Những điểm mới về ngôn ngữ của lược đồ trong sách giáo khoa địa lý 12 - Pdf 23

Khoá luận tốt nghiệp 1
ĐỀ TÀI:
Những điểm mới về ngôn ngữ
của lược đồ trong sách giáo khoa
địa lý 12
Photo hảo hảo
60 trần văn ơn, tdm bình dương
06503 834 809
Phạm Thị Hương - Địa 4A
Khoá luận tốt nghiệp 2
MỤC LỤC
A. PHẦN MỞ ĐẦU 1
1. Lý do chọn đề tài 1
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 1
3. Giới hạn nghiên cứu 2
4. Lịch sử nghiên cứu đề tài 2
5. Phương pháp nghiên cứu 3
B. PHẦN NỘI DUNG 4
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc nghiên cứu ngôn ngữ bản đồ
giáo khoa 4
1.1. Cơ sở lý luận 4
1.1.1. Khái niệm bản đồ giáo khoa địa lý 4
1.1.2. Đặc điểm bản đồ giáo khoa địa lý 4
1.1.3. Vai trò của bản đồ giáo khoa trong dạy học địa lý 8
1.1.4. Phân loại bản đồ giáo khoa địa lý 11
1.1.5. Ngôn ngữ bản đồ giáo khoa địa lý 14
1.2. Hiện trạng hệ thống lược đồ trong sách giáo khoa địa lý 20
1.2.1. Chương trình và sách giáo khoa địa lý có sự thay đổi 20
1.2.2. Hệ thống ngôn ngữ của lược đồ trong sách giáo khoa địa lý 12 phân ban
có mối liên hệ chặt chẽ với bản đồ trong attlat xuất bản trong những năm gần đây
20

đồ trong sách giáo khoa địa lý 54
2.5.1. Lược đồ trong sách giáo khoa địa lý 12 cải cách 54
2.5.2. Lược đồ trong sách giáo khoa địa lý 12 phân ban 54
2.6 Những điểm cần chú ý khi sử dụng lược đồ trong sách giáo khoa địa lý. 55
2.6.1. Những khó khăn khi sử dụng lược đồ ở sách giáo khoa địa lý 55
2.6.2. Những thuận lợi khi sử dụng lược đồ ở sách giáo khoa địa lý 55
2.6.3. So sánh lược đồ trong sách giáo khoa với attlat địa lý 56
C.PHẦN KẾT LUẬN 57
D. TÀI LIỆU THAM KHẢO 59
PHỤ LỤC 60
Phạm Thị Hương - Địa 4A
Khoá luận tốt nghiệp 4
A.PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
“Bản đồ là ngôn ngữ thứ hai của khoa học địa lý” và bản đồ giáo khoa là cuốn
sách giáo khoa địa lý thứ hai. Điều đó nói lên rằng: bản đồ nói chung và lược đồ trong
sách giáo khoa nói riêng có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc dạy và học môn địa
lý. Nó vừa là phương tiện minh hoạ kiến thức cho bài học, đồng thời nó cũng chính là
nguồn tri thức.
Bản đồ đưa vào sách giáo khoa dưới dạng lược đồ giúp giáo viên giảng dạy tốt
hơn. Giáo viên sẽ sử dụng lược đồ trong sách giáo khoa minh hoạ cho bài giảng của
mình, qua đó giúp học sinh hiểu sâu nắm vững kiến thức bài học, đồng thời rèn luyện
cho học sinh kỹ năng bản đồ. Bên cạnh đó lược đồ trong sách giáo khoa cũng là nguồn
tri thức bổ ích cho giáo viên và học sinh mà kênh chữ không trình bày hết được.
Để sử dụng lược đồ trong sách giáo khoa một cách hiệu quả đòi hỏi người giáo
viên phải có vốn kiến thức bản đồ vững chắc, có như vậy việc khai thác kiến thức lược
đồ mới có thể diễn ra nhanh chóng, chính xác và đầy đủ. Các lược đồ trong sách giáo
khoa chứa đựng kiến thức địa lý cũng như kiến thức bản đồ phong phú, đa dạng phục
vụ cho việc dạy và học địa lý.
Hiện nay việc đổi mới phương pháp dạy học đang rất được quan tâm, cùng với nó

- Các vấn đề khác của ngôn ngữ bản đồ giáo khoa không nghiên cứu trong đề tài
này.
4. Lịch sử nghiên cứu đề tài
Lược đồ trong sách giáo khoa cũng là một bộ phận của bản đồ giáo khoa nhưng
có rất ít tài liệu có nghiên cứu tới bản đồ giáo khoa. Các giáo trình về bản đồ giáo
khoa như:
-Ngô Đại Tam:”Bản đồ học” (NXB Giáo dục, 1983)
-Lê Huỳnh: “Bản đồ học” ( NXB Giáo dục, 1994)
-Lê Huỳnh- Lê Ngọc Nam: “Bản đồ chuyên đề” (NXB Giáo dục, 2003)
-Lê Văn Tin: “Bài giảng chuyên đề bản đồ giáo khoa địa lý” (Huế, 2002)
Chỉ đề cập tới lược đồ trong sách giáo khoa ở mức độ rất khái quát, chưa có tác
giả nào đi sâu vào nghiên cứu hệ thống kí hiệu và phương pháp biểu hiện của lược đồ
trong sách giáo khoa
Một số khoá luận của sinh viên có nghiên cứu về hệ thống kí hiệu và phương
pháp biểu hiện của bản đồ như:
- Khoá luận tốt nghiệp của Nguyễn Hằng Nga: “Những điểm mới về nội dung
và phương pháp biểu hiện bản đồ của atlat địa lý Việt Nam xuất bản năm 2004 so với
atlat địa lý Việt Nam xuất bản năm 2001” ( Huế, 2001-2005)
Tuy tác giả có đi sâu vào nghiên cứu phương pháp biểu hiện bản đồ nhưng chỉ
nghiên cứu các phương pháp biểu hiện của các bản đồ trong atlat. Tác giả cũng chưa
đi sâu nghiên cứu về hệ thống kí hiệu sử dụng trong bản đồ.
Mặt khác, sách giáo khoa địa lý 12 phân ban vừa xuất bản năm 2008 nên chưa
có tài liệu nào nghiên cứu sâu về cuốn sách này.
Do vậy đây là một đề tài mới, không chỉ nghiên cứu lược đồ trong sách giáo
khoa 12 phân ban mà còn có sự so sánh với sách giáo khoa địa lý 12 cải cách về hệ
thống kí hiệu và phương pháp biểu hiện.
Phạm Thị Hương - Địa 4A
Khoá luận tốt nghiệp 6
5. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này tác giả sử dụng các phương pháp chủ yếu:

1.1.2.1 Tính khoa học
Bản đồ địa lý dùng trong nhà trường khác với những bản đồ địa lý, bản đồ tra
cứu ở chỗ: “Trọng tải của bản đồ không lớn và có nội dung phù hợp với chương trình
giảng dạy của từng cấp, từng lớp, từng bài học. Do đó bản đồ là một tư liệu khoa học
độc lập trong nhà trường, được xác định và sử dụng như một cuốn sách giáo khoa thứ
hai. Để đáp ứng yêu cầu đó, bản đồ phải có tính khoa học.
-Trước tiên, tính khoa học của bản đồ giáo khoa địa lý được phản ánh qua nội
dung bản đồ. Nội dung thông tin trên bản đồ phải được thể hiện dưới ánh sáng các
quan điểm khoa học của Chủ nghĩa Duy vật biện chứng: Các đối tượng địa lý tự nhiên
cũng như kinh tế xã hội tồn tại khách quan trong mối quan hệ tác động lẫn nhau, vận
động và biến đổi không ngừng bắt nguồn từ những mâu thuẫn trong lòng các đối
tượng đó.
-Địa lý học là một khoa học. Bản đồ giáo khoa địa lý chuyển tải những thông
tin về không gian của khoa học địa lý nhằm phục vụ cho việc giảng dạy và học tập bộ
môn này nên nội dung bản đồ giáo khoa phải có tính khoa học.
-Tính khoa học của bản đồ thể hiện ở tính chính xác của cơ sở toán học. Các
biện pháp toán học đã giúp thể hiện vị trí, hình dáng, kích thước, khoảng cách các đối
tượng lên bản đồ một cách chính xác tương ứng với thực địa.
-Tính khoa học của bản đồ còn được xác định bằng lượng thông tin thích hợp
trên mỗi bản đồ. Nhìn chung lượng thông tin trên bản đồ càng nhiều thì giá trị sử dụng
càng cao, nhưng tuỳ loại hình, nội dung và tỉ lệ bản đồ lượng thông tin đó cũng cần có
Phạm Thị Hương - Địa 4A
Khoá luận tốt nghiệp 8
giới hạn. Vượt qua giới hạn này kí hiệu sẽ dày đặc và chồng chéo nhau, thông tin có
thể rối loạn, sử dụng bản đồ khó khăn và do đó tính khoa học cũng giảm.
-Các kí hiệu bản đồ được sử dụng hợp lý và có quy tắc để thể hiện các tính chất
của đối tượng địa lý và mối quan hệ không gian giữa chúng. Các phương pháp biểu
hiện được sử dụng phù hợp với đặc trưng của các đối tượng và mục đích, tỉ lệ bản đồ
thể hiện nội dung bản đồ dịa lý.
- Biểu hiện ở tính trừu tượng của bản đồ: Bất kì bản đồ nào, đặc biệt là bản đồ tỉ

Phạm Thị Hương - Địa 4A
Khoá luận tốt nghiệp 9
thông qua bản đồ giáo khoa là học sinh, khả năng tư duy trừu tượng cũng như các thao
tác tư duy của các em còn hạn chế nên bản đồ giáo khoa địa lý cần có tính trực quan
cao.
Mặt khác thời gian học tập trên lớp ít, học sinh cần nhanh chóng đọc được nội
dung bản đồ, khai thác được các kiến thức trong bản đồ phục vụ bài học. Vì vậy để
học sinh dễ dàng sử dụng bản đồ thì bản đồ giáo khoa cần có tính trực quan cao.
Biểu hiện của tính trực quan trên bản đồ giáo khoa trước hết là những kí hiệu
tượng hình và tượng trưng (Giống ngoại hình đối tượng hoặc giống một bộ phận đặc
trưng của đối tượng). Màu sắc của đối tượng trên bản đồ gần với màu sắc thực tế của
đối tượng như biển, sông, hồ màu xanh lơ, rừng màu xanh lục,đất màu vàng, núi càng
cao thì màu đỏ, màu nâu càng sẫm, biển càng sâu thì càng xanh đậm Nhờ vậy, học
sinh nhận biết nhanh đối tượng khi đã được rèn luyện kĩ năng bản đồ.
Các kí kiệu trên bản đồ, đặc biệt là trên bản đồ treo tường phần lớn được phóng
to, phi tỉ lệ bản đồ nên dễ thấy, dễ đọc, ngay cả đối với các học sinh ngồi cuối lớp.
Những phương pháp biểu hiện trên bản đồ giáo khoa địa lý là những phương
pháp dễ hiểu, dễ đọc.
Tính trực quan trên bản đồ giáo khoa địa lý là cần thiết. Tuy nhiên, phải căn cứ
vào đặc điểm lứa tuổi và trình độ học sinh để thiết kế bản đồ có mức độ trực quan phù
hợp vì nếu bạn lạm dụng tính trực quan thì tạo cho học sinh thói quen lười suy nghĩ, tư
duy máy móc
Ngoài ra, để đảm bảo tính trực quan thì phải giảm lượng thông tin đưa lên bản
đồ. Như vậy tính trực quan mâu thuẫn với tính khoa học, thể hiện:
- Để đảm bảo tính trực quan thì phải sử dụng kí hiệu phi tỉ lệ nên kích thước và
vị trí của đối tượng sẽ có độ chính xác thấp.
- Các kí hiệu trực quan chiếm một diện tích lớn trên bản đồ nên số lượng các
đối tượng được thể hiện sẽ giảm đi đáng kể, bản đồ sẽ trở nên đơn giản, giá trị sử dụng
không cao, phạm vi sử dụng không rộng.
- Tính trực quan đòi hỏi kí hiệu phải đơn giản và dễ hiểu, các đối tượng địa lý

phương pháp biểu hiện bản đồ thì học sinh mới đọc và hiểu được bản đồ. Trái lại, nếu
thể hiện bản đồ bằng các phương pháp lạ và khó thì học sinh không thể sử dụng được
bản đồ.
- Bản đồ giáo khoa có sự phù hợp với tâm sinh lý lứa tuổi học sinh.
Để có thể phục vụ sát đối tượng, trước tiên phải xem xét tình trạng thể lực của
học sinh mà quan trọng nhất là tầm vóc và thị lực. Thể lực của học sinh Việt Nam kém
hơn trẻ em Âu-Mỹ nên không thể áp dụng một cách máy móc những quy ước, kinh
nghiệm của nước ngoài mà phải xây dựng bản đồ có tỉ lệ, khuôn khổ, kích thước, kí
hiệu, màu sắc cho phù hợp với chiều cao, tư duy, thị lực của các em. Kích thước của
atlat cũng tính toán sao cho phù hợp với tầm tay của học sinh để vừa dễ dàng khi lật
trang sách mà cũng thuận tiện để mang đi về trong cặp sách.
Khả năng tư duy và sở thích thẩm mỹ của mỗi lứa tuổi cũng khác nhau. Đối với
học sinh nhỏ tuổi thì khả năng tư duy trừu tượng yếu, bản đồ cần phải tăng tính trực
quan và có tính thẩm mỹ cao.
- Bản đồ giáo khoa cần phải phù hợp với điều kiện dạy học của nhà trường và
thực tế địa phương.
Phạm Thị Hương - Địa 4A
Khoá luận tốt nghiệp 11
Điều kiện dạy học của nhà trường và thực tế địa phương thường ít được chú ý
khi xây dựng bản đồ giáo khoa địa lý và tác động của các yếu tố này đến nội dung và
hình thức bản đồ là không đáng kể.
Kích thước phòng học và ánh sáng trong phòng chi phối khả năng quan sát bản
đồ của học sinh. Vì vậy, về hình thức bản đồ, chúng phải được trình bày thật tươi
sáng, màu sắc của các đối tượng khác nhau phải phân biệt rõ ràng.
Học sinh một số địa phương do hạn chế thông tin nên khó có thể hình dung
được một số khái niệm như biển đối với học sinh miền núi, băng tuyết đối với học sinh
vùng nhiệt đới nên cần thiết phải tận dụng diện tích bản đồ để thể hiện tranh ảnh
minh hoạ thêm.
- Bản đồ giáo khoa chứa đựng những dự định về phương pháp dạy học.
Chức năng đầu tiên của bản đồ giáo khoa địa lý là minh hoạ cho nội dung của

dụng bản đồ cho học sinh
Hiểu biết về bản đồ và sử dụng tốt bản đồ đã trở thành nhu cầu bức bách của
mọi người và của nhiều ngành trong xã hội từ quản lý nhà nước, quân sự, quản lý khai
thác kinh tế cho đến du lịch, theo dõi thời tiết Tuy vậy chương trình địa lý phổ thông
quy định rất ít giờ cho bản đồ học, thậm chí trong chương trình trước đây hoàn toàn
không có giờ nào. Cho nên thông qua việc sử dụng bản đồ trong giờ lên lớp là con
đường cơ bản để giáo viên bồi dưỡng cho học sinh kiến thức bản đồ học và kỹ năng
sử dụng bản đồ.
Hiện nay việc bồi dưỡng kiến thức bản đồ và rèn luyện kĩ năng bản đồ đang
được tăng cường trong chương trình học địa lý phổ thông.
1.1.3.4. Góp phần rèn luyện thao tác tư duy cho học sinh trong quá trình
nhận thức thực tế khách quan
Theo GS.Ngô Đại Tam (Bản đồ học-NXB GD, 1984), quá trình nhận thức thực
tế thông qua bản đồ diễn ra như sau:
Sơ đồ phương pháp bản đồ nhận thức thực tế
B: Mô hình kí hiệu hình tượng (bản đồ) tức là cái mà nhà bản đồ xây dựng được
qua việc tổng quát hoá trong nghiên cứu bản đồ
1: Quan trắc thực tế khách quan
2: Xử lý thông tin
Phạm Thị Hương - Địa 4A
O
1

O
2
T
1
T
2
B

2
có những điểm nằm ngoài và lớn hơn O
1
.
Vì vậy việc sử dụng bản đồ giáo khoa trong giảng dạy địa lý đã góp phần rèn luyện
các thao tác tư duy cho các em trong quá trình nhận thức thực tế khách quan.
1.1.3.5. Góp phần giáo dục thẩm mỹ cho học sinh
Định hướng nhận thức thẩm mỹ và bồi dưỡng năng lực thẩm mỹ cho thế hệ trẻ
là một trong những nhiệm vụ của giáo dục phổ thông mà mỗi giáo viên, trong đó có
giáo viên địa lý phải có trách nhiệm thực hiện thông qua quá trình giảng dạy của mình.
Trong lịch sử ngành bản đồ học, bản đồ đã từng được xem là một sản phẩm có
tính thẩm mỹ cao với quan niệm: “Bản đồ học là khoa học, kĩ thuật, nghệ thuật và kinh
nghiệm trong lĩnh vực thành lập và sử dụng bản đồ”
Bản đồ hiện tại vẫn còn nhiều yếu tố mang tính thẩm mỹ cao như bố cục cân
đối cả về hình khối lẫn bố cục màu. Kết cấu khung bản đồ trong đa số trường hợp vẫn
có khung ngoài là khung trang trang trí: Các kí hiệu nghệ thuật được sử dụng với tần
suất tương đối cao thông qua các phương pháp biểu hiện trên bản đồ giáo khoa. Ngoài
ra, các yếu tố phụ trợ như biểu đồ, ảnh chụp, tranh vẽ đều được thể hiện với yêu cầu
thẩm mỹ đạt đến một mức độ cần thiết.
Chính vì vậy, việc tiếp xúc, đọc, khai thác bản đồ và tham gia vào quá trình thể
hiện bản đồ có tác dụng tích cực trong quá trình hình thành và nâng cao năng lực thẩm
mỹ cho học sinh.
Nói tóm lại, sử dụng bản đồ giáo khoa trong giảng dạy địa lý nhằm giúp giáo
viên và học sinh ngoài việc thực hiện tốt quá trình truyền đạt- lĩnh hội tri thức địa lý,
còn nhằm trang bị cho học sinh những kiến thức cơ bản về bản đồ học, rèn luyện, phát
triển tư duy và góp phần vào quá trình giáo dục thẩm mỹ cho các em.
1.1.4. Phân loại bản đồ giáo khoa địa lý
Dựa vào đặc điểm sử dụng, bản đồ giáo khoa được phân loại như sau:
1.1.4.1. Mô hình giáo khoa địa lý
Tất cả những gì biểu thị toàn bộ trái đất hay một phần của trái đất dưới dạng thu

Atlat giáo khoa là một tập gồm nhiều bản đồ được sắp xếp một cách có hệ
thống trong đó các bản đồ có quan hệ tương hỗ, bổ sung cho nhau để trở thành một tác
phẩm hoàn chỉnh về mặt nội dung tương ứng một chương trình dạy học nhất định
Atlat giáo khoa có tính hoàn chỉnh, tính hệ thống và tính thống nhất cao
1.1.4.5. Lược đồ trong sách giáo khoa
• Khái niệm lược đồ trong sách giáo khoa
Theo định nghĩa của Bilich và Vaxmuc (Liên Xô cũ) và theo Lâm Quang Dốc,
thì lược đồ là bản đồ giáo khoa đơn giản, có độ chính xác thấp, mức khái quát hoá cao,
được quy định ở mức độ đáng kể bởi nhiệm vụ đặt trước
Phạm Thị Hương - Địa 4A
Khoá luận tốt nghiệp 15
• Đặc điểm của lược đồ trong sách giáo khoa
Đặc điểm của lược đồ thể hiện rõ trong các mặt: cơ sở toán học, nội dung, yếu
tố hỗ trợ và bố cục.
• Về cơ sở toán học
Trong cơ sở toán học, tỷ lệ và phép chiếu đồ thể hiện tính chính xác của bản đồ.
Các lược đồ trong sách giáo khoa có tỉ lệ rất nhỏ, được vẽ theo một phép chiếu đồ nào
đó, có hệ thống kinh tuyến, vĩ tuyến. Đó là các lược đồ dẫn theo tài liệu gốc, tác giả
biên tập lại nội dung.
Có nhiều lược đồ không có tỉ lệ, hình dạng lãnh thổ được vẽ phác, không có
lưới kinh tuyến, vĩ tuyến hoặc lãnh thổ được hình học hoá thành các khối hình học,
không theo tỉ lệ.
Cơ sở toán học của lược đồ biến đổi linh hoạt theo ba hướng chính.
- Có cơ sở toán học đầy đủ như một bản đồ giáo khoa thực thụ
- Hình dạng lãnh thổ được vẽ phác hoạ một phép chiếu đồ nào đó hoặc hình học
hoá, không có tỷ lệ, không có lưới kinh tuyến, vĩ tuyến.
- Số lượng đối tượng là căn cứ để phóng to hay thu nhỏ hình dạng quốc gia,
châu lục.
Như vậy tính chính xác toán học của lược đồ rất thấp do các nguyên nhân:
- Kích thước quyển sách giáo khoa nhỏ, lược đồ phải vẽ tỷ lệ rất nhỏ

chọn các yếu tố cấu thành tới quy trình thành lập lược đồ, sao cho thông tin về đối
tượng, về lãnh thổ được trình bày trực quan nhất, người sử dụng hiểu được lược đồ
một cách nhanh chóng và sáng tỏ. Do vậy ở các lược đồ phổ biến là việc bố cục một
tầng thông tin
Đối với bản đồ giáo khoa, mục đích, tỉ lệ, đặc điểm của đối tượng sử dụng có
vai trò to lớn trong việc quy định các yếu tố khác (Nội dung, mức khái quát, phương
pháp, bố cục), theo quy phạm chặt chẽ. Ngược lại, ở lược đồ, chức năng minh hoạ ý
đồ định trước có ý nghĩa hàng đầu, ảnh hưởng tới các yếu tố khác.
Tóm lại, lược đồ là bản đồ giáo khoa đơn giản, có mức độ khái quát hoá cao
và độ chính xác toán học thấp, kí hiệu và phương pháp biểu hiện, cách thức bố cục ít
chịu sự ràng buộc của quy phạm khi thành lập, có chức năng minh hoạ những ý đồ
định trước là chủ yếu và lượng thông tin đầu vào bằng đầu ra.
• Vai trò của lược đồ trong sách giáo khoa đối với bài học địa lý
Có quan điểm cho rằng những lược đồ trong sách giáo khoa chỉ có tính chất
minh hoạ cho bài viết. Thật ra, lược đồ trong sách giáo khoa không chỉ có nhiệm vụ và
chức năng đơn giản như vậy. Trong mỗi cuốn sách có kênh chữ và kênh hình, kênh
hình có tác dụng minh hoạ cho phần kênh chữ, nhưng cũng có khi bổ sung phần nội
dung mà kênh chữ không thể trình bày hết được.
Đặc biệt những lược đồ trong sách giáo khoa địa lý không những có quan hệ
với bài viết mà còn có mối quan hệ giữa các lược đồ trong sách giáo khoa với nhau.
Mặt khác, nội dung của lược đồ trong sách giáo khoa không chỉ phụ thuộc vào nội
dung sách mà còn có mối liên hệ với bản đồ treo tường cùng chủ đề dùng tại lớp và
nội dung của atlat giáo khoa.
Có thể nói, lược đồ trong sách giáo khoa thể hiện chắt lọc nội dung của bản đồ
giáo khoa treo tường cùng chủ đề. Về mặt nội dung thì bản đồ treo tường phong phú
Phạm Thị Hương - Địa 4A
Khoá luận tốt nghiệp 17
hơn vì diện tích thể hiện rộng. Về độ chính xác thì bản đồ treo tường đáng tin cậy hơn
vì tỉ lệ lớn hơn. Tuy nhiên, cũng chính do tính đơn điệu như vậy về nội dung nên từ
lược đồ học sinh có thể nhanh chóng tìm ra nội dung chính phục vụ bài học ở trên lớp,

là một từ, một cụm từ trong ngôn ngữ tự nhiên
- Kí hiệu phải được định vị trong không gian cụ thể theo một hệ toạ độ nào đó
chuyển từ không gian của đối tượng nghiên cứu sang không gian của bản đồ.
Phạm Thị Hương - Địa 4A
Khoá luận tốt nghiệp 18
Như vậy rõ ràng kí hiệu bản đồ giống với các kí hiệu khác là có cùng các yếu tố
đồ họa có gắn cho nó một nội dung cụ thể về đối tượng. Song kí hiệu bản đồ khác với
các kí hiệu khác ở chỗ nó vừa thông báo về các đặc tính của đối tượng lại vừa phản
ánh về sự phân bố trong không gian của đối tượng
• Phân loại kí hiệu bản đồ
Có nhiều cách phân loại kí hiệu bản đồ
- Dựa vào dạng phân bố, kí hiệu bản đồ được phân thành: kí hiệu điểm, kí hiệu
tuyến và kí hiệu diện
Kí hiệu điểm thường dùng để xác định vị trí hiện tượng là chính, phần lớn
không theo tỉ lệ bản đồ. Dùng để biểu hiện các đối tượng địa lý phân bố theo những
điểm riêng biệt (cột mốc trắc địa, các mỏ, mốc địa giới ) vị trí là đáy của kí hiệu hoặc
là tâm hình học của kí hiệu.
Kí hiệu tuyến: các kí hiệu này cho phép thể hiện chiều dài đúng tỉ lệ và dạng
của địa vật. Chiều rộng của kí hiệu phải tăng lực nét để phản ánh được rõ vì vậy không
thể đo chiều rộng của các đối tượng đó trên bản đồ. Riêng trong bản đồ địa hình, sông
ngòi được biểu hiện theo tỉ lệ. Kí hiệu này dùng để thể hiện loại đối tượng phân bố
theo chiều dài là chính (địa giới, đường giao thông, sông ngòi )
Kí hiệu diện: thường dùng để thể hiện các hiện tượng phân bố theo diện: đất
trồng, rừng, đồng cỏ chăn nuôi, vùng cà phê, đầm lầy Đây là loại ký hiệu theo tỷ lệ.
- Xét về mặt hình thức, kí hiệu bản đồ bao gồm các loại: kí hiệu hình học, kí
hiệu nghệ thuật, kí hiệu chữ số, màu sắc, các dạng biểu đồ
Kí hiệu hình học là các dạng hình học đơn giản như hình vuông, hình tròn, hình
tam giác, hình chữ nhật Những kí hiệu này dễ vẽ, dễ nhớ, chiếm tương đối ít diện
tích, phản ánh chính xác vị trí các đối tượng, dễ so sánh độ lớn của chúng. Số lượng
hình đơn giản thường không lớn nhưng số lượng kí hiệu có thể tăng lên khi sử dụng

giúp học sinh phát hiện ra nội dung cần thiết trong thời gian ngắn phù hợp với thời
gian của tiết học.
Màu sắc trên bản đồ được sử dụng gần với thực tế như biển, sông, hồ màu xanh
lơ, rừng màu xanh lục, biển càng sâu thì màu xanh càng đậm Nhờ vậy học sinh nhanh
chóng biết được đối tượng mà kí hiệu muốn thể hiện
Các kí hiệu trên bản đồ thường được phóng to không theo tỉ lệ bản đồ, có tính
cường điệu mạnh. Do hạn chế khổ giấy trong sách giáo khoa nên bản đồ trong sách
giáo khoa nhỏ, nếu kí hiệu theo tỉ lệ sẽ rất nhỏ, khó quan sát. Để học sinh dễ dàng khi
làm việc với bản đồ thì kí hiệu trong lược đồ thường được phóng to và cường điệu
mạnh
1.1.5.3. Phương pháp biểu hiện bản đồ
Phương pháp biểu hiện chính là sự sử dụng linh hoạt hệ thống kí hiệu bản đồ
vào từng trường hợp cụ thể, nhằm phản ánh tốt nhất các đặc tính của hiện tượng địa lý,
các mối quan hệ giữa chúng trong mỗi không gian lãnh thổ nhất định ( Bản đồ học đại
cương, Nguyễn Thuý Vinh- Lê Văn tin,2003)
Phương pháp biểu hiện bản đồ có nhiệm vụ phản ánh các đối tượng địa lý có
trong thực tế lên bản đồ, giúp người dùng bản đồ phân biệt được các đối tượng, hiện
tượng địa lý với nhau về số lượng, chất lượng, cấu trúc và động lực phát triển. Các đối
tượng, hiện tượng địa lý tồn tại dưới nhiều hình dạng khác nhau: có những đối tượng
Phạm Thị Hương - Địa 4A
Khoá luận tốt nghiệp 20
phân bố theo điểm như nhà máy, hải cảng, công trình văn hoá, :; có những đối tượng
phân bố theo đường như sông ngòi, đường giao thông ; lại có những đối tượng phân
bố theo diện như cánh rừng, vùng cây trồng nông nghiệp ; có những đối tượng phân
bố toàn diện, liên tục như địa hình, đất đai, khí hậu song cũng có những hiện tượng
phân bố cục bộ, phân tán. Vì thế cần phải có những phương pháp biểu hiện phù hợp
với đặc điểm của từng đối tượng, hiện tượng địa lý để đảm bảo được mỗi bản đồ là
một mô hình không gian, phản ánh được sự phân bố, các đặc điểm của đối tượng và
các mối quan hệ của chúng.
• Phân loại

đường khác nhau để biểu hiện số lượng, chất lượng, động lực của hiện tượng.
• Phương pháp đường chuyển động (vectơ)
Phương pháp này được dùng để biểu thị sự di động khác nhau của các hiện
tượng tự nhiên (Dòng biển, hướng gió, đường di cư của động vật ) cũng như những
hiện tượng kinh tế xã hội (các hành trình, sự di dân, vận chuyển hàng hoá ). Ngoài ra,
kí hiệu chuyển động còn dùng để phản ánh các quan hệ kinh tế, chính trị, các mối phụ
thuộc và tác động, để biểu thị rõ các kế hoạch tác chiến
Phương pháp đường chuyển động thường dùng hai kí hiệu: mũi tên và dải băng
kết hợp với màu sắc, lực nét, cấu trúc bên trong để biểu hiện số lượng, chất lượng,
hướng chuyển động của đối tượng còn cấu trúc rất ít biểu hiện
• Phương pháp nền chất lượng
Là phương pháp nằm trong nhóm định vị theo diện gồm ba phương pháp: nền
chất lượng, vùng phân bố và chấm điểm. Phương pháp này dùng để biểu hiện đặc tính
chất lượng của các hiện tượng tự nhiên, kinh tế xã hội, phân bố trên lãnh thổ. Thực
chất của phương pháp này là phân vùng lãnh thổ bằng bản đồ theo những chỉ tiêu đơn
nhất hoặc tổng hợp.
Phương pháp này sử dụng ba dạng nền là nền màu sắc, nền kẻ vạch và nền kí
hiệu dùng để biểu hiện chất lượng của các hiện tượng và thể hiện sự phân bố của hiện
tượng.
• Phương pháp vùng phân bố
Dùng để biểu hiện các hiện tượng phân bố theo từng khu vực riêng lẻ, chiếm
những diện tích nhất định, phân tán trong không gian, không liên tục. Ví dụ: vùng
phân bố một loài động vật, cây trồng, vùng phân bố một dân tộc ít người nào đó
Phương pháp vùng phân bố dùng rộng rãi nhiều loại kí hiệu: kí hiệu diện, kí
hiệu chữ, chữ viết. Có khả năng biểu hiện được vị trí, số lượng, chất lượng, động lực
của hiện tượng.
• Phương pháp chấm điểm
Dùng để thể hiện các hiện tượng phân bố hàng loạt nhưng rời rạc, lẻ tẻ trên lãnh
thổ như điểm dân cư nông thôn, đất gieo trồng
Phương pháp chấm điểm thường dùng hình tròn làm điểm chấm và có khả năng

ước chung, làm tăng độ nổi của địa hình (độ cao và độ sâu). Thực chất phương pháp
này dùng kí hiệu diện.
Phương pháp này biểu hiện được số lượng, chất lượng và sự phân bố, hình dạng
của đối tượng
• Phương pháp nền định lượng
Phương pháp nền định lượng (nền số lượng) là phương pháp biểu thị bản đồ dùng
để phản ánh đặc trưng định lượng của một hiện tượng nào đó.
Phương pháp nền số lượng dùng nền màu, nền kí hiệu.
1.2. HIỆN TRẠNG HỆ THỐNG LƯỢC ĐỒ TRONG SÁCH GIÁO KHOA
ĐỊA LÝ
1.2.1.Chương trình và sách giáo khoa địa lí có sự thay đổi
- Tăng thời lượng tiết học: từ 1tiết/tuần lên 1,5 tiết/tuần
Phạm Thị Hương - Địa 4A
Khoá luận tốt nghiệp 23
- Điểm khác biệt quan trọng trong chương trình địa lý lớp 12 là tính nâng cao,
đòi hỏi học sinh không chỉ nhận biết, mà còn phải giải thích các hiện tượng địa lý tự
nhiên và kinh tê- xã hội, là ở việc lựa chọn và trình bày các nội dung dưới hình thức
các vấn đề. Do đó yêu cầu liên hệ thực tiễn nhiều
- Nhiều bài thực hành hơn, trong tổng số 62 bài, có đến 14 bài thực hành, như
vậy là tỉ lệ trên 16% về thời lượng. Điều này cho thấy vai trò của các bài thực hành
được đề cao trong sách giáo khoa Địa lý 12. Trong đó có 1 bài thực hành yêu cầu vẽ
lược đồ khung lãnh thổ Việt Nam và 4 bài thực hành yêu cầu sử dụng lược đồ để thực
hiện nội dung bài thực hành. Như vậy lược đồ có vai trò quan trọng trong sách giáo
khoa.
- Cách viết sách đòi hỏi thay đổi phương pháp dạy học và ứng dụng phương
pháp mới vào dạy học, đặc biệt chú ý rèn luyện kỹ năng phân tích bảng số liệu, các
biểu đồ, lược đồ.
- Kênh chữ trình bày theo hướng mở. Kênh chữ không trình bày hoàn toàn nội
dung bài học mà theo hướng gợi mở để học sinh vừa liên hệ với kiến thức đã học ở lớp
8 và lớp 9, cùng những kiến thức ngoài thực tế phục vụ cho bài học.

- Nhóm lược đồ dân cư và kinh tế: có 4 lược đồ
+ Lược đồ Tình hình đi học phổ thông năm học 1999-2000
+ Lược đồ Các vùng sản xuất lương thực, thực phẩm ở Việt Nam
+ Lược đồ Các vùng chuyên canh cây công nghiệp
+ Lược đồ Các trung tâm công nghiệp ở Việt Nam
- Nhóm lược đồ vùng: có 7 lược đồ
+ Lược đồ Mật độ dân số đồng bằng sông Hồng
+ Lược đồ Năng suất lúa của đồng bằng sông Hồng
+ Lược đồ Các loại đất chính ở đồng bằng sông Cửu Long
+ Lược đồ kinh tế chung Các tỉnh duyên hải miền Trung
+ Lược đồ kinh tế chung Miền núi và trung du phía Bắc
+ Lược đồ kinh tế chung Tây Nguyên
+ Lược đồ kinh tế chung Đông Nam Bộ
2.1.2. Hệ thống kí hiệu trong các lược đồ sách giáo khoa địa lý 12 cải cách
Lược đồ trong sách giáo khoa cải cách có hệ thống kí hiệu phong phú với cả kí
hiệu điểm, tuyến, diện , sử dụng nhiều biến trị thị giác của kí hiệu
Sử dụng các kí hiệu hình học, dạng đồ họa kết hợp với cấu trúc khác nhau tạo
nên hệ thống kí hiệu phong phú để biểu hiện các đối tượng dịa lý khác nhau
Sau đây là bảng thể hiện những biến trị thị giác của các kí hiệu điểm, tuyến,
diện sử dụng trong lược đồ sách giáo khoa cải cách
Phạm Thị Hương - Địa 4A
Khoá luận tốt nghiệp 25
Bảng1: Biến trị thị giác được sử dụng trong lược đồ sách giáo khoa địa lý
12 cải cách:
Các biến trị
thị giác
Các loại kí hiệu
Điểm Tuyến Diện
Hình Dạng
Cấu trúc


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status