tìm hiểu tốc độ tăng trưởng kinh tế của việt nam giai đoạn 2002-2007 - Pdf 23

Bài tập lớn _ Kinh tế vĩ mô 1
LỜI NÓI ĐẦU
Trước đây khi nhắc đến Việt Nam người ta nghĩ ngay đến một đất nước nhỏ bé
nằm trên bán đảo Đông Dương, mật độ dân số đông nhất nhì thế giới, nền kinh tế
lạc hậu do xuất phát điểm của chúng ta quá thấp. Nhưng giờ đã khác xưa, chỉ trong
vòng 20 năm đổi mới cái đất nước nhỏ bé ấy đã và đang thay da đổi thịt từng ngày,
từ một nước đói kém lương thực mong viện trợ từ nước ngoài trở thành nước xuất
khẩu gạo đứng nhất nhì thế giới, đời sống của nhân dân tăng lên rõ rệt. Việt Nam
đang đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế rất cao, các nhà đầu tư, các doanh nghiệp nước
ngoài đã biết đến Việt Nam như một điểm sáng đầy hấp dẫn. Những thành quả trên
là sự đóng góp, lao động không ngừng của nhân dân Việt Nam và sự lãnh đạo tài
tình của Đảng và Nhà nước ta.
Trong nền kinh tế thị trường như ở nước ta, sự quản lý của Nhà nước tới các
hoạt động kinh tế ở trong nước cũng như ngoài nước là rất quan trọng. Đây là quá
trình đòi hỏi một sự kết hợp hoàn hảo giữa Khoa học và Nghệ thuật. Nhất là khi
Việt Nam đã là một thành viên của tổ chức Thương mại thế giới WTO, để dũng
cảm đối mặt với những thách thức mới cần có những giải pháp của Chính phủ mới
mong hoà nhịp với thị trường thế giới sôi động và đầy những biến cố như hiện nay.
Việt Nam phải nhanh chóng chớp lấy những cơ hội và phải tạo ra một thị trường
cạnh tranh bình đẳng giữa các doanh nghiệp trong nước và ngoài nước, thu hút đầu
tư, mở rộng thị trường, đưa nền kinh tế đạt đến tốc độ tăng trưởng cao và bền
vững Nhưng cùng với đó nhất thiết phải bảo vệ môi trường, chống phân hoá giàu
nghèo, chống lạm phát, giảm tỉ lệ thất nghiệp Để thực hiện được điều đó Chính
phủ phải làm những gì? Và sử dụng những công cụ gì? Khi nghiên cứu môn Kinh
tế vĩ mô chúng ta sẽ trả lời được những câu hỏi đó.
Để tìm hiểu về môn học Kinh tế vĩ mô em được giao đề tài:
Tìm hiểu tốc độ tăng trưởng kinh tế của Việt Nam giai đoạn 2002-2007?
Những thuận lợi và khó khăn của Việt Nam khi gia nhập WTO?
Bao gồm 2 chương:
Chương 1: Nền kinh tế vĩ mô với chỉ tiêu xuất nhập khẩu
Chương 2: Tìm hiểu tốc độ tăng trưởng kinh tế của nước ta giai đoạn

Sinh viên: Đào Xuân Toàn_Lớp QKT48ĐH1 Trang
2
Bài tập lớn _ Kinh tế vĩ mô 1
vào tình trạng suy thoái, tỉ lệ thất nghiệp cao phải thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và
giảm tỉ lệ thất nghiệp bằng cách giảm thuế T hoặc tăng chi tiêu G.
Môn kinh tế vĩ mô là một môn học quan trọng trong hệ thống các môn học
trong chương trình đại học có thể nói là không thể thiếu được, nó có mối quan hệ
chặt chẽ với nhiều môn học khác. Kinh tế vĩ mô còn là nền móng hay bước đệm để
sinh viên có thể tiếp thu, trau dồi các môn học khác. Nó cung cấp cho sinh viên
những kiến thức tổng quát về nền kinh tế, những giải pháp và phương thức quản lý
điều hành nền kinh tế của Chính phủ Qua đó môn Kinh tế vĩ mô sẽ trang bị cho
sinh viên hành trang để tự tin bước vào cuộc sống xã hội sau này.
Môn Kinh tế vĩ mô bao gồm các chương quan trọng sau:
- Tổng sản phẩm và thu nhập quốc dân
-Tổng cầu và chính sách tài khoá
-Tiền tệ và chính sách tiền tệ
-Tổng cung và chi kỳ kinh doanh
-Lạm phát và thất nghiệp
-Kinh tế vĩ mô trong nền kinh tế mở.
b.Giới thiệu chung về nền kinh tế từ sau đổi mới đến nay.
Quá trình Đổi Mới về kinh tế
• Giai đoạn, đầu thập niên 1980, khủng hoảng kinh tế-xã hội nổ ra, lạm phát
tăng lên mức phi mã đặc biệt sau hai cuộc tổng điều chỉnh giá-lương-tiền.
• 1986: Đại hội đại biểu toàn quốc lần VI của Đảng Cộng sản Việt Nam chính
thức thực hiện Đổi Mới, bắt đầu thực hiện công nghiệp hóa-hiện đại hóa.
• 1 tháng 3 năm 1987: giải thể các trạm kiểm soát hàng hóa trên các tuyến
đường nhằm thúc đẩy lưu thông hàng hóa.
• 18 Tháng Năm, 1987: Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh và Chủ tịch Hội đồng
Bộ trưởng Đỗ Mười sang thăm Liên Xô. Gorbachyov giục Việt Nam cải cách kể cả
thông thương với các nước tư bản.

với tốc độ tăng trưởng kinh tế trung bình 8%/năm.
Việt Nam được đánh giá cao về việc thực hiện phúc lợi xã hội, xóa đói giảm
nghèo và thực hiện các Mục tiêu phát triển thiên niên kỷ (MDG) của Liên Hợp
Quốc. Việt Nam là một trong những nước đang phát triển có chỉ số HDI cao.
Sinh viên: Đào Xuân Toàn_Lớp QKT48ĐH1 Trang
4
Bài tập lớn _ Kinh tế vĩ mô 1
GDP Việt Nam đến cuối 2006 là khoảng trên 650 USD/người (GDP năm
2006 là 55532 triệu USD, dân số ước tính khoàng trên 84 triệu người).
Hạn chế:
Việc thực hiện kinh tế thị trường đã làm tăng khoảng cách giàu nghèo, tăng
ô nhiễm môi trường và các tệ nạn xã hội.
Nền kinh tế tăng trưởng cao nhưng chỉ số năng lực cạnh tranh ở mức thấp,
gây lãng phí tài nguyên.
Nền kinh tế vẫn nằm ở nhóm nước kinh tế đang phát triển. Trong cơ cấu
kinh tế, nông nghiệp vẫn chiếm 76,2% (2002), nền kinh tế vẫn chủ yếu bao gồm
các doanh nghiệp nhỏ và vừa.Các doanh nghiệp Nhà nước hoạt động kém hiệu
quả.
Một số thị trường vẫn chưa được thiết lập đầy đủ như: thị trường vốn, thị
trường tiền tệ, thị trường lao động, thị trường khoa học công nghệ Một số thể chế
pháp luật và hành chính cần thiết cho nền kinh tế thị trường vẫn chưa được quy
định hay đã được quy định nhưng không được thực hiện, gây ra tình trạng tham
nhũng, cửa quyền , làm chỉ số minh bạch của môi trường kinh doanh thấp.
Sau 20 năm Đổi Mới, tuy thế, đồng tiền Việt Nam vẫn là đồng tiền không có
khả năng chuyển đổi và nhiều quốc gia, tổ chức vẫn không công nhận Việt Nam có
nền kinh tế thị trường.
Kinh tế đối ngoại, phát triển mạnh, mở rộng hơn trước cả về quy mô và hình
thức. Các doanh nghiệp Việt Nam từng bước mở rộng đầu tư ra nước ngoài. Đến
năm 2000, đã có trên 40 dự án đầu tư vào 12 nước và vùng lãnh thổ, nước ta có
quan hệ thương mại với gần 70 nước và vùng lãnh thổ, thu hút được nhiều nguồn

hội này như một động lực thúc đẩy sự tiếp cận nhanh hơn đến các tổ chức quốc tế
khác.
Chính vì vậy, theo một chuyên gia kinh tế nhận định: Muốn cạnh tranh thành
công trong tương lai, Việt Nam không chỉ chạy mà phải chạy nhanh hơn các đối
thủ, tức là phải mở cửa, cải thiện môi trường đầu tư và kinh doanh hơn nữa
Trong quá trình tổng kết 20 năm đổi mới, các ngành và địa phương trong cả
nước đã đánh giá toàn diện và sâu sắc những thành quả đạt được cũng như những
hạn chế, yếu kém và nguyên nhân, từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm quý.
Sinh viên: Đào Xuân Toàn_Lớp QKT48ĐH1 Trang
6
Bài tập lớn _ Kinh tế vĩ mô 1
Thành quả nổi bật của những năm qua là duy trì được tốc độ tăng trưởng GDP bình
quân đạt 7,5%/ năm trong 5 năm 2001 - 2005 và 8,17% năm 2006, thế và lực của
Việt Nam đã mạnh lên so với các năm trước. Đó là những tiền đề vật chất rất quan
trọng, là yếu tố thuận lợi cơ bản để các ngành, các cấp thực hiện các chỉ tiêu kế
hoạch năm 2007.
Năm 2007 là năm đầu tiên Việt Nam trở thành thành viên chính thức của
WTO và thực hiện cam kết PNTR với Hoa Kỳ, do đó, thị trường xuất khẩu mở
rộng, các rào cản thương mại Việt Nam với các nước thành viên WTO được dỡ bỏ
hoặc hạn chế. Vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế được nâng cao qua Hội
nghị cấp cao APEC năm 2006. Quan hệ ngoại giao, các hoạt động hợp tác kinh tế,
đầu tư, mở rộng thị trường xuất khẩu được củng cố và tăng cường thông qua các
cuộc thăm cấp cao của lãnh đạo Đảng, Nhà nước cùng với sự tham gia của các nhà
doanh nghiệp. Tình hình chính trị ổn định, an ninh - quốc phòng bảo đảm, đã tạo
môi trường thuận lợi thu hút các nhà đầu tư nước ngoài cũng như các doanh nghiệp
trong nước.
Thị trường và giá cả nhiều mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam diễn biến theo
hướng cầu lớn hơn cung như dầu thô, gạo, cà phê, chè, thủy sản Do đó, giá cả
các mặt hàng này tăng cao, có lợi cho hoạt động xuất khẩu.
Bộ máy lãnh đạo các ngành, các cấp được hoàn thiện sau Đại hội Đảng X,

làm tăng ảo giá trị thực sự của thu nhậpquốc gia.
Ví dụ, trong trường hợp chiếc lốp được bán cho nhà sản xuất ôtô, giá trị của nó đã
được tính khi nó được nhà sản xuất lốp bán cho nhà sản xuất ô tô, nếu sau đó một
lần nữa được tính trong giá trị chiếc ô tô khi nhà sản xuất ô tô bán cho người tiêu
dùng thì sẽ làm cho giá trị GNP tăng lên.
Thu nhập được tính như là một phần của GNP, phụ thuộc vào ai là chủ sở hữu
các yếu tố sản xuất chứ không phải là việc sản xuất diễn ra ở đâu. Ví dụ, một nhà
máy sản xuất ô tô do chủ sở hữu là công dân Mỹ đầu tư tại Việt Nam thì lợi nhuận
sau thuế từ nhà máy sẽ được tính là một phần của GNP của Mỹ chứ không phải
của Việt Nam bởi vì vốn sử dụng trong sản xuất (nhà xưởng, máy móc, v.v.) là
thuộc sở hữu của người Mỹ. Lương của công nhân người Việt là một phần của
Sinh viên: Đào Xuân Toàn_Lớp QKT48ĐH1 Trang
8
Bài tập lớn _ Kinh tế vĩ mô 1
GNP của Việt Nam, trong khi lương của công nhân Mỹ làm việc tại đó là một phần
của GNP của Mỹ. Có nhiều cách tính tổng sản phẩm quốc dân, dưới đây là cách
tính theo quan điểm chi tiêu xã hội:
GNP = C+ I + G + (X - M) + NR
Trong đó:
•C = Chiphí tiêudùngcá nhân
•I = Tổng đầu tư cá nhân quốc nội
•G = Chi phí tiêu dùng của nhà nước
•X = Kim ngạch xuất khẩu ròng các hàng hóa và dịch vụ
•M = Kim ngạch nhập khẩu ròng của hàng hóa và dịch vụ
•NR= Thu nhập ròng từ các tài sản ở nước ngoài (thu nhập ròng)
Còn một chỉ số khác hay được nhắc kèm với GNP đó là chỉ số GNI_Gross
National Income, tức Tổng thu nhập quốc gia hay Tổng thu nhập quốc dân. Giá trị
của nó tương đương với giá trị của GNP. Tuy nhiên, người ta phân biệt chúng, do
cách thức tiếp cận vấn đề là dựa trên các cơ sở khác nhau. GNP dựa trên cơ sở sản
xuất ra sản phẩm mới, còn GNI dựa trên cơ sở thu nhập của công dân. Điều này là

r
GNP
D x
GNP
=

,
1
n
t t
n i t i
i
GNP P Q
=
=

Chỉ tiêu GNP danh nghĩa và GNP thực tế thường được dùng cho các mục tiêu
phân tích khác nhau. Chẳng hạn, khi muốn nghiên cứu mối quan hệ tài chính, ngân
hàng người ta thường dùng GNP danh nghĩa, khi cần phân tích tốc độ tăng trưởng
kinh tế người ta thường dùng GNP thực tế.
GNP không phải là thước đo hoàn hảo về thành tựu cũng như phúc lợi kinh tế
của đất nước do:
 GNP đã bỏ sót nhiều sản phẩm và dịch vụ mà nhân dân làm ra hoặc giúp
đỡ nhau và đơn giản là không đưa ra thị trường và không báo cáo.
 Nhiều hoạt động kinh tế phi pháp hoặc hợp pháp nhưng không được báo
cáo nhằm trốn thuế cũng được tính vào GNP
 Những thiệt hại về môi trường như ô nhiễm nước, không khí, tắc nghẽn
giao thông gây thiệt hại cho sức khoẻ và môi trường sống cũng không được điều
chỉnh khi tính vào GNP.
 GNP không phản ánh được thời gian nghỉ ngơi để bổ khuyết cho sự thoải

dùng của các nhà đầu tư. Cần phân biệt rõ đầu tư này với các đầu tư mang tính đầu
cơ tích trữ vàothị trường chứng khoán và trái phiếu.
•G: là tổng chi tiêu của chính phủ (tiêu dùng của chính phủ). Quan hệ của phần này
Sinh viên: Đào Xuân Toàn_Lớp QKT48ĐH1 Trang
11
Bài tập lớn _ Kinh tế vĩ mô 1
đối với các phần còn lại của GDP được mô tả trong lý thuyết khả dụng (có thể đem
đi tiêu).
NX: là "xuất khẩu ròng" của nền kinh tế. Nó bằng xuất khẩu (tiêu dùng của nền
kinh tế khác đối với các sản phẩm và dịch vụ do nền kinh tế trong tính toán sản
xuất) - nhập khẩu (tiêu dùng của nền kinh tế trong tính toán đối với các sản phẩm
và dịch vụ do nền kinh tế khác sản xuất).
2.Theo luồng thu nhập hoặc chi phí:
Theo phương pháp này GDP bao gồm : Chi phí cho các yếu tố đầu vào của sản
xuất mà các doanh nghiệp phải thanh toán, tổng chi phí của doanh nghiệp trở thành
thu nhập của quần chúng.
Trong trường hợp nền kinh tế chỉ bao gồm các hộ gia đình và các doanh
nghiệp:
GDP = w + i + r + Π
Trong đó:
w = Chi phí tiền công, tiền lương
i = Chi phí thuê vốn (lãi suất)
r = Chi phí thuê nhà, thuê đất
Π = Lợi nhuận
Trong nền kinh tế có thêm Chính phủ và khu vực nước ngoài khi đó GDP
được bổ sung thêm:
Thuế gián thu (Te): là những khoản thuế mà Chính phủ đánh vào hàng hoá tiêu
dùng nhưng được thu thông qua các doanh nghiệp (thuế VAT, thuế nhập khẩu )
Khấu hao tài sản cố định được sử dụng để bù đắp các hao mòn tài sản cố định
nó không tương ứng với bất kì khoản thu nhập mà các hộ gia đình nhưng nó lại là

tại Việt Nam do công dân Mỹ đầu tư để tiêu thụ nội địa. Khi đó mọi thu nhập từ
nhà máy này sau khi bán hàng được tính vào GDP của Việt Nam, tuy nhiên lợi
nhuận ròng thu được (sau khi khấu trừ thuế phải nộp và trích nộp các quỹ phúc lợi)
cũng như lương của các công nhân Mỹ đang làm việc trong nhà máy được tính là
một bộ phận trong GNP của Mỹ.
Ý nghĩa của các chỉ tiêu GNP và GN P:
Chỉ tiêu GNP hay GDP là những thước đo tốt về thành tựu kinh tế của một đất
nước.
Sinh viên: Đào Xuân Toàn_Lớp QKT48ĐH1 Trang
13
Bài tập lớn _ Kinh tế vĩ mô 1
GNP hay GDP thường được sử dụng để phân tích những biến đổi về sản lượng
của một đất nước trong thời gian khác nhau.
Các chỉ tiêu GNP và GDP còn được sử dụng để phân tích sự thay đổi mức
sống của dân cư.
GNP bình quân đầu người =
GNP
dân số
Sinh viên: Đào Xuân Toàn_Lớp QKT48ĐH1 Trang
14
Bài tập lớn _ Kinh tế vĩ mô 1
Chương 2: Tìm hiểu tốc độ tăng trưởng kinh tế của nước ta giai đoạn
2002 – 2007
a. Tìm hiểu số liệu về GDP và GNP của nước ta giai đoạn 2002 - 2007
Tốc độ tăng GDP bình quân trong thời kỳ 2002-2007 là 7,8%
Ngày 7/3/2008, Chính phủ đã trình Ủy ban thường vụ Quốc hội Báo cáo
công tác của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ nhiệm kỳ 2002-2007. Theo Báo
cáo trên, giai đoạn 2002-2007, tất cả các nhiệm vụ phát triển kinh tế đều được
hoàn thành, hầu hết các chỉ tiêu đều hoàn thành vượt mức đề ra, trong đó điểm
nổi bật về phát triển kinh tế trong 5 năm qua là tăng trưởng kinh tế gắn kết chặt

trăm vào tăng trưởng GDP, trong khi ngành dịch vụ và nông nghiệp đóng góp lần
lượt 3,4 và 0,8 điểm phần trăm.
Tất cả các khu vực kinh tế đều tăng trưởng với tốc độ nhanh hơn so với năm
ngoái. Riêng sản lượng công nghiệp tăng 17,2%, tốc độ cao nhất trong 5 năm
(2001: 14,6%; 2002: 14,8%; 2003: 16,8%; 2004: 16%). Về mặt chủ sở hữu thì khu
vực tư nhân (với 30% tổng sản lượng công nghiệp) tăng trưởng mạnh nhất, tăng
25%, tiếp theo là khu vực FDI đã tăng 21% (mặc dù sản lượng dầu thô giảm
7,7%), trong khi khu vực nhà nước tăng trưởng chậm với mức 8,4% (thấp hơn mức
11,8% của năm ngoái). Thành tích yếu kém của các doanh nghiệp quốc doanh (dù
đã được hưởng nhiều ưu đãi) cho thấy sự yếu kém của kinh tế Việt Nam trong khi
cạnh tranh quốc tế đang tăng dần và yêu cầu cam kết của Chính phủ trong việc đẩy
mạnh việc sắp xếp lại các doanh nghiệp nhà nước quản lý.
Ngành dịch vụ (chiếm 38,1% GDP) đã cải thiện đáng kể so với năm ngoái,
tăng 8,5% (7,3% trong năm 2004).
Tổng vốn đầu tư tiếp tục tăng mạnh :
Tăng trưởng kinh tế cũng được tiếp sức bởi mức đầu tư cao (21 tỷ USD),
chiếm 38,9% GDP (cao nhất trong những năm gần đây).
Đầu tư từ khu vực tư nhân (chiếm hơn 32% tổng vốn) có tốc độ phát triển
nhanh nhất, tăng 28%. Đầu tư của khu vực tư nhân có hiệu quả cao hơn so với khu
vực nhà nước và giúp tạo ra nhiều việc làm cho nền kinh tế. Vốn đầu tư tăng trong
Sinh viên: Đào Xuân Toàn_Lớp QKT48ĐH1 Trang
16
Bài tập lớn _ Kinh tế vĩ mô 1
khu vực này là một dấu hiệu đáng mừng, cho thấy tiềm lực trong nước đang tăng
lên và môi trường kinh doanh đang được cải thiện.
Vốn FDI năm nay đã tăng gần 40%, đạt 5,8 tỷ USD, mức cao nhất trong 10
năm (trong đó, đầu tư mới là 4 tỷ USD, đầu tư bổ sung là 1,9 tỷ USD). Hiện tại,
hơn 3.000 doanh nghiệp FDI đang hoạt động rất tốt. Trong năm 2005, khu vực này
đạt doanh thu 21 tỷ USD (tăng 16.7%); tổng giá trị xuất khẩu của các doanh
nghiệp FDI đạt 10,3 tỷ USD (không kể dầu thô) tăng 26.6%. Nếu tính cả lĩnh vực

Tiêu dùng cuối cùng 71,33 72,58 71,47 69,68 69,38 70,92
Xuất khẩu hàng hoá và dịch vụ 56,79 59,29 65,74 69,36 73,56 76,79
Nhập khẩu hàng hoá và dịch
vụ 61,96 67,65 73,29 73,54 78,61 90,22
Tổng thu nhập quốc gia - GNP 98,38 98,41 98,13 98,00 97,84 97,28
Bảng 2: Bảng thống kê số liệu GDP tính theo tỉ đồng Việt Nam.
Năm GDP, tỉ đồng VN
(danh nghĩa)
GDP, tỉ đồng VN (đã
điều chỉnh)
Sinh viên: Đào Xuân Toàn_Lớp QKT48ĐH1 Trang
18
Bài tập lớn _ Kinh tế vĩ mô 1
2002 535,762.000 313,247.000
2003 613,442.488 336,242.808
2004 713,071.948 362,092.796
2005 806,854.877 389,243.583
2006 889,461.775 417,905.534
2007 982,013.527 448,646.166
Bảng 3 :Tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP) năm từ 2002-2007(%)
Năm 2002 2003 2004 2005 2006 2007
GDP 7,08 7,34 7,79 8,44 8,17 8,48
Nông-Lâm-
Thuỷ sản
4,17 3,62 4,36 4,02 3,3 3,0
Công nghiệp
và xây dựng
9,48 10,48 10,22 10,69 10,37 10,4
Dịch vụ 6,54 6,45 7,26 8,48 8,29 8,5
Sinh viên: Đào Xuân Toàn_Lớp QKT48ĐH1 Trang

tỷ USD, GDP bình quân đầu người đạt 835 USD, tiếp cận ngưỡng của nước có thu
nhập trung bình thấp; cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng công nghiệp hóa, với
nông nghiệp chiếm tỷ trọng 20% GDP, còn lại là công nghiệp và dịch vụ; kim
ngạch xuất khẩu đạt gần 50 tỷ USD, nhưng nhập siêu cũng gia tăng, đạt 14,12 tỷ
USD, bằng 29% kim ngạch xuất khẩu. Làn sóng FDI mới bắt đầu từ vài năm trước
tiếp diễn với nhịp độ nhanh hơn, với kết quả khả quan về vốn đăng ký của cả năm
đạt 21,3 tỷ USD và vốn thực hiện đạt hơn 8 tỷ USD. Các mặt xuất khẩu chủ lực
của Việt Nam như thủy sản, gạo, cà phê, rau quả, cao su, hạt tiêu, hạt điều… đều
có kim ngạch xuất khẩu cao. Hàng may mặc, hàng điện tử, linh kiện máy tính…
cũng tận dụng được điều kiện thuận lợi từ WTO mang lại. Tổng giám đốc Công ty
may Việt Tiến, ông Nguyễn Đình Trường có những nhìn nhận lạc quan về tác động
của WTO với doanh nghiệp sau 1 năm: “WTO tạo cho Việt Nam nhiều thuận lợi.
Sinh viên: Đào Xuân Toàn_Lớp QKT48ĐH1 Trang
22
Bài tập lớn _ Kinh tế vĩ mô 1
Riêng trong ngành dệt may thuận lợi nhiều hơn thách thức: không bị giới hạn số
lượng xuất khẩu, có thị trường của 150 nước giảm thuế; công nghệ của các nước
vào ngày càng nhiều”.
Theo nhận định của nguyên Bộ trưởng Thương mại Trương Đình Tuyển, sau
2 năm gia nhập WTO, Việt Nam là đã xuất hiện nhiều cơ hội mới. Luồng vốn đầu
tư nước ngoài (FDI) tăng rất mạnh. 9 tháng, Việt Nam đã thu hút được 56,2 tỷ
USD, tăng gấp 5 lần so với cùng kỳ năm 2007. Thị trường xuất khẩu được mở rộng
đến 150 quốc gia và vùng lãnh thổ, 9 tháng kim ngạch xuất khẩu đã đạt 48,6 tỷ
USD, tăng 39% so với cùng kỳ.
Cùng quan điểm trên, nhưng TS Võ Trí Thành, Viện Quản lý Kinh tế Trung
ương đã chỉ rõ mối tương tác giữa Việt Nam với các nước khi gia nhập WTO. Nếu
như năm 2007, năm đầu tiên Việt Nam vào WTO với tinh thần đầy phấn khởi thì
bước sang năm 2008 các nhà điều hành vĩ mô lại rơi vào tình trạng phải đắn đo về
chính sách. Kinh tế Việt Nam bắt đầu chịu những “cú sốc” khá nặng. Việc biến
động của giá dầu và khủng hoảng tài chính thế giới đã tác động trực tiếp đến Việt

USD, cao hơn mức bình quân cùng kỳ năm trước.
d.Những thách thức, khó khăn và thuận lợi khi nước ta gia nhậpWTO:
Khi chuẩn bị gia nhập WTO, chúng ta đã xác định một số thách thức sau
đây:
Thách thức thứ nhất: đối với việc điều hành kinh tế vĩ mô, trong đó nổi bật
nhất là chính sách tiền tệ; bên cạnh hàng loạt vấn đề khác như: các doanh nghiệp
trong nước phải cạnh tranh khốc liệt với doanh nghiệp nước ngoài vốn có ưu thế
vượt trội; vấn đề hạ tầng kỹ thuật, nhất là nguồn điện thiếu một cách trầm trọng,
giao thông yếu kém, không đi kịp với nhu cầu phát triển kinh tế với tốc độ nhanh;
vấn đề thiếu hụt lực lượng lao động đã qua đào tạo v.v Về xã hội, đó là tình trạng
phân hóa giàu nghèo ngày càng trở nên sâu sắc, đe dọa sự ổn định của xã hội. Về
chính trị, việc gia tăng sự can thiệp chính trị từ bên ngoài. Về văn hóa, nguy cơ
đồng hóa về văn hóa, đánh mất bản sắc văn hóa dân tộc, sự tiếp nhận những yếu tố
văn hóa nước ngoài không phù hợp với văn hóa dân tộc v.v
Thách thức thứ hai, việc xóa bỏ hoặc hạ thấp hàng rào thuế quan đối với
hàng hóa nước ngoài sẽ bắt buộc các doanh nghiệp trong nước phải cạnh tranh
trong thế không cân sức ngay trên "sân nhà". Nhìn chung, các doanh nghiệp trong
Sinh viên: Đào Xuân Toàn_Lớp QKT48ĐH1 Trang
24
Bài tập lớn _ Kinh tế vĩ mô 1
nước còn thua kém khá xa các đối thủ cạnh tranh của nước ngoài cả về tiềm năng
vốn, cả về công tác quản lý điều hành và khả năng tiếp cận thị trường. Đây là thách
thức quan trọng nhất và cũng được nói đến nhiều nhất ngay từ trong quá trình
chúng ta chuẩn bị gia nhập WTO.
Thách thức thứ ba: hệ thống hạ tầng kỹ thuật, trước hết là vấn đề điện và hệ
thống giao thông yếu kém, không đáp ứng được đòi hỏi của sự phát triển kinh tế
đang diễn ra với tốc độ nhanh (khi vốn đầu tư nước ngoài vào nhiều). Đây là một
trong các nguyên nhân quan trọng kéo sụt tỷ lệ vốn thực hiện trên tổng vốn đầu tư
nước ngoài đã đăng ký.
Từ những cơ sở đáng tin cậy, nhiều chuyên gia trong và ngoài nước đã cảnh


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status