BỘ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
VIỆN KHOA HỌC ĐO ĐẠC VÀ BẢN ĐỒ
***
BÁO CÁO TỔNG KẾT
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA H ỌC CẤP BỘ NGHIÊN CỨU THIẾT LẬP HỆ THỐNG ĐỘ CAO CHUẨN
THỐNG NHẤT CHO CẢ LÃNH THỔ VÀ LÃNH HẢI
VIỆT NAM TRÊN CƠ SỞ KHÔNG SỬ DỤNG
MẶT NƯỚC BIỂN TRUNG BÌNH Chủ nhiệm đề tài
GS.TSKH. Phạm Hoàng Lân
“loại ra – hoàn trả”. Kế
t quả đã nhận được giá trị độ cao chuẩn tính theo mặt
khởi tính là quasigeoid toàn cầu với độ chính xác 0,2 – 0,3 m cho 5 điểm xét
cụ thể trên lãnh thổ nước ta với tư cách là các điểm gốc độc lập trong cơ sở
độ cao chuẩn mới thống nhất cho cả lãnh thổ và lãnh hải nước ta. Kết quả
thu nhận được đã khẳng định tính khả thi của việc không dùng đến mặt biể
n
trung bình làm mặt khởi tính độ cao vốn vẫn được sử dụng trong các phương
pháp truyền thống.
Cuối cùng đề tài đã đề xuất phương án thiết lập hệ thống độ cao chuẩn
và quá trình chuyển đổi độ cao tương ứng.
2
MỤC LỤC
TÓM TẮT 1
MỤC LỤC 2
MỞ ĐẦU 4
CHƯƠNG I 6
ĐỘ CAO CHUẨN VÀ CÁC PHƯƠNG PHÁP XÁC ĐỊNH 6
1.1. Các hệ thống độ cao cơ bản trong trắc địa 6
1.1.1. Độ cao chính 6
1.1.2. Độ cao chuẩn (hay độ cao bình thường) 7
1.1.3. Độ cao trắc địa 8
1.2. Bản chất và ưu thế của độ cao chuẩn 8
1.2.1. Bản chất của độ cao chuẩn 8
1.2.2. Các ưu thế của độ cao chuẩn 11
1.3. Các phương pháp xác định độ cao chuẩn 11
1.3.1. Phương pháp dựa trên công nghệ truyền thống 11
1.3.2. Phương pháp dựa trên công nghệ định vị vệ tinh 12
CHƯƠNG II. XÁC ĐỊNH ĐỘ CAO CHUẨN THEO PHƯƠNG PHÁP
Các phụ lục
Phụ lục 1. Quy trình xử lts số liệu đo GPS chính xác cao tại: Bạch long vĩ,
Đồ sơn, Quảng nam, Vũng tàu, Côn đảo
Phụ lục 2. Giá trị hiệp phương sai dị thường trọng lực phần dư
Phụ lục 3. Sai số nội suy dị thường trọng lực chân không
Phụ lục 4. Mô hình trọng trường EIGEN-5C
Phụ lục 5. Mặt địa hình tham khảo
Phụ lục 6. Dị thường trọng l
ực phần dư
Phụ lục 7. Chương trình xác định tham số của hàm hiệp phương sai giải
tích
Phụ lục 8. Chương trình xử lý theo phương pháp collocation bình phương
nhỏ nhất
4
MỞ ĐẦU
Vị trí không gian của một điểm xét được đặc trưng bởi 3 yếu tố toạ
độ. Ở trên mặt đất và trong khoảng không bên ngoài bao quanh Trái đất yếu
tố toạ độ thứ ba gắn chặt với trường sức hút của Trái đất có tên gọi đầy đủ
và chính xác là trường trọng lực hay trọng trường. Nó thường được đề cập
đến với khái niệm độ cao và được tính theo phương hướ
ng về phía tâm quán
tính của Trái đất theo chiều ngược lại, kể từ một bề mặt khởi tính có liên
quan ở mức này hay mức khác với mặt đẳng thế cơ bản của trọng trường
Trái đất. Tuỳ thuộc vào mặt khởi tính, phương tính và các xác định, người ta
có các hệ thống độ cao cụ thể khác nhau. Bên cạnh hệ thống độ cao chính
được đề xuất từ lâu có liên quan tới lí thuyết Stokes nghiên cứu xác
5
Để kịp thời tiếp cận và triển khai những tiến bộ kĩ thuật mới nhất
trong lĩnh vực đo đạc và định vị nói chung và xác định độ cao nói riêng trên
cơ sở công nghệ vệ tinh và lí thuyết thế trọng trường của Trái đất, chúng tôi
đã đề xuất và được Bộ tài nguyên và môi trường cho phép triển khai đề tài
NCKH với tiêu đề: “Nghiên cứu thiết lập hệ thống độ cao chuẩn thống nh
ất
cho cả lãnh thổ và lãnh hải Việt nam trên cơ sở không sử dụng mặt nước
biển trung bình”.
Dưới đây là mục tiêu nghiên cứu và các nhiệm vụ cụ thể đã giải quyết
trong quá trình thực hiện đề tài nói trên.
1. Mục tiêu của đề tài
Trên cơ sở phân tích bản chất, các khả năng xây dựng hệ thống độ cao
chuẩn đã tập trung nghiên cứu triển khai lí thuyết đo cao GPS thông qua vi
ệc
sử dụng kết quả xác định độ cao trắc địa chính xác cao bằng GPS và xác
định trực tiếp dị thường trọng lực theo số liệu trọng lực, mô hình trọng
trường và địa hình, đã thiết lập cơ sở độ cao chuẩn trên dải ven bờ và một
vài đảo lớn phục vụ cho mục đích thống nhất hệ thống độ cao trên lãnh thổ
và lãnh hải nước ta trong đ
ó không dùng đến mặt biển trung bình.
2. Nhiệm vụ cụ thể cần giải quyết
2.1. Phân tích đánh giá bản chất độ cao chuẩn và các phương pháp
xác định để lựa chọn cách giải quyết
2.2. Phân tích đánh giá thực trạng, kết quả xác định độ cao chuẩn
theo phương pháp truyền thống ở nước ta
2.3. Triển khai lí thuyết đo cao GPS trên cơ sở xác định độ cao trắc
dịa bằng GPS chính xác cao và xác định trực tiếp dị thường độ
cao trọng lực bằng phương pháp collocation bình phương nhỏ
nhất với thuật toán “loại ra – hoàn trả” (“remove- restore”); Xử
số hiệu chỉnh tơng ứng ta sẽ có độ cao chính, độ cao chuẩn hay độ cao động
học. Ngoại trừ độ cao động học thích ứng chủ yếu cho mục đích thuỷ văn, cả
độ cao chính và độ cao chuẩn đều đợc sử dụng rộng rãi trong công tác trắc
địa-bản đồ nói riêng và cho nhiều ngành khoa học-kỹ thuật nói chung. Hệ
thống độ cao chuẩn đợc biết đến cách đây không lâu, từ khoảng giữa thế kỷ
trứơc, và có u điểm cơ bản là chặt chẽ về mặt lý thuyết, đơn giản hơn về mặt
tính toán. Trên thực tế các số hiệu chỉnh phân biệt độ cao chính, độ cao
chuẩn và độ cao đo đạc thờng nhỏ đến mức có thể bỏ qua trong nhiều trờng
hợp không đòi hỏi độ chính xác cao. Chính vì vậy trong các phần tiếp theo,
trừ trờng hợp cần phân biệt rạch ròi, chúng ta sẽ gọi chung ba loại độ cao đó
là độ cao thủy chuẩn để nhấn mạnh nguồn gốc xuất xứ của chúng là đợc
rút ra từ kết quả đo cao thuỷ chuẩn
1.1.1. cao chớnh
cao chớnh ca mt im trờn mt t l khong cỏch c tớnh
theo ng sc t im ny ti mt geoid. Nú c ký hiu l h
g
v c
xỏc nh
theo biu thc:
00
B
g
B
B
BB
mm
gdh
WW
h
gg
g
là một vấn đề phiền phức và không thể thực hiện được một
cách chặt chẽ, chính xác, vì ta không biết biết chính xác mật độ phân bố vật
chất trong lớp giữa mặt đất và geoid cũng như qui luật thay đổi giá trị trọng
lực theo độ cao trong lớp này.
Độ cao chính vì thế không thể được xem là một hệ thống độ cao chặt
chẽ và hoàn chỉnh về mặt lý thuyết. Song, do nó khá đơn giản và tr
ực quan
về mặt nhận biết, nên đã được sử dụng rộng rãi từ rất lâu ở nhiều quốc gia,
kể cả cho đến nay ở một số nước.
1.1.2. Độ cao chuẩn (hay độ cao bình thường)
Hệ thống độ cao này được xây dựng cùng với lý thuyết hoàn chỉnh và
chặt chẽ của Molođenski về nghiên cứu xác định bề mặt thực và thế trọng
trường bên ngoài củ
a Trái đất. Như ta đã biết, độ cao bình thường được ký
hiệu là
B
h
γ
và được xác định theo công thức:
0
B
B
B
m
gdh
h
γ
γ
=
là một trong các đặc trng cơ bản của trọng trờng Trái Đất ta có thể nhận
biết trực quan. Đó chính là mặt nớc yên tĩnh không bị nhiễu (bởi các
nguyên nhân khác nhau ngoài tác dụng của trọng lực) trong các sông, hồ,
trên biển, đại dơng.Trên phạm vi toàn cầu ngời ta đã đa ra khái niệm về
mặt geoid và coi nú là mặt khởi tính cho một hệ thống độ cao đợc đề xuất
từ thế kỷ 19 có tên là độ cao chính [8]. Song, không đơn giản và dễ dàng chỉ
ra vị trí chính xác của mặt geoid ở các khu vực cụ thể khác nhau trên bề mặt
Trái Đất ; hơn nữa, mặt này lại uốn nếp khá phức tạp và có dạng phình dần ra
khi đi từ hai cực về phía xích đạo của Trái Đất. Vì thế, trên thực tế không thể
sử dụng mặt geoid làm mặt khởi tính chung cho độ cao của mọi điểm xét.
Ngời ta đã phải chấp nhận mực nớc biển trung bình ở một vùng biển cụ
thể nào đó l
àm mốc khởi tính độ cao cho một quốc gia, một nhóm quốc gia
hay cho cả một lục địa. Do mực nớc biển trung bình tại các khu vực khác
nhau không trùng nhau, nên giá trị độ cao của một điểm xét đợc tính theo
các hệ thống độ cao quốc gia khác nhau sẽ chênh khác. Bài toán trực tiếp hoà
nhập các hệ thống độ cao quốc gia nói riêng hay hoà nhập các hệ thống độ
cao với các điểm gốc khác nói chung là vấn đề không có lời giải. Khi đó, chỉ
có thể đạt tới mục đích hoà nhập trong cùng một hệ thống chung bằng cách
đo nối các hệ thống riêng biệt với nhau và sử dụng một điểm gốc chung.
Nhng trong trờng hợp này sẽ nẩy sinh nhiều vấn đề bất cập, chẳng hạn,
không thể liên kết các mạng lới độ cao bị phân cách bởi biển và đại dơng.
Giá trị độ cao tính theo hệ thống chung có thể chênh khác nhiều so với giá trị
độ cao tơng ứng tính theo mực nớc biển trung bình địa phơng, tức là giá
trị độ cao sẽ không thích ứng với vị trí thực tế khách quan của mặt đẳng thể
9
trọng trờng tại điểm xét cụ thể. Ngay ở nớc ta, giá trị độ cao tính theo mực
nớc biển trung bình tại Mũi Nai (Hà tiên) nhỏ hơn giá trị độ cao tơng ứng
tính theo mực nớc biển trung bình tại Hòn Dấu (Đồ sơn) cỡ 0,16 m. Chính
M = MN
Khoảng cách MM
0
đợc gọi là độ cao trắc địa và đợc ký hiệu là H.
Theo hình 1 ta có :
(1.2.1)
Đại lợng đợc xác định theo số liệu trọng lực thông qua các công thức
chặt chẽ của lý thuyết xác định thế trọng trờng và bề mặt thực của Trái Đất
do M.S. Molodenski đề xuất. Khái niệm về độ cao chuẩn cũng nh lý thuyết
vừa nhắc tới đợc ghi nhận và đánh giá là bớc ngoặt cơ bản trong lĩnh vực
nghiên cứu xác định thế trọng trờng và bề mặt Trái Đất.
10
Song, do tính chất "cách mạng" của nó, lý thuyết này đã không đợc
hiểu thấu đáo, đánh giá đầy đủ và thừa nhận rộng rãi nh từ sau những năm
60 của thế kỷ trớc và hiện nay. Chính trong bối cảnh đó M.S. Molodenski
đã tìm cách liên hệ lý thuyết mới của mình với lý thuyết kinh điển vốn đã trở
nên quen thuộc của G. Stokes, theo đó đã đa ra khái niệm về mặt
quasigeoid với nghĩa "tựa nh geoid" và lý giải độ cao chuẩn của điểm xét
trên mặt đất nh độ cao của nó so với mặt quasigeoid. Dựa theo cách lý giải
này, trong một thời gian dài nhiều nhà trắc địa ở Liên Xô cũng nh ở phơng
Tây đã lý giải tiếp dị thờng độ cao nh độ cao của quasigeoid so với
ellipsoid chuẩn. Gần đây, L.V. Ogorodova [11] đã nhấn mạnh bản chất
nguyên căn của độ cao chuẩn và chỉ ra sự không chỉnh và không chuẩn của
cách hiểu thờng gặp cho đến nay về độ cao chuẩn và dị thờng độ cao.
Với cách hiểu đầy đủ, chính xác xuất phát từ khái niệm gốc rễ theo
M.S. Molodenski, độ cao chuẩn sẽ là và chỉ có nó mới có thể là yếu tố cơ bản
để xây dựng nên một hệ thống độ cao, trong đó độ cao của các điểm khác
nhau đều đợc tính từ cùng một mặt khởi tính là mặt ellipsoid chuẩn, nhờ
0
với ellipsoid chuẩn giữa mặt đẳng thế trọng
trờng chuẩn với thế U
N
= W
M
đi qua điểm N và mặt ellipsoid chuẩn với thế
U
0
. Đúng nh bản chất của nó, độ cao chuẩn nói riêng và độ cao nói chung
phải gắn với và chỉ có thể đợc xác định thông qua thế trọng trờng của Trái
Đất. Tơng ứng ta có công thức [9] :
0N
M
N
m
UU
h
=
(1.3.1)
Để có đợc (U
N
U
0
), ngời ta đã đặt yêu cầu chọn thế trọng trờng chuẩn
sao cho:
00NM
1
M
M
M
m
O
hgdh
=
(1.3.4)
Biểu thức (1.3.4) cho thấy, để xác định đợc giá trị độ cao chuẩn h
,
ngời ta phải sử dụng kết quả đo thuỷ chuẩn kết hợp với đo trọng lực dọc
tuyến đo cao đợc dẫn từ điểm gốc độ cao lấy theo mặt biển trung bình đã
chọn. Phải nói rng, cho đến khi xuất hiện cách giải quyết khác do công
nghệ định vị toàn cầu (GPS) mang lại m ta sẽ xét kỹ ở phía dới, việc sử
dụng mực nớc biển trung bình và phép đo thuỷ chuẩn để xác định độ cao là
phơng pháp khả thi duy nhất và tất yếu. Ngoài các nhợc điểm đã đợc đề
cập ở phía trên, phơng pháp đo thuỷ chuẩn truyền thống còn rất hạn chế,
thậm chí không khả thi trong điều kiện địa hình phức tạp hoặc bị chia cắt bởi
mặt nớc trải rộng. Các nhợc điểm và hạn chế đã nêu sẽ đợc khắc phục
trong cách giải quyết dới đây.
1.3.1. Phng phỏp da trờn cụng ngh nh v v tinh
Trờn c s biu thc (1.2.1) ta cú:
hH
lưới khống chế về độ cao thống nhất trong cả nước, được đo bằng phương
pháp đo cao hình học nhằm mục đích phục vụ cho nhu cầu xây dựng, phát
triển kinh tế, quốc phòng và nghiên cứu khoa học. Lưới độ cao hạng I, II là
cơ sở để phát triển và khống chế các lưới độ cao cấp th
ấp và trực tiếp phục
vụ cho các mục đích kinh tế, kỹ thuật khác nhau.
Lưới độ cao Nhà nước lấy mực nước biển trung bình tại trạm nghiệm
triều Hòn Dấu (Đồ Sơn, Hải Phòng) làm mực chuẩn “0” và được tính toán
trong hệ thống độ cao chuẩn.
Lưới độ cao Nhà nước hạng I, II (cũ) được xây dựng qua nhiều giai
đoạn, đến nay đã bộc lộ nhiều bất c
ập không thể đáp ứng nhu cầu cung cấp
độ cao cho việc xây dựng phát triển xã hội. Tình trạng mốc chôn chìm, cọc
dấu chôn nổi, vật chuẩn không ổn định lâu dài do thời gian xây dựng đã lâu,
nhiều tuyến đường giao thông được nâng cấp mở rộng, nhiều khu vực được
đô thị hoá, địa hình địa vật thay đổi, cho nên nhiều mốc hiện nay không tìm
thấy hoặc đã bị phá huỷ. Mặt khác cùng với th
ời gian độ cao của một số mốc
bị thay đổi do các hoạt động địa chất của vỏ trái đất hoặc của con người, gây
không ít khó khăn cho người sử dụng.
Để khắc phục những tình trạng nói trên, từ năm 2001- 2004 Bộ Tài
nguyên và Môi trường đã tiến hành hoàn thiện mạng lưới độ cao Nhà nước
hạng I, II phủ trùm toàn Quốc và đến cuối năm 2007 toàn bộ mạng lưới độ
cao này
đã được tính toán và bình sai xong năm 2007.
2.1.1. Sơ lược về mạng lưới độ cao hạng I, II trước năm 2001
Mạng lưới độ cao hạng I, II hiện đang sử dụng gồm 10 đường hạng I và
41 đường hạng II, có một số đặc điểm sau:
lớn thì chôn mố
c cơ bản.
- Từ 3 – 5 km (ở đồng bằng) hay 4 – 6 km (ở miền núi) chôn một mốc
thường. Ở vùng khó khăn khoảng cách giữa các mốc có dài hơn nhưng
không quá 8 km. Ở thành phố hoặc các công trình xây dựng lớn thì khoảng
cách giữa các mốc thường có thể ngắn hơn so với mức trung bình kể trên.
Tuy nhiên do sự phát triển do thời gian xây dựng đã lâu, nhiều tuyến
đường giao thông được nâng cấp mở rộng, nhiều khu vự
c được đô thị hoá,
địa hình địa vật thay đổi, cho nên nhiều mốc hiện nay không tìm thấy hoặc
đã bị phá huỷ, một số mốc còn nhưng độ cao đã thay đổi. 16
3) Về độ chính xác đo ngắm:
- Đã tiến hành đánh giá sai số trung phương ngẫu nhiên, hệ thống 1 km
đường đo thuỷ chuẩn theo đúng công thức qui định cho nội nghiệp. Các sai
số này nhìn chung đều đạt yêu cầu của qui phạm.
- Các vòng khép về cơ bản đạt hạn sai cho phép.
4) Việc tính toán mạng lưới độ cao:
- Mạng lưới được xử lý khái lược theo đúng qui định của qui phạm.
Giá trị độ cao khái l
ược mang tính chất tạm thời được tính theo phương thức
truyền độ cao theo các đường.
- Chênh cao khái lược đã được hiệu chỉnh số cải chính do sự không
song song của các mặt đẳng thế, tuy nhiên do thiếu số liệu trọng lực đo trên
các điểm thuỷ chuẩn nên giá trị trọng lực chủ yếu được nội suy từ các bản đồ
dị thường trọng lực Bouguer tỷ lệ 1/200.000, 1/500.000 c
ủa Tổng cục Địa
chất, số còn lại (tại các khu vực không có bản đồ) được lấy từ số liệu trọng
: Là sai số trung phương ngẫu nhiên 1 km của đoạn thứ i.
-
σ
i
: Là sai số trung phương hệ thống 1 km của đoạn thứ i.
+ Bình sai các đường độ cao giữa các điểm nút: Đường độ cao giữa các
điểm nút được coi là một đơn có 2 đầu là là những điểm khởi tính.Việc bình
17
sai các đường này được thực hiện theo phương pháp gián tiếp với trọng số
được tính theo công thức: P
i
=
i
L
k
trong đó: k - Hệ số
L
i
- Chiều dài giữa 2 mốc.
+ Các đoạn treo dược tính truyền độ cao từ các mốc đầu đường đã tham
gia tính toán bình sai trong toàn mạng lưới.
5) Về mặt chuẩn “0”
Mực nước biển trung bình được tính từ dãy số liệu quan trắc tại trạm
triều ký Hòn Dấu trong vòng 43 năm (từ năm 1950 đến 1992). Giá trị h
0
=
1.90 m được nhận là mặt nước trung bình của trạm triều ký Hòn Dấu và là
mặt chuẩn “0” của lưới độ cao Nhà nước.
chuẩn “0” của lưới độ cao Nhà nước. Lưới “0” do chuyên gia Trung Quốc
cùng cán bộ kỹ thuật Việt Nam xây dựng trong các năm 1963-1964. Năm
1991 Cục Đo đạc và Bản đồ Nhà nước (cũ) tiến hành khôi phục lại. Lưới “0”
được thiết kế có dạng giẻ quạt, nằm trọn trên đảo Hòn Dấu (hình 2)
Hình 2. Sơ đồ lưới “0”
Lưới “0” bao gồm 6 mốc:
+ Mốc A là mốc kiên cố gắn trên khối bê tông lớn, kiên cố và vững
chắc. Dấu của dấu mốc là dấu đồng.
+ Mốc Đ1 là mốc thuỷ chuẩn thường bằng bê tông vững chắc.
+ Mốc VB1 là mốc gắn đá trên bờ biển. Dấu trên là mốc sứ.
+ Mốc O2, O3 được chôn ngầm bê tông cốt thép qui cách như
mốc cơ
bản loại A có dấu trên bằng đồng.
+ Mốc VB22 được gắn bằng đồng trên cầu bê tông đi ra trạm triều ký.
- Lưới độ cao gốc đồ Sơn
+ Cấu trúc lưới độ cao gốc Đồ Sơn và các mốc thuộc lưới độ cao gốc
Cùng với lưới “0” lưới độ cao gốc được xây dựng từ năm 1963-1964.
Hình 3. Sơ đồ lưới gốc
Sau khi khảo sát, các mốc cũ được tìm thấy và được sử dụng lại là:
Mốc gốc (ĐG): Còn nguyên vẹn, vẫn bảo đảm ổn dịnh và chắc chắn.
Mốc phụ 1 (F1): Được gắn bằng bê tông trên khối bê tông vững chắc
dấu mốc bằng đồng.
Mốc phụ 2 (F2): Đượ
c gắn trên nền đá gốc núi Đối dấu bằng đồng.
Mốc phụ 3 (F3): Được gắn ở núi Voi có dạng thước thuỷ tinh quang
học.
Mốc phụ 4 (F4): Được gắn trên tường nhà ngân hàng Hải Phòng có
dạng thước bằng đá mã não.
Các mốc I(HN-HP) 20A, I(HN-HP) 19, II(HP-NB)1, L2, L4, L6, L7,
L8, L13, TK2, TK4, 06A chất lượng còn tôt.
Các mốc đã bị mất là: L3, L15, TK1, TK5
F4
F3
F2
ĐG
F1
20
Sau khi xem xét và cần nhắc thấy: Do thời gian thi công quá gấp vì
vậy chỉ tiến hành khôi phục lại 2 mốc L3 và L15, là mốc nằm ở vị trí điểm
nút của lưới. Còn 2 mốc tham khảo TK1, TK5 sẽ được khôi phục khi thực
hiện Đề án Xây dựng các điểm gốc Quốc gia.
Như vậy lưới độ cao gốc Đồ Sơn có 21 điểm trong đó 19 mốc là các
mốc cũ được tu bổ nă
m 1991 và 2 mốc gắn tường (qui cách như mốcđộ cao
hạng I) là mốc L3, L15. Lưới độ cao gốc Đồ Sơn được bố trí đo theo 9
trong quy phạm :
21
Đo đi và về trên hai hàng cọc mia, việc tiến hành đo đi và về đối với
chặng dài được tiến hành theo khoá số 8 và phân đều vào hai buổi khác nhau
của ngày;
Chiều dài tia ngắm không vượt quá 50 m, chiều cao tia ngắm > 0,8 m,
trường hợp khoảng cách từ máy đến mia < 25m chiều cao tia ngắm > 0,5m;
Khoảng cách giữa máy và mia được dùng dây kéo, sau đó do lại bằng
máy, số chênh khoảng cách đều nhỏ hơn 0,5 m trong từng trạm;
Khi chuyển máy, vị trí đặt chân máy đề
u được xoay theo chiều kim
đồng hồ tuân theo qui định trong qui phạm;
Thao tác đo vào các mốc có gắn thước đều tuân thủ theo đúng qui
định trong Thiết kế kỹ thuật;
Kết quả đo chênh cao tại các trạm nghỉ của trước và sau lúc nghỉ đều
nhỏ hơn 0,7 mm;
Nhiệt kế được đặt ngang tầm tia ngắm và đọc nhiệt độ cho từng trạm
đo.
Kết quả đo đạt các chỉ tiêu sau:
Bảng 2.1
TT Tên đường
SSTP
ngẫu nhiên
SSTP hệ thống
Sai số chênh cao
đi và về
1 F1 - ĐG – F2
0.20/
±0.5 0.04/±0.05 -0.77/±9.90
sau:
Bảng 2.2
TT Vòng khép Sai số khép (mm) Hạn sai (mm)
1 F1 - ĐG – F2 – F1 - 5.31
± 14.0
2 F2 - ĐG – F3 – F2 + 9.89
± 18.2
3 F3 - ĐG – F4 – F3 + 0.11
± 18.3
4 F4 - ĐG – F1 – F4 - 1.61
± 15.3
5 F2 – F3 – F4 – F2 + 2.66
± 16.0
Từ các kết quả trên cho thấy lưới gốc được đo với độ chính xác rất
cao.
2) LƯỚI ĐỘ CAO NHÀ NƯỚC HẠNG I, II MỚI
- Hệ thống mốc: Về cơ bản các mốc của mạng lưới độ cao mới đều sử
dụng mốc cũ được gia cố lại. Những mốc đã mất hoặc bị phá hỏng được
chôn mới tại các nơi có nề
n đất vững chắc, tiện lợi cho đo ngắm và bảo đảm
khoảng cách giữa các mốc theo qui định. Toàn bộ các mốc được xây tường
vây với kích thước 1,4m x 1,4m x 0,5m, phần chìm dưới đất là 0,3 m
và nổi trên mặt đất 0,2 m, giúp cho việc bảo vệ cũng như tìm kiếm mốc
được thuận tiện hơn.
- Cấu trúc lưới:
Sau khi được khôi phục, chôn mới và xây tường vây hệ thống các
đường độ cao hạng I, II
được bố trí rải đều trên lãnh thổ cả nước và có cấu
trúc đồ hình chặt chẽ với 36 vòng khép kín. Trong lưới độ cao mới đã xây
dựng thêm 2 đường độ cao hạng II là Anh Sơn – Khe Sanh và Đăkrông –
Các đường hạng II có tên đường như sau: Bảng 2.4
TT Tên đường Số mốc Chiều dài (km)
1 Bắc Ninh - Quý Trung 18 86.3
2 Hải Dương-Thái Bình 23 92.2
3 Mai Châu - Xuân Mai 24 112.7
4 Xuân Mai - Hà Nam 14 69.8
5 Xuân Mai - Hà Nội 10 36.0
6 Thọ Xuân-Tương Dương 54 284.2
7 Yên Bái - Cò Nòi 29 182.2
24
8 Lai Châu - Tuần Giáo 37 183.2
9 Nguyên Bình - Hà Nội 52 247.8
10 Ngô Khê - Phú Thọ 43 160.1
11 Di Linh - Phan Rang 34 152.5
12 Buôn Ma Thuột - Đức Trọng 34 184.8
13 Mỹ Trạch - Tuy Hoà 32 187.6
14 Plei Ku - Phước Lộc 27 151.4
15 Thạch Trụ - Kon Tum 29 182.0
16 Đắc Nông - Di Linh 16 100.0
17 Di Linh - Phan Thiết 19 99.0
18 Di Linh - Dầu Giây 36 158.6
19 Đông Hà - Lao Bảo 18 82.8
20 Anh Sơn - Khe Sanh 97 489.7
21 Đakrông - Thành Mỹ 46 250.7
22 Trung Lương-Trà Vinh 23 74.3
23 Mỹ Thuận - Trà Vinh 17 74.7
24 Tân Xuân-Trung Lương 28 107.5