MỤC LỤC
Mở đầu 4
1. Lý do chọn đề tài
2. Mục đích nghiên cứu
3. Đối tượng và khách thể nghiên cứu
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
5. Phương pháp nghiên cứu
6. Kết cấu luận văn
Chương I: Những cơ sở lý luận về nhân cách người lãnh đạo,
quản lý ngành Ngân hàng
8
1. Tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng ta về nhân cách
người cán bộ lãnh đạo, quản lý
8
2. Đặc điểm, yêu cầu của hoạt động lãnh đạo, quản lý ngành ngân hàng 20
3. Những yêu cầu về phẩm chất và năng lực người cán bộ lãnh đạo,
quản lý Agribank (cấp Trung ương)
21
4. Mô hình nhân cách người cán bộ lãnh đạo, quản lý ngành ngân hàng 29
Chương II: Thực trạng chất lượng đội ngũ cán bộ lãnh đạo,
quản lý ở Agribank
38
1. Khái quát về Agribank 38
2. Thực trạng chất lượng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý ở Agribank 40
Chương III: Giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ lãnh
đạo, quản lý ở Agribank trong bối cảnh hội nhập
44
1. Phương hướng phát triển đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý của
Agribank trong bối cảnh hội nhập
44
2. Các giải pháp cơ bảntheo chị nên có thêm giải pháp về rà soát lại
người cán bộ lãnh đạo, quản lý góp phần rất quan trọng trong hoạt động lãnh
đạo, quản lý xây dựng doanh nghiệp.
Agribank qua gần 25 xây dựng và phát triển đang ngày càng lớn mạnh về
quy mô và chất lượng. Qua thực tiễn phát triển của Ngân hàng và yêu cầu phát
4
triển đất nước càng đòi hỏi người cán bộ lãnh đạo, quản lý Agribank phải rèn
luyện về năng lực và phẩm chất, vì đó cũng chính là nhân tố quyết định đến chất
lượng và hiệu quả thực hiện nhiệm vụ chính trị cũng như hoạt động kinh doanh
của Ngân hàng.
Tuy nhiên, qua thực tiễn cho thấy, đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý
Agribank còn có một số mặt khiếm khuyết và bất cập, đặc biệt vấn đề nhân cách
(ở đây xin được đề cập về năng lực, phẩm chất) của cán bộ lãnh đạo, quản lý
Agribank cấp Trung ương là một vấn đề then chốt, đang là vấn đề đòi hỏi phải
có sự đầu tư nghiên cứu nghiêm túc và thận trọng.
Là một người đã tham gia hoạt động lãnh đạo, quản lý cấp đơn vị (Ban) ở
Agribank nhiều năm, mặt khác rất quan tâm đến việc xây dựng nhân cách của
đội ngũ lãnh đạo, quản lý cấp Trung ương của Agribank, hơn nữa, thấy được vai
trò quan trọng của nhân cách người cán bộ lãnh đạo, quản lý trong hoạt động
chuyên môn nói chung, trong lãnh đạo, quản lý Ngân hàng nói riêng v.v Đây
là những lý do để tôi lựa chọn vấn đề tìm ra giải pháp góp phần hoàn thiện nhân
cách người cán bộ lãnh đạo, quản lý Agribank làm đề tài tốt nghiệp. Tuy nhiên,
trong điều kiện và khả năng có hạn, tôi xin giới hạn ở vấn đề tìm hiểu thực
trạng, yêu cầu và một số giải pháp góp phần hoàn thiện nhân cách người cán bộ
lãnh đạo, quản lý Agribank trong bối cảnh hội nhập.
2. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở khảo sát thực trạng nhân cách của người cán bộ lãnh đạo, quản
lý Agribank cấp Trung ương (Trụ sở chính) trong khoảng thời gian từ năm 2009
đến tháng 9/2012, phân tích để thấy được điểm mạnh và những hạn chế của đội
ngũ này trong việc thực thi nhiệm vụ. Từ đó, đề xuất những yêu cầu nhân cách
cần có của đội ngũ cán bộ này trong bối cảnh hội nhập, cũng như đề xuất kiến
2009 đến tháng 9/2012.
5.3. Phương pháp khảo sát và tổng kết kinh nghiệm thực tiễn xây dựng
đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý Agribank cấp Trung ương.
6
6. Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, kết quả nghiên cứu còn được trình bày
trong 3 chương:
Chương I: Những vấn đề lý luận về nhân cách người lãnh đạo, quản lý
ngành Ngân hàng
Chương II: Thực trạng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý ở Agribank
Chương III: Giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ lãnh đạo,
quản lý ở Agribank trong bối cảnh hội nhập
Cuối cùng là danh mục các tài liệu tham khảo.
7
CHƯƠNG I
NHỮNG CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NHÂN CÁCH NGƯỜI LÃNH ĐẠO,
QUẢN LÝ NGÀNH NGÂN HÀNG
Chương I: Những vấn đề lý luận về nhân cách người lãnh đạo, quản lý
ngành Ngân hàng
Đọc đề cương chưa thấy chỗ nào đề cập đến bối cảnh hội nhập
1. Tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng ta về nhân cách người
cán bộ lãnh đạo, quản lý
1.1. Tư tưởng Hồ Chí Minh về nhân cách người cán bộ lãnh đạo, quản lý
- Cấu trúc nhân cách: Đức – Tài
Tư tưởng Hồ Chí Minh về nhân cách con người là một vấn đề có ý nghĩa to
lớn cả lý luận và thực tiễn, là mối quan tâm hàng đầu của Chủ tịch Hồ Chí
Minh. Quan điểm của Người về nhân cách là kết hợp hài hòa truyền thống của
dân tộc Việt Nam với tiếp thu những tinh hoa của nhân loại, đặc biệt là chủ
nghĩa nhân đạo cao cả của C.Mác, Ph.Ăngghen và V.Lênin.
Những luận giải về nhân cách của Người đến nay đã được nhiều nhà khoa
dạy: “ Mỗi đồng chí phải ra sức học tập, rèn luyện, tu dưỡng, củng cố lập trường
giai cấp công nhân… phải tuyệt đối chấp hành đường lối chính sách của Đảng
và chính phủ…Dù cương vị nào, các đồng chí phải luôn gương mẫu, luôn luôn
xứng đáng là người đầy tớ trung thành tận tụy của nhân dân”
3
.
Mặt khác, muốn hoàn thành tốt nhiệm vụ của người cán bộ cách mạng thì
nhất thiết phải có năng lực công tác. Quan điểm của Người về vấn đề năng lực
luôn có tác dụng định hướng và chỉ đạo việc bồi dưỡng nâng cao năng lực của
cán bộ. Theo Người, “có tài mà không có đức thì vô dụng, có đức mà không có
tài thì làm việc gì cũng khó”. Do đó, vấn đề năng lực cũng là vấn đề luôn được
Người quan tâm đặc biệt. Người cán bộ cần có năng lực là gì? Theo Chủ tịch Hồ
Chí Minh, trước hết phải quán triệt sâu sắc và thực hiện nghiêm chỉnh quan
điểm, đường lối, chính sách của Đảng, có trình độ và năng lực cần thiết để đảm
nhiệm trọng trách mà Đảng giao phó.
1
Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 5, Nxb Chính trị quốc gia, H, 2002, tr. 252-253.
2
Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 5, Nxb Chính trị quốc gia, H, 2002, tr. 252
3
Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 9, Nxb Chính trị quốc gia, H, 2002, tr.275
9
Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ ra con đường cơ bản cho người cán bộ cách
mạng tự vươn lên hoàn thiện mình, đó là phải học tập, rèn luyện bền bỉ suốt đời.
Để tu dưỡng, rèn luyện đạt kết quả, đòi hỏi trước hết, mỗi cán bộ, chiến sĩ phải
nêu cao tinh thần đấu tranh phê bình và tự phê bình. Người dạy: “Trên con
đường phát triển cách mạng của mình, Đảng ta, quân đội ta cũng như mỗi đồng
chí chúng ta luôn luôn có ưu điểm và không tránh khỏi có khuyết điểm. Chỉ có
không ngừng đấu tranh, phê bình và tự phê bình, nhận rõ đúng sai, phát huy cái
đúng, khắc phục cái sai mới có thể làm cho mình, cho Đảng, cho cách mạng tiến
tịch Hồ Chí Minh, phải được thực hiện thông qua hoạt động thực tiễn của bản
thân mình; trong sinh hoạt học tập, chiến đấu, công tác, trong các mối quan hệ
với Tổ quốc, với xã hội, với Đảng với nhân dân và bản thân. Thông qua hoạt
động thực tiễn, người cán bộ biết điều chỉnh hành vi của mình và cũng thông
qua thực tiễn, phẩm chất nhân cách của mỗi người được thể hiện rất cụ thể,
phong phú, đa dạng. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Trường kỳ kháng chiến
là một viên đá thử vàng đối với mỗi một quốc dân, đồng thời là một trường học
để rèn luyện cho cán bộ”
6
. Chỉ có thông qua hoạt động thực tiễn, thông qua quá
trình tu dưỡng rèn luyện công phu mới có được phẩm chất nhân cách tốt đẹp và
phẩm chất ấy ngày càng được bồi đắp, nâng cao, hoàn thiện. Người cũng khẳng
định rõ mối quan hệ mật thiết giữa lý luận và hoạt động thực tiễn. Đây là mối
quan hệ biện chứng, quan hệ chặt chẽ. Thực tiễn cần tới lý luận soi đường, dẫn
dắt, chỉ đạo, hướng dẫn, định hướng để không mắc phải bệnh kinh nghiệm, còn
lý luận phải dựa trên cơ sở thực tiễn, phản ánh thực tiễn và phải luôn liên hệ với
thực tiễn, nếu không sẽ mắc phải bệnh giáo điều.
- Những yêu cầu về Nhân – Lễ - Trí – Tín – DũngBên cạnh quan niệm về
Đức - Tài, Hồ Chí Minh còn nêu lên những yêu cầu về Nhân, Lễ, Trí, Tín, Dũng
- những phẩm chất nhân cách cốt lõi.
“Nhân là thật thà thương yêu, hết lòng giúp đỡ đồng chí đồng bào sẵn
lòng chịu cực khổ trước mọi người, hưởng hạnh phúc sau thiên hạ. Vì thế mà
không ham giàu sang, không e cực khổ, không sợ uy quyền. Những người đã
không ham, không e, không sợ gì thì việc gì là việc phải, họ đều làm được
Nghĩa là ngay thẳng, không có tâm tư, không làm việc bậy, không có việc
gì phải giấu đoàn thể, ngoài lợi ích của đoàn thể, không có lợi ích riêng phải lo
toan.
Trí là không có việc gì tư túi nó làm mù quáng, cho nên đầu óc trong sạch,
sáng suốt; dễ hiểu lý; dễ tìm phương hướng; biết xem người, biết xét việc. Vì
vậy mà biết làm việc có lợi, tránh việc có hại cho đoàn thể.
đạo đức, không có đạo đức thì tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân
dân”
8
.
7
Hồ Chí Minh: Về đạo đức cách mạng, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1976, tr 34-35.
8
X.Y.Z: Sửa đổi lối làm việc, Nxb Sự thật, Hà Nội (xuất bản lần thứ 7), 1959, tr 32-33.
12
Đạo đức theo quan điểm của Hồ Chí Minh khác với đạo đức cũ theo quan
niệm trước đây. Nó không phải là đạo đức thủ cựu, mà là đạo đức mới. Đạo đức
mới được hình thành và phát triển cùng với sự nghiệp cách mạng và phục vụ cho
sự nghiệp cách mạng. Nó khác với đạo đức cũ bởi tính cách mạng của nó. Tính
chất của đạo đức mới là mình vì mọi người và mang tính truyền thống dân tộc.
Nội dung của đạo đức cách mạng là:
Cần, Kiệm, Liêm, Chính, Chí công vô tư là những khái niệm đạo đức cũ,
được Hồ Chí Minh tiếp thu, chọn lọc, đưa vào những yêu cầu và nội dung mới.
Người chỉ ra rằng: phong kiến nêu ra cần, kiệm, liêm, chính nhưng không thực
hiện; ngày nay, ta đề ra cần, kiệm, liêm, chính cho cán bộ thực hiện làm gương
cho nhân dân theo để lợi cho nước, cho dân. Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô
tư là một biểu hiện sinh động của phẩm chất "trung với nước, hiếu với dân".
Cần tức là siêng năng, chăm chỉ, cố gắng, dẻo dai. Kiệm là tiết kiệm vật tư,
tiền bạc, của cải, thời gian, không xa xỉ, không hoang phí. Liêm là trong sạch,
không tham lam tiền của, địa vị, danh tiếng. Chính là không tà, là thẳng thắn,
đứng đắn. Các đức tính đó có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Cần mà không
kiệm giống như một chiếc thùng không đáy. Kiệm mà không cần thì lấy gì mà
kiệm. Cần, kiệm, liêm là gốc rễ của chính. Nhưng một cây cần có gốc rễ, lại cần
có cành, lá, hoa, quả mới là hoàn chỉnh.
Cần, kiệm, liêm, chính cần thiết đối với tất cả mọi người. Hồ Chí Minh
viết:
cá nhân là mối nguy hại cho cá nhân con người, cho một đảng và cả dân tộc.
Người viết: "Một dân tộc, một đảng và mỗi con người, ngày hôm qua là vĩ đại,
có sức hấp dẫn lớn, không nhất định hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người
yêu mến và ca ngợi, nếu lòng dạ không trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá
nhân". Chủ nghĩa cá nhân là một trở ngại lớn cho việc xây dựng chủ nghĩa xã
hội. Vì vậy thắng lợi của chủ nghĩa xã hội không thể tách rời thắng lợi của cuộc
đấu tranh trừ bỏ chủ nghĩa cá nhân.
14
Tuy nhiên, cần có nhận thức đúng đắn đâu là chủ nghĩa cá nhân, đâu là lợi
ích cá nhân. Hồ Chí Minh cho rằng: đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân không
phải là giày xéo lên lợi ích cá nhân. Mỗi người đều có cá tính riêng, sở trường
riêng, đời sống riêng của bản thân và của gia đình mình. Nếu những lợi ích cá
nhân đó không trái với lợi ích của tập thể thì không phải là xấu. Theo quan điểm
của Hồ Chí Minh, chỉ ở trong chế độ xã hội chủ nghĩa thì mỗi người mới có điều
kiện để cải thiện đời sống của riêng mình, phát huy tính cách riêng và sở trường
riêng của mình.
- Sửa đổi lề lối, tác phong làm việc
Tháng 10 năm 1947, giữa những ngày căn cứ địa Việt Bắc đang tập trung
chống trả cuộc tấn công ác liệt của thực dân Pháp, tại ATK Thái Nguyên (chiến
khu Việt Bắc), Chủ tịch Hồ Chí Minh viết tác phẩm Sửa đổi lối làm việc. Xuyên
suốt tác phẩm này, Hồ Chí Minh đã làm rõ quan điểm quần chúng, chỉ rõ tầm
quan trọng của mối liên hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân và khẳng định: “Sự
lãnh đạo trong mọi công tác thiết thực của Đảng, ắt phải từ trong quần chúng ra,
trở lại nơi quần chúng”
9
.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nhiều lần nói về tiêu chuẩn của một Đảng
cách mạng, đạo đức cách mạng của đội ngũ cán bộ, đảng viên và coi đó là một
trong những điều kiện cần thiết để Đảng thực hiện vai trò lãnh đạo của mình.
Trong tư tưởng của Người: “Đảng không phải là một tổ chức để làm quan phát
mà nên hiểu thấu. Sự hiểu biết và kinh nghiệm của mình chưa đủ cho sự lãnh
đạo đúng đắn, vì vậy, ngoài kinh nghiệm của mình, người lãnh đạo còn phải
lắng nghe và áp dụng kinh nghiệm của đảng viên, của dân chúng. Thực tế cho
thấy, những nơi công việc không chạy đều, chủ yếu là do cán bộ lãnh đạo không
mật thiết liên hợp với quần chúng. Vì dân chúng rất khôn khéo, rất hăng hái, rất
anh hùng, cho nên “phải học dân chúng, phải hỏi dân chúng, phải hiểu dân
chúng”, nhưng tuyệt đối không phải là “theo đuôi” quần chúng.
Đặc biệt, Người nhấn mạnh: trong quá trình công tác, cán bộ, đảng viên
phải đặt khẩu hiệu và chỉ thị của Đảng cho phù hợp với thực tế và phải kiểm
soát những khẩu hiệu và chỉ thị đó được thực hiện như thế nào. Nói tóm lại, theo
lời Người thì cách làm việc, cách tổ chức, nói chuyện, tuyên truyền, khẩu hiệu,
viết báo, v.v. đều phải lấy câu này làm khuôn phép: “Từ trong quần chúng ra.
Về sâu trong quần chúng”. Để học hỏi và bàn bạc với dân chúng, giải thích cho
dân chúng, tin dân chúng, đưa “chính trị vào giữa nhân gian” nhằm gắn bó mật
thiết với nhân dân, thì cán bộ, đảng viên phải xem xét lại, phải sửa đổi và khắc
phục ngay “bệnh chủ quan” trong tư tưởng, mà biểu hiện là kém lý luận (không
biết giải quyết vấn đề, không đưa lý luận vào thực tiễn), khinh lý luận (chỉ đề
cao kinh nghiệm) và lý luận suông (chỉ lý luận mà không áp dụng được vào thực
tiễn). Căn bệnh tiếp theo là khuyết điểm về sự quan hệ trong Đảng và ngoài
12
Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. CTQG, H, 1995, t.5, tr.249.
16
Đảng cần phải sửa đó là “bệnh hẹp hòi”, thể hiện rõ ở kiểu làm việc ưa xu nịnh
(dìm người tài giỏi, dùng người thuộc cánh hẩu…), không thống nhất giữa toàn
cục và bộ phận (chỉ thấy lợi ích của bộ phận mình, không thấy lợi ích của toàn
thể, ham danh vọng và địa vị), dẫn đến việc phá hoại khối đoàn kết, thống nhất
trong Đảng và khối đại đoàn kết toàn dân-nguồn sức mạnh nội lực của Đảng.
Căn bệnh thứ ba là hệ quả của hai căn bệnh trước chính là “thói ba hoa”, thể
hiện rõ trong cách nói và cách viết (viết dài dòng, loanh quanh, không rõ nội
dung; viết cẩu thả, lúng túng). Những căn bệnh này là kẻ địch bên trong, là bạn
chẽ với dân chúng, cũng như đứng lửng lơ giữa trời, nhất định thất bại”.
Tuy nhiên, học hỏi quần chúng, lắng nghe, tập trung ý kiến của quần
chúng, “hoá nó thành cái đường lối để lãnh đạo quần chúng”, “hoá nó thành
cách chỉ đạo nhân dân”, để quần chúng “đều hiểu, đều tin, đều quyết tâm làm
theo lời kêu gọi của mình”, nhưng tuyệt đối không nên “theo đuôi” quần chúng,
vì nói như Người thì: lắng nghe quần chúng, học hỏi quần chúng để lãnh đạo
quần chúng, phục vụ quần chúng được tốt hơn, nhưng nếu không giữ vững lập
trường, sẽ đánh mất vai trò lãnh đạo của mình.
1.2. Quan điểm của Đảng ta về tiêu chuẩn người cán bộ lãnh đạo, quản lý
trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Đánh giá được tầm quan trọng của công việc xây dựng và kiện toàn đội ngũ
cán bộ, Đảng và Nhà nước ta đã không ngừng quan tâm và có những giải pháp
tích cực nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ trong tình hình mới. Luôn
xác định đây là một trong những nội dung quan trọng của các kỳ đại hội Đảng
đặc biệt là từ Đại hội VI (năm 1986) cho đến nay. Xây dựng và phát triển đội
ngũ cán bộ là một trong ba nội dung của chương trình cải cách hành chính nhà
nước- công việc mà Đảng và Nhà nước đang tập trung sức lực, trí tuệ để giải
quyết. Đảng ta dã từng bước hoàn thiện về lý luận trong vấn đề xây dựng đội
ngũ cán bộ một cách toàn diện từ quan điểm, nguyên tắc, cơ cấu, tiêu chuẩn, vấn
đề quản lý, lãnh đạo, kiểm tra, giám sát và chính sách đối với cán bộ; đặc biệt là
đạo đức, lối sống, hiệu quả công việc của đội ngũ cán bộ trong thời kỳ đẩy mạnh
công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước. Nghị quyết TW3, TW7 khóa VIII, TW
13
Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. CTQG, H, 1995, t.5, tr.285-286.
18
9 khóa IX, đã đề ra nhiều chủ trương biện pháp để nâng cao trình độ mọi mặt
cho đội ngũ cán bộ công chức trong thời kỳ mới. Mục tiêu của việc xây dựng và
nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ trong thời kỳ mới được xác định là: Xây
dựng một đội ngũ cán bộ có chất lượng đồng bộ và toàn diện, có cơ cấu hợp lý,
bộ máy tinh giản, năng động, hoạt động có hiệu quả. Một đội ngũ cán bộ vững
đức, cần kiệm, liêm chính, không lợi dụng chức quyền để tham ô, lãng phí, xa
hoa.
- Có kiến thức kinh tế thị trường và quản trị doanh nghiệp, hiểu biết khoa
học, công nghệ, pháp luật và thông lệ quốc tế.’
- Có khả năng tổ chức kinh doanh đạt hiệu quả kinh tế - xã hội.”
15
Có thể thấy rằng, Nghị quyết Trung ương 3 (khóa VIII) về Chiến lược cán
bộ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và các nghị quyết
của Bộ Chính trị về công tác quy hoạch và luân chuyển cán bộ đã góp phần quy
hoạch chuẩn bị từ xa và tạo nguồn cán bộ dồi dào, làm căn cứ để đào tạo, bồi
dưỡng, xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp vững vàng về chính
trị, trong sáng về đạo đức, thành thạo về chuyên môn, nghiệp vụ, có trình độ và
năng lực, nhất là năng lực trí tuệ và thực tiễn tốt, đủ về số lượng, đồng bộ về cơ
cấu, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
trong giai đoạn hiện nay.
2. Đặc điểm, yêu cầu của hoạt động lãnh đạo, quản lý ngành Ngân hàng
Ngành Ngân hàng đóng vai trò quan trọng đặc biệt đối với nền kinh tế đất
nước. Ngân hàng thương mại là một doanh nghiệp đặc biệt. Hoạt động ngân
hàng thương mại có tính nhạy cảm rất cao. Ngân hàng là nơi công chúng – đặc
biệt là các cá nhân và hộ gia đình gửi một khối lượng lớn tiền nhàn rỗi dưới
dạng tiền gửi không kỳ hạn với thời gian tương đối ngắn và tính thanh khoản
cao. Việc thất thoát các khoản tiền này trong trường hợp ngân hàng phá sản sẽ
trở thành thảm họa cho phần đông công chúng và kéo theo là những tác động
sâu rộng đến đời sống kinh tế - xã hội. Hơn nữa, sự tồn tại, phát triển và sức
khỏe của các ngân hàng thương mại quyết định sự tồn tại, phát triển và sức khỏe
của nền kinh tế. Lịch sử đã chứng kiến nhiều cuộc khủng hoảng của các nền
15
Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Hội nghị BCH Trung ương khóa VIII, Nxb CTQG, HN, 1997, tr 81-82.
20
Riêng đối với Agribank – Ngân hàng Thương mại Nhà nước lớn nhất Việt
Nam vừa đảm nhiệm trọng trách thực hiện nhiệm vụ chính trị chủ lực đầu tư cho
Nông nghiệp, Nông dân, Nông thôn và nền kinh tế, vừa thực hiện nhiệm vụ kinh
doanh, được đông đảo người dân gửi gắm niềm tin (tin tưởng lựa chọn gửi tiền,
giao dịch …), tuy nhiên trong bối cảnh hội nhập, khả năng cạnh tranh của
Agribank không cao v.v… do đó hoạt động lãnh đạo, quản lý ở Agribank cũng
có những nét đặc thù, yêu cầu người cán bộ lãnh đạo, quản lý của Agribank
cũng phải đáp ứng được những yêu cầu nhất định, riêng có.
3. Những yêu cầu về Thực trạng về năng lực và phẩm chất và năng lực
người cán bộ lãnh đạo, quản lý Agribank (cấp Trung ương) => tất cả thực
trạng đưa sang chương 2. Còn chương 1 chỉ dừng ở mức độ cơ sở lý luận,
nên 1.3. sẽ chỉ là những yêu cầu về phẩm chất và năng lực người cán bộ
lãnh đạo, quản lý Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn (cấp
Trung ương)
Hiện nay, vai trò của các nhà kinh doanh được đánh giá to lớn trong quá
trinh xây dựng, phát triển kinh tế trong sự nghiệp dân giàu, nước mạnh. Tuy
nhiên, khi đất nước hội nhập ngày càng sâu vào khu vực và nhất là đã tham gia
vào WTO thì giới doanh nhân Việt Nam nói chung và những người làm trong
ngành ngân hàng nói riêng không phải chỉ có thời cơ mà còn có rất nhiều khó
khăn, thách thức. Để xứng đáng là người tiên phong trong lĩnh vực phát triển
kinh tế, yêu cầu đặt ra cho giới doanh nhân và những người làm ngành ngân
hàng phải khắc phục được những hạn chế cũng như phát huy được những ưu
điểm của mình. Để làm được điều đó, những người lãnh đạo, quản lý phải có
những yêu cầu về phẩm chất và năng lực cho riêng mình.
3.1. Những yêu cầu về phẩm chất:
Khi xem xét phẩm chất, phải chia ra làm 2 nhóm: nhóm những phẩm chất
chung và nhóm những phẩm chất cá nhân.
22
Nhóm những phẩm chất chung, hay còn gọi là phẩm chất “xã hội” như: thế
giới quan, niềm tin, lý tưởng, lập trường, quan điểm, thái độ chính trị, thái độ lao
tham của, tham sắc. Thông qua cái nhân, đó chính là lòng bác ái, yêu nước, yêu
dân, yêu đồng bào, yêu đồng chí, yêu đồng loại theo tinh thần của Chủ tịch Hồ
Chí Minh. Cái tâm không tự nhiên mà có, mà phải rèn luyện, tự tu dưỡng mới có được.
- Phải luôn luôn giữ vững chữ tín trong kinh doanh. Coi trọng chữ “tín”,
bởi chữ “tín” quý hơn vàng; đồng thời, đó là phương châm xử thế trong các mối
quan hệ của người cán bộ lãnh đạo, quản lý ngân hàng. Những hành vi lừa đảo,
chiếm dụng vốn trong thời gian qua đã gây những hậu quả tai hại cho khách
hàng và cho chính sự tồn tại, phát triển của ngành ngân hàng.
- Phải có niềm tin mạnh mẽ vào sự nghiệp của mình và tự tin với chính
mình. Trong môi trường kinh doanh đang có những diễn biến phức tạp, cơ sở
pháp lý chưa hoàn thiện, dư luận xã hội, những yếu tố về vốn, nguồn nhân lực
cũng chưa được thuận lợi hoàn toàn và vô vàn những khó khăn thử thách khác,
đòi hỏi người cán bộ lãnh đạo, quản lý ngành ngân hàng phải có niềm tin vào sự
nghiệp kinh doanh của mình. Tuy nhiên, có niềm tin cũng chưa đủ, mà còn phải
biết tác động, tạo dựng niềm tin đó ở những đồng sự, ở cấp dưới, ở giới lãnh đạo
chính quyền địa phương.
- Trung thực. Hoạt động kinh doanh ngân hàng cần phải kê khai rõ ràng các
khoản đầu tư, nộp thuế đầy đủ cho Nhà nước, báo cáo chính xác về hoạt động
của đơn vị tuân thủ những quy định của pháp luật về an ninh, trật tự, an toàn
xã hội và thực hiễn các nghĩa vụ theo quy định của pháp luật.
- Có định hướng giá trị đúng đắn. Định hướng giá trị là thái độ, là sự lựa
chọn các giá trị vật chất và tinh thần, là hệ thống tâm thế, niềm tin, sở thích của
con người đối với một giá trị nào đó.
Hoạt động kinh doanh ngân hàng trong nền kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay đòi hỏi người cán bộ lãnh đạo, quản lý
ngành ngân hàng phải định hướng tới các giá trị cốt lõi trong các mặt như: Giá
24
trị nhân văn trong kinh doanh; Giá trị đạo đức trong kinh doanh; Giá trị văn hóa;
Giá trị xã hội; Giá trị chính trị; Giá trị kinh tế.
biệt. Đồng thời, tương ứng với nó là kỹ năng chung và kỹ năng chuyên biệt.
Các năng lực chung bảo đảm cho con người có thể tham gia vào mọi hoạt
động. Chẳng hạn như năng lực học tập, óc thông minh, óc quan sát Năng lực
chuyên biệt (hay chuyên môn) là khả năng đảm bảo cho con người tham gia vào
một hoạt động chuyên môn cụ thể, là hiện thực hóa khả năng chung của con
người trong hoạt động chuyên môn đó. Ở đây, chúng ta xác định những năng lực
và kỹ năng chuyên môn của người cán bộ lãnh đạo, quản lý ngành ngân hàng
gồm các yếu tố sau:
- Năng lực chuyên môn: đây là một yêu cầu quan trọng đối với người cán
bộ lãnh đạo, quản lý - nó được thể hiện thành những đòi hỏi cụ thể như sau:
+ Biết lường hết mọi tình huống có thể xảy ra cho doanh nghiệp, cho bộ
phận và phạm vi chức trách của mỗi người đảm nhận.
+ Phải biết giao việc và giao đúng việc cho cấp dưới và tạo điều kiện cho
cấp dưới thực hiện thành công.
Bên cạnh đó, người cán bộ lãnh đạo, quản lý ngân hàng phải hiểu biết sâu
sắc công việc chuyên môn, có tư duy chiến lược và tầm nhìn dài hạn cho dự
nghiệp phát triển kinh doanh. Cụ thể là:
+ Phải có tri thức lý luận về sự phát triển của ngân hàng.
+ Hiểu biết sâu sắc, toàn diện các ưu và hạn chế của đơn vị mình để đưa ra
những quyết sách, quyết định đúng đắn, phù hợp.
- Năng lực tổ chức: đối với người cán bộ lãnh đạo, quản lý ngân hàng thì
yêu cầu về năng lực về tổ chức là phải biết vận dụng, tổ chức đội ngũ cán bộ
nhân viên thực hiện tốt, thật sự khoa học và hiệu quả các nhiệm vụ được giao.
Tạo ra không khí hồ hởi, phấn khởi trong thực hiện nhiệm vụ. Nắm bắt các chủ
trương phát triển mới để luôn luôn giành thế chủ động trong cạnh tranh.
26
- Phải nhạy cảm với cái mới, phải có óc quan sát và phải thông minh để
nhanh chóng tìm ra mục tiêu của hệ thống và con đường ngắn nhất, hiệu quả
nhất để đạt các mục tiêu đã vạch ra.
- Dũng cảm, dám chịu trách nhiệm, quyết đoán - đây là một yêu cầu cần có