuất kinh
donah của các doanh nghiệp. Cho vay thương mại là hoạt động ra đời tương
đối sớm. Ngay ở thời kỳ đầu, các ngân hàng đã triết khấu thương phiếu mà
thực tế là cho vay đối những người bán ( người bán chuyển các khoản phải
thu cho ngân hàng để lấy tiền trước). Sau đó ngân hàng cho vay trực tiếp đối
với các khách hàng ( là người mua), giúp họ có vốn để mua hàng dự trữ nhằm
mở rộng sản xuất kinh doanh.
+ Cho vay ngân hàng: Là hình thức cho vay thể hiện mối quan hệ cho
vay giữa ngân hàng với doanh nghiệp, cá nhân, tổ chức xã hội….
+ Cho vay Nhà nước: Là hình thức cho vay thể hiện mối quan hệ giữa
Nhà nước với các doanh nghiệp, cá nhân, tổ chức xã hội….Nhà nước vừa là
người vay vừa là người cho vay.
- Phân loại theo mục đích sử dụng vốn vay
+ Cho vay tiêu dùng: Là hoạt động cho vay mà các NHTM cung cấp vốn
cho đối tượng khách hàng là các cá nhân và các hộ gia đình nhằm thỏa mãn
nhu cầu mua sắm sinh hoạt hàng ngày. Khác với cho vay kinh doanh, ở đây
13
người đi vay sử dụng tiền vay vào các hoạt động không sinh lời, nguồn trả nợ
độc lập so với việc sử dụng tiền vay, vì thế nó có đặc điểm sau:
Lãi suất của các khoản cho vay tiên dùng cao hơn cho vay kinh doanh.
Điều này xuất phát từ các khoản cho vay tiêu dùng có rủi ro và chi phí cao

bảo lãnh bằng tài sản của bên thứ ba. Việc cho vay có tài sản bảo đảm áp
dụng đối với khách hàng không có uy tín cao đối với ngân hàng.
+ Cho vay không có bảo đảm bằng tài sản: NHTM cho vay dựa vào uy
tín của khách hàng, đó là người trung thực trong kinh doanh, khả năng tài
chính lành mạnh, có tín nhiệm với ngân hàng trong việc sử dụng vốn vay,
hoàn trả nợ vay….
- Phân loại cho vay theo lãnh thổ hoạt động
+ Cho vay nội địa: Là loại cho vay phát sinh trong phạm vi lãnh thổ
quốc gia
+ Cho vay quốc tế: Là loại cho vay phát sinh giữa các quốc gia với nhau
hoặc giữa quốc gia với tổ chức tài chính cho vay quốc tế.
- Ngoài các cách phân loại trên còn có các loại cho vay sau:
+ Cho vay theo hạn mức thấu chi:
Đây là nghiệp vụ mà ngân hàng thỏa thuận bằng văn bản chấp thuận
cho khách hàng chi vượt quá số dư có trên tài khoản tiền gửi thanh toán với
một hạn mức nhất đinh và trong một thời hạn quy định.
+ Cho vay theo hạn mức tín dụng dự phòng: Cho vay theo hạn mức tín
dụng dự phòng là việc ngân hàng cam kết đảm bảo sẵn sang cho khách hàng
vay vốn trong một hạn mức nhất định, trong một khoản thời gian nhất định.
Khách hàng phải trả chi phí cam kết cho ngân hàng trên cơ sở hạn mức tín
dụng đang sử dụng.
15
+ Cho vay nghiệp vụ phát hành va sử dụng thẻ tín dụng: Ngân hàng chấp
thuận cho khách hàng được sử dụng số vốn vay trong phạm vu hạn mức tín
dụng của thẻ để thanh toán tiền mua hàng hóa, dịch vụ và rút tiền rút tiền mặt
tại máy rút tiền tự động.
1.1.2.2 Nghiệp vụ đầu tư:
Khái niệm về đầu tư: Đầu tư là nghiệp vụ theo đó NHTM bỏ vốn kinh
doanh vào các lĩnh vực, NHTM sẽ trở thành người sở hữu các tài sản theo tỷ
lệ góp vốn. Các lĩnh vự đầu tư:

quyền ( bên được bảo lãnh) khi khách hàng không thực hiện hoặc thực hiện
khong đúng nghĩa vụ đã cam kết với bên nhận bảo lãnh. Khách hnag phải
nhận nợi và hoàn trả nợ cho tổ chức tín dụng số tiền đã được trả thay.
Nghiệp vụ bảo lãnh bao gồm các loại sau: Bảo lãnh vay vốn, bảo lãnh
thanh toán, bảo lãnh dự thầu, bảo lãnh thực hiện hợp đồng…
- Nghiệp vụ mua bán ngoại tệ
Một trong những dịch vụ ngân hàng đầu tiên được thực hiện là trao đổi
( mua bán ngoại tệ): mua bán một loại tiền này lấy một loại tiền khác, và
hưởng phí dịch vụ. Các NHTM không chi mua bán ngoại tệ ở trong nước mà
con kinh doanh mua bán ngoại tệ trên thị trường quốc tế để hưởng chênh lệch
tỷ giá, tại những thị trường khác nhau và thời điểm khác nhau.
- Nghiệp vụ cung cấp các tài khoản giao dịch và thực hiện thanh toán.
Khi khách hàng gửi tiền vào ngân hàng, ngân hàng không chỉ bảo quản
mà còn thực hiện các lệnh chi trả cho khách hàng. Thanh toán qua ngân hàng
đã mở đầu cho thanh toán không dùng tiền mặt, tức à người gửi tiền không
cần phải đến ngân hàng để lấy tiền mà chỉ cần viết giấy chi trả cho khách
hàng mang giấy đến ngân hàng sẽ nhận được tiền.
1.1.2.3 Các nghiệp vụ sử dụng vốn khác
17
- Nghiệp vụ ủy thác và tư vấn
Do tính chuyên môn hóa cao, đội ngũ cán bộ có trình độ cao và có nhiều
kinh nghiệm trong lĩnh vực tài chính nên các NHTM được các doanh nghiệp
nhờ quản lý tài sản và quản lý hoạt động tài chính của mình. Dịch vụ ủy thác
phát triển sang cả ủy thác vay hộ, ủy thác cho vay hộ, ủy thác đầu tư…thậm
chí được ủy thác ngay cả trong di chúc. Nhiều khách hàng còn coi ngân hàng
như một chuyên gia tư vấn tài chính cho họ.
- Nghiệp vụ bảo hiểm.
NHTM bán bảo hiểm cho khách hàng, đảm bảo hoàn trả cho khách hàng
trong trường hợp khách hàng bị rủi ro như chết, tai nạn, bệnh hiểm nghèo…
- Nghiệp vụ đại lý

hình thức tín dụng.
1.1.3.3 Tín dụng ngân hàng là một công cụ để Nhà nước tiến hành điều hòa,
lưu thông tiền tệ và từ đó điều chỉnh vĩ mô nền kinh tế.
Ngân hàng bằng các nghiệp vụ của mình có thể huy động vốn hoặc cung
cấp vốn cho nền kinh tế, phù hợp với sự phát triển kinh tế nên có thể điều hòa
lượng tiền tệ trong lưu thông góp phần thực hiện chính sách tài chính quốc
gia. Hơn nữa ngân hàng với các nghiệp vụ thanh toán không dùng tiền mặt
cũng góp phần ổn định lưu thồng tiền tệ. Nhà nước cũng sử dụng chính sách
tín dụng như một đòn bẩy kinh tế quan trọng thúc đẩy sản xuất phát triển thực
hiện kiểm soát và phân công kinh tế, điều chỉnh sự phát triển và cơ cấu của
toàn bộ nền kinh tế quốc dân.
1.1.3.4 Tín dụng ngân hàng có tác dụng quan trọng trong việc tổ chức quản
lý, sử dụng vốn một cách có hiệu quả nhất.
Nhờ kênh tín dụng ngân hàng mà nhu cầu vốn khả năng tự có của chủ
đầu tư được đáp ứng kịp thời. Do tín dụng là quan hệ vay mượn có lợi tức trả
thêm nên nó đòi hỏi người sử dụng vốn phải hoạt động kinh doanh có hiệu
19
quả cao nhất có thể. Khi sử dụng vốn vay của ngân hàng, doanh nghiệp buộc
phải chú ý đến việc tích cực giảm chi phí sản xuất, tăng năng suất lao động,
tăng nhanh quay vòng vốn …để có doanh lợi cao, sau khi hoàn trả cho ngân
hàng vốn đã vay cùng lãi vay vẫn còn lợi nhuận của doanh nghiệp.
1.1.3.5 Tín dụng ngân hàng thúc đẩy quá trình mở rộng mối quan hệ giao lưu
kinh tế quốc tế.
Ngày nay, trong các mối quan hệ kinh tế, sự hợp tác bình đẳng cùng có
lợi giữa các tổ chức kinh tế, cac nước trên thế giới và cả trong khu vực đang
phát triển rất đa dạng cả về nội dung lẫn hình thức. Đây là nhân tố quan trọng
tạo điều kiện cho sự phát triển kinh tế quốc gia, đặc biệt là đối với các nước
đang phát triển. Đầu tư vốn ra nước ngoài và kinh doanh hàng hóa xuất nhập
khẩu là hai lĩnh vực hợp tác kinh tế thông dụng trong đó vốn là nhân tố quyết
định cho sự thành công. Nhưng không thể có một tổ chức hay cá nhân nòa tự

hội, biến chúng thành những đồng vốn mang lại hiệu quả kinh tế xã hội.
Để đạt được điều đó thì ngân hàng phải có công tác huy động vốn phù hợp
và có hiệu quả. Hiệu quả của công tác huy động vốn phải xuất phát từ nhu cầu
kinh doanh của ngân hàng. Vốn huy động của ngân hàng phải có sự tăng trưởng,
ổn định về số lượng để có thể thỏa mãn các nhu cầu cho vay, thanh toán cũng
như hoạt động kinh doanh khác ngày càng tăng của ngân hàng.
Tuy nhiên vốn huy động phải được ổn định về mặt thời gian. Nếu ngân
hàng huy động được một lượng vốn lớn mà không ổn định về mặt thời gian,
thường xuyên có một lượng tiền lớn có khả năng bị rút ra thì lượng vốn dành
cho vay, cho đầu tư sẽ không lớn. Như vậy hiệu quả sử dụng sẽ không cao và
ngân hàng phải thường xuyên đối đầu với vốn để thanh khoản và ngược lại.
1.2.1.2 Các tiêu chí đánh giá hiệu quả huy động vốn của NHTM
Để công tác huy động vốn ngày càng hiệu quả cao đòi hỏi lãnh đạo ngân
21
hàng phải có chiến lược huy động vốn đúng đắn, có nghĩa là: lãi suất huy
động hợp lý để kích thích khách hàng gửi tiền, đồng thời cũng phải xác định
chính xác kỳ hạn của nguồn tiền đó. Thực hiện tốt các yêu cầu trên nguồn vốn
huy động sẽ được sử dụng có hiệu quả cao hơn, mang lại hiệu quả cao cho
ngân hàng. Hiệu quả huy động vốn là một chỉ tiêu đánh giá hiệu quả cho vay.
Hiệu quả huy động vốn được thể hiện qua các chỉ tiêu sau:
a. Tỷ lệ tăng trưởng huy động vốn
Tỷ lệ tăng trưởng huy động vốn được tính bằng tỷ lệ giữa hiệu số của
huy động vốn trong năm n với vốn huy động trong năm n-1 chia cho vốn huy
động trong năm n.
Tỷ lệ tăng trưởng
vốn huy động
=
Huy động vốn năm n- huy động vốn năm
“ n-1”
Huy động vốn năm n

Rủi ro trong huy động vốn bao gồm rủi ro lãi suất, rủi ro về tỷ giá, rủi ro
khi thay đổi về chính sách kinh tế vĩ mô….
1.2.1.3 Ý nghĩa của nâng cao hiệu quả huy động vốn
- Đối với NHTM
Hoạt động huy động vốn là cơ sở để ngân hàng thực hiện các hoạt động
kinh doanh của mình. Nguồn vốn của NHTM bao gồm vốn chủ sở hữu và vốn
huy động. Ngân hàng là một trung gian tài chính đi vay để thực hiện kinh
doanh thu lợi nhuận. Nguồn vốn huy động là nguồn vốn chủ yếu và quan
trọng giúp ngân hàng thực hiện các hoạt động kinh doanh của mình. Quy mô,
cơ cấu vốn huy động sẽ trực tiếp quyết định đến quy mô và cơ cấu tín dụng
của NHTM. Các ngân hàng không thể cho vay dài hạn với quy mô lớn trong
khi vốn huy động nhỏ và thời hạn ngắn.
Thông qua hoạt động huy động vốn cũng thể hiện uy tín, quy mô, sức
cạnh tranh của NHTM trên thị trường. Bởi vốn huy động trên tổng nguồn vốn
là một trong những chỉ tiêu đánh giá khả năng cạnh tranh của ngân hàng. Một
23
ngân hàng có nguồn vốn ngày càng gia tăng (đặc biệt là vốn dài hạn) khẳng
định uy tín và sức cạnh tranh của mình. Khách hàng có tin tưởng mới gửi tiền
vào ngân hàng và nguồn vốn gia tăng thể hiện ngân hàng đó có vị thế trên thị
trường. Và điều này cũng sẽ tạo điều kiện tốt cho ngân hàng trong các lĩnh
vực khác như nghiệp vụ cho vay, phát triển các sản phẩm mới,…
Huy động vốn giúp tăng cường mở rộng mối quan hệ giữa ngân hàng với
ngân hàng và với các tổ chức tài chính khác trong nền kinh tế. Sự liên kết, điều
hòa vay mượn các nguồn vốn lẫn nhau sẽ làm gia tăng vòng quay của đồng tiền,
tăng hiệu quả sử dụng vốn trong nền kinh tế. Các ngân hàng dư thừa vốn tạm
thời sẽ có cơ hội cho các ngân hàng thiếu vốn tạm thời vay để lấy lãi. Không
những thế nhận thức được tầm quan trọng của nghiệp vụ huy động vốn trong
hoạt động kinh doanh của mình các ngân hàng có thể liên kết, thỏa thuận với
nhau mức lãi suất trần, sàn các phương thức huy động để tránh xảy ra các cuộc
chạy đua về lãi suất, các cuộc cạnh tranh gây thiệt hại về kinh tế lẫn nhau.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status