Trờng đại học kinh tế quốc dân
phạm thị phơng hiền
hoàn thiện quản lý nhà nớc
đối với quỹ tín dụng nhân dân ở việt nam
Chuyên ngành: kinh tế - tài chính - ngân hàng
ngời hớng dẫn khoa học: pgs.ts. đàm văn huệ
Hà Nội - 2011
MỤC LỤC
Một là: + Tổ chức tuyên truyền, phổ biến, hướng dẫn và tạo điều kiện thuận lợi cho
việc thành lập QTDND cơ sở phù hợp với quy định của pháp luật 31
Hai là:+ Xem xét đề án thành lập và phương án hoạt động QTDND cơ sở của các
sáng lập viên, căn cứ vào những quy định của pháp luật, trả lời bằng văn bản cho các
sáng lập viên về việc đồng ý hay không đồng ý thành lập QTDND cơ sở. Trường hợp
đồng ý phải có văn bản đề nghị ủy ban nhân dân cấp huyện về việc thành lập QTDND
cơ sở 31
Ba là: + Có trách nhiệm tham gia xem xét việc bố trí cán bộ quản trị, kiểm soát, điều
hành của QTDND cơ sở, tạo điều kiện cho cán bộ của QTDND cơ sở làm việc ổn
định, hiệu quả 31
Bốn là:+ Chỉ đạo các ban, ngành có liên quan trong việc xử lý những tồn tại, vướng
mắc trong hoạt động của QTDND cơ sở 31
Năm là: + Giám sát, giúp đỡ QTDND cơ sở triển khai thực hiện phương án củng cố,
chấn chỉnh hoạt động đồng thời thực hiện tốt chức năng quản lý Nhà nước theo quy
định của pháp luật nhằm bảo đảm sự phát triển an toàn, hiệu quả của QTDND trên địa
bàn; chịu trách nhiệm về những hậu quả do tập thể hoặc cá nhân cấp mình quản lý gây
ra cho QTDND cơ sở 31
Thứ ba: Sau giai đoạn củng cố, chấn chỉnh hoạt động, hệ thống QTDND bước vào giai
đoạn hoàn thiện và phát triển. Một số dự án, tổ chức liên kết được thành lập như dự án
“Liên kết nông thôn - thành thị góp phần chống đói nghèo” giữa Cơ quan phát triển
Quốc tế Desjardins (DID) và QTDND Việt Nam, hợp đồng cung cấp giải pháp chuyển
mạch và quản lý giao dịch điện tử nhằm phục vụ dự án liên kết nông thôn, thành thị,
đã đạt được; 79
Thứ năm: Năng lực, trình độ của đội ngũ QTDND ngày càng được nâng cao, đáp ứng tốt
hơn với như cầu và sự phát triển hoạt động của quỹ 79
LỜI MỞ ĐẦU
1. Sự cần thiết của đề tài nghiên cứu:
Quỹ tín dụng nhân dân (QTDND) ở Việt Nam là một loại hình TCTD được
thành lập năm 1993 theo Quyết định số 390/QĐ-TTg ngày 27/7/1993 của Thủ
tướng Chính phủ, của Chính phủ nhằm phát huy tinh thần tương trợ cộng đồng
để khai thác triệt để nguồn vốn nhàn rỗi tại chỗ, đáp ứng các nhu cầu tín dụng nhỏ
tại làng, xã một cách kịp thời. Hiệu quả hoạt động của hệ thống QTDND chính là ý
nghĩa to lớn về mặt xã hội của những đồng vốn tương trợ trong nội bộ dân cư, nhờ
đó mà xoá dần các tệ nạn cho vay nặng lãi, cải thiện đời sống kinh tế của các hộ
thành viên, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở những địa bàn có QTDND được
thành lập; đồng thời thắt chặt thêm mối giao lưu tình làng, nghĩa xóm giữa các
thành viên QTDND. Ngay từ khi mới thí điểm thành lập QTDND, các tầng lớp
nhân dân trong địa bàn đã tự nguyện tham gia và nhiệt tình hưởng ứng, tham gia
thành lập Quỹ (sửa lại), bước đầu đáp ứng kịp thời các nhu cầu về vốn sản xuất,
kinh doanh và phục vụ đời sống cho các thành viên, t và dần từng bước xoá đi mặc
cảm về sự đổ vỡ HTX tín dụng của những năm 1989, 1990. Hoạt động của hệ thống
QTDND đã góp phần tích cực vào công cuộc xóa đói, giảm nghèo, chuyển dịch cơ
cấu kinh tế và phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn nông nghiệp - nông thôn.
Những kết quả đạt được đã khẳng định QTDND là một mô hình kinh tế hợp tác
kiểu mới trong lĩnh vực hoạt động tiền tệ, tín dụng ngân hàng đã được xây dựng và
phát triển thành công tại Việt Nam.
Tuy nhiên, hiện nay, đứng trước những biến chuyển khôn lường của nền kinh
tế thế giới nói chung và kinh tế Việt Nam nói riêng, QTDND cũng đang phải chịu
sức ép cạnh tranh rất lớn. Mặt khác, bên cạnh những kết quả bước đầu đã đạt được,
hoạt động của các QTDND trong thời gian qua đã bộc lộ những hạn chế, tồn tại cần
khắc phục như: Trình độ cán bộ quản lý, điều hành còn yếu kém, một số cán bộ lợi
dụng, tham ô trục lợi làm thất thoát tài sản của Quỹ, chất lượng hoạt động còn nhiều
chứng, duy vật lịch sử và phương pháp logic; ngoài ra còn sử dụng các phương
pháp khác như: Thu thập tài liệu, thống kê, phân tích, tổng hợp, khảo sát thực tế, từ
đó đánh giá, đối chiếu, so sánh.
6. Kết cấu luận văn:
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận
văn được trình bày theo kết cấu gồm có 3 chương, cụ thể như sau:
- Nguồn dữ liệu thứ cấp:
- Nguồn dữ liệu sơ cấp:
Chương 1: Một số vấn đề chung về quản lý nhà nước đối với Quỹ tín dụng
nhân dân
Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nước đối với Quỹ tín dụng nhân dân ở Việt Nam.
Chương 3: Giải pháp tăng cường quản lý nhà nước đối với Quỹ tín dụng nhân dân.
Trong quá trình hoàn thành luận văn, tác giả đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt
5
tình, sự chỉ bảo kỹ lưỡng của thầy giáo – PGS.TS Đàm Văn Huệ - Giảng viên
trường Đại học Kinh tế quốc dân. Tác giả(Xem lại)
Em xin chân thành cảm ơn PGS.TS Đàm Văn Huệ đã giúp đỡ tác giả em hoàn
thành đề tài này!
CHƯƠNG 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
ĐỐI VỚI QUỸ TÍN DỤNG NHÂN DÂN
1.1. Tổng quan về Quỹ tín dụng nhân dân
1.1.1 Nguồn gốc ra đời của Quỹ tín dụng nhân dân
Xã hội loài người đã trải qua 5 hình thái kinh tế - xã hội. Khi chuyển từ nền
kinh tế tự cung tự cấp sang nền kinh tế hàng hóa cũng là lúc trong xã hội, sự phân
công lao động và chuyên môn hóa bắt đầu được hình thành. Đây cũng là thời điểm
con người dần được giải phóng khỏi chế độ nô lệ và được tự do hành nghề, tự do
kinh doanh sản xuất. Tuy nhiên, khi sự phân công lao động trong xã hội ngày càng
rõ nét, thì việc kinh doanh sản xuất cũng có khoảng cách rõ rệt giữa những người
làm ăn được và những người làm ăn thua lỗ. Những người làm ăn thua lỗ có thể do
Các nhóm TDHT tự phát như vậy ra đời đã giúp các thành viên giải quyết
được một khó khăn lớn của họ là tiếp cận với vốn vay để đầu tư, sản xuất, kinh
doanh, tiêu dùng , đẩy lùi thị trường tín dụng đen với lãi suất cho vay “cắt cổ”.
Kèm theo đó, các nhóm này cũng huy động vốn, đặc biệt là huy động từ các thành
viên và trả lãi cho họ, do đó đã khuyến khích họ tích lũy tài sản, dần dần thoát khỏi
cảnh nghèo đói. Như vậy, sự ra đời của các nhóm TDHT đã hỗ trợ rất nhiều cho các
thành viên – chủ yếu là các hộ gia đình nghèo ở nông thôn, hỗ trợ cho hoạt động sản
xuất kinh doanh của họ, và qua đó cũng đã hỗ trợ cho sự phát triển của kinh tế địa
phương nói chung, góp phần tạo công ăn việc làm, ổn định an ninh chính trị và trật
tự xã hội, phát huy nội lực tại chỗ cho tăng trưởng kinh tế. Đây chính là nguồn gốc
ra đời của QTDND.
1.1.2 Sự hình thành và phát triển của Quỹ tín dụng nhân dân
7
1.1.2.1 Trên thế giới
Sự ra đời của các nhóm TDHT mang lại nhiều lợi ích to lớn. Song bên cạnh
những lợi ích mà nó đem lại, các nhóm TDHT cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro trong quá
trình hoạt động. Khi các nhóm này huy động vốn (cả trong và ngoài thành viên), có
thể phát sinh rủi ro không hoàn trả được tiền gửi của người dân trong trường hợp
nhóm hoạt động bị thua lỗ, phá sản. Do đó, cần phải có sự quản lý, giám sát chặt
chẽ của các cơ quan nhà nước để hoạt động của các nhóm này lành mạnh, an toàn
và phát triển hơn.
Ngày nay, nhiều nước trên thế giới đã có những định hướng rõ ràng đối với sự
tồn tại và phát triển của các nhóm TDHT; Việc làm đầu tiên là đưa các nhóm này ra
hoạt động công khai, chính thức như các TCTD, tham gia vào thị trường tiền tệ, tín
dụng, ngân hàng. Theo thống kê của Liên minh Hợp tác xã (HTX) quốc tế, các
nhóm TDHT xuất hiện ở trên 150 quốc gia và đã chính thức trở thành các tổ chức
TDHT ở trên 100 quốc gia. Tại mỗi quốc gia, các tổ chức TDHT này đều tồn tại ở
những mô hình đặc thù khác nhau với những tên gọi khác nhau tùy theo bối cảnh ra
đời, điều kiện kinh tế xã hội ở mỗi nước.
Ở Đức, các tổ chức TDHT được gọi chung là các Ngân hàng hợp tác xã (NH
nông thôn là một thiếu sót lớn trong sự phát triển kinh tế, xã hội của đất nước.
Chính vì thế, ngay từ những ngày đầu của thời kỳ đổi mới, Đảng và Chính phủ
Việt Nam đã dành nhiều sự quan tâm trong chỉ đạo, điều hành và hoạch định các cơ
chế, chính sách về nông nghiệp và phát triển nông thôn mà đỉnh cao của sự quan
tâm này là Quyết định số 390/QĐ-TTg ngày 27/7/1993 của Thủ tướng Chính phủ
thành lập mô hình QTDND.
Chủ trương thí điểm thành lập mô hình QTDND được Ban Bí thư Trung ương
Đảng thực hiện từ giữa năm 1993, sau Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm của Ban
chấp hành Trung ương khoá VII về tiếp tục đổi mới, phát triển kinh tế - xã hội nông
nghiệp, nông thôn.
Khi bắt đầu thí điểm mô hình này, QTDND đã được xác định cụ thể là loại
hình TCTD hợp tác hoạt động theo nguyên tắc tự nguyện, tự chủ, tự chịu trách
9
nhiệm về kết quả hoạt động, thực hiện mục tiêu chủ yếu là tương trợ giữa các thành
viên, nhằm phát huy sức mạnh của tập thể và của từng thành viên giúp nhau thực
hiện có hiệu quả các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và cải thiện đời sống.
Hoạt động của QTDND phải bảo đảm bù đắp chi phí và có tích lũy để phát triển.
Nghị quyết Đại hội Đại biểu lần thứ VIII của Đảng đã chỉ rõ: "Tổ chức tốt hệ
thống QTDND, quản lý chặt chẽ hoạt động của các Ngân hàng Thương mại và các
chi nhánh Ngân hàng nước ngoài. Có biện pháp đồng bộ để giảm dần lãi suất, tạo
điều kiện cho đầu tư phát triển" (Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII -
Mục Tiếp tục đổi mới cơ chế quản lý kinh tế). Nghị quyết của Đảng cũng đã chỉ rõ:
Kinh tế hợp tác mà nòng cốt là các HTX là hình thức liên kết tự nguyện của những
người lao động nhằm kết hợp sức mạnh của từng thành viên với sức mạnh tập thể
để giải quyết có hiệu quả hơn những vấn đề của sản xuất, kinh doanh và đời sống.
Phát triển kinh tế hợp tác với nhiều hình thức đa dạng từ thấp tới cao, từ tổ nhóm
hợp tác đến HTX; tuân thủ nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, cùng có lợi, quản lý
dân chủ. Nhận thức rõ tầm quan trọng của QTDND trong hệ thống TCTD nói chung
và trong thành phần kinh tế HTX Việt Nam nói riêng đối với sự nghiệp phát triển
kinh tế - xã hội đất nước, Bộ Chính trị đã khẳng định: "Thí điểm thành lập QTDND
thuận, cụ thể là:
Một là: Nhận tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm và
các loại tiền gửi khác
Hai là: Phát hành chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, trái phiếu để huy động vốn
trong nước và nước ngoài
Ba là: Cấp tín dụng dưới các hình thức: Cho vay; chiết khấu, tái chiết khấu
công cụ chuyển nhượng và giấy tờ có giá khác;.bảo lãnh ngân hàng; phát hành thẻ
tín dụng; bao thanh toán trong nước, bao thanh toán quốc tế với các ngân hàng được
phép thực hiện thanh toán quốc tế và các hình thức cấp tín dụng khác sau khi được
NHNN chấp thuận.
11
Bốn là: Mở tài khoản thanh toán cho khách hàng.
Năm là: Cung ứng các phương tiện thanh toán.
Sáu là: Cung ứng các dịch vụ thanh toán bao gồm: Dịch vụ thanh toán trong
nước (séc, lệnh chi, ủy nhiệm chi, nhờ thu, ủy nhiệm thu, thư tín dụng, thẻ ngân
hàng, dịch vụ thu hộ và chi hộ); Dịch vụ thanh toán quốc tế và các dịch vụ thanh
toán khác sau khi được NHNN chấp thuận.
Như vậy, so với mô hình QTDND Trung ương trước đây, NH HTX đã được
phép thực hiện một số nghiệp vụ của một ngân hàng, điều đó là cơ hội đối với sự
phát triển và lớn mạnh của loại hình TCTD này.
b. Quỹ tín dụng nhân dân:
Giới hạn hoạt động của QTDND hẹp hơn so với mô hình NH HTX. QTDND
chỉ được hoạt động một số nghiệp vụ dưới đây:
Một là: Nhận tiền gửi bằng đồng Việt Nam trong các trường hợp: tiền gửi của
thành viên, tiền gửi từ các tổ chức, cá nhân không phải là thành viên theo quy định
của NHNN.
Hai là: Cho vay bằng đồng Việt Nam trong các trường hợp: Cho vay đối với
khách hàng là thành viên và cho vay đối với khách hàng không phải là thành viên
theo quy định của NHNN.
Ba là: Cung ứng dịch vụ chuyển tiền, thực hiện các nghiệp vụ thu hộ, chi hộ
người tiết kiệm đến người đầu tư thông qua các thị trường tài chính trực tiếp. Hình
thức chuyển giao vốn này phần lớn thông qua vai trò người môi giới là người chỉ
được hưởng lợi dưới hình thức hoa hồng cho việc kết nối cung cầu vốn mà không
có quyền thực hiện giao dịch cho bản thân. Như vậy, trong hình thức tài chính tài
chính trực tiếp này, người tiết kiệm (người cho vay) sở hữu các công cụ tài chính do
người đầu tư (người đi vay) phát hành, hưởng toàn bộ lợi nhuận cũng như chịu
đựng toàn bộ rủi ro mang lại từ các công cụ tài chính đó.
Hình thức đầu tư tài chính trực tiếp có những bất lợi mà mà bản thân từng
người cho vay cá nhân không có khả năng khắc phục hoặc gặp nhiều khó khăn
trong quá trình đầu tư như sau:
13
Thứ nhất: Người cho vay phải trả chi phí cao cho việc thu thập và phân tích
thông tin cũng như việc kiểm tra, giám sát hoạt động của người đi vay vốn. Vì lý
do trên những người cho vay cá nhân thường bỏ qua giai đoạn này hoặc nhờ các kết
quả phân tích thị trường của người khác. Do thiếu sự phân tích thông tin một cách
kịp thời, thường xuyên và có hiệu quả hoặc do “thông tin bất cân xứng” nên quá
trình đầu tư vốn của người cho vay trực tiếp trở nên kém hấp dẫn vì rủi ro cao.
Thứ hai: Do sự hạn chế về “tính lỏng" của các công cụ tài chính đang nắm giữ
(các chứng khoán dài hạn do phía người đi vay phát hành không phải lúc nào cũng
dễ dàng chuyển sang tiền mặt) nên những người cho vay cá nhân không thật sự bị
lôi cuốn hấp dẫn bởi hình thức đầu tư tài chính trực tiếp, vì trong quá trình đầu tư
họ luôn mong muốn có thể chuyển đổi nhanh chóng các công cụ tài chính nói trên
thành tiền mặt khi có nhu cầu chi tiêu cần thiết.
Thứ ba: Mức độ rủi ro trong quá trình đầu tư tài chính trực tiếp thường cao,
chủ yếu do biến động giá chứng khoán trên thị trường khi người sở hữu các công
cụ tài chính thực hiện sự chuyển hoán nó sang tiền mặt hoặc sang các công cụ tài
chính khác.
Tuy nhiên, sự xuất hiện của các trung gian tài chính đã khắc phục được những
hạn chế nói trên của hình thức đầu tư tài chính trực tiếp và kích thích nhu cầu đầu tư
vốn của những người cho vay vì các trung gian tài chính có lợi thế hơn hẳn so với
hiện được điều này bởi vì các khoản vốn gửi vào không đồng nhất về thời gian gửi
vào và rút ra; vì vậy, trong các trung gian tài chính luôn tồn tại một lượng vốn ổn
định có thể sử dụng cho vay dài hạn.
Như vậy, trong nền kinh tế thị trường, luồng vốn có thể di chuyển từ phía
những người cho vay đến những người đi vay thông qua hình thức đầu tư tài chính
trực tiếp và hình thức đầu tư tài chính gián tiếp; tuy nhiên với chức năng môi giới
và biến đổi tài sản đặc trưng vốn có, các trung gian tài chính có khả năng tạo ra lợi
thế rõ rệt so với hình thức đầu tư tài chính trực tiếp. Vì vậy, hệ thống trung gian tài
chính có vai trò hết sức quan trọng đối với kinh tế thị trường.
Sơ đồ sau đây thể hiện luồng vốn di chuyển từ phía người cho vay đến người
15
đi vay:
Tài chính gián tiếp
Vốn
Vốn Vốn
Vốn Vốn
Tài chính trực tiếp
1.1.4.2 Cơ cấu tổ chức hệ thống trung gian tài chính
Về cơ bản hệ thống trung gian tài chính bao gồm các ngân hàng trung gian và
các tổ chức tài chính phi ngân hàng.
1.1.2.1. Các ngân hàng trung gian
Trong hệ thống ngân hàng hai cấp, các ngân hàng không được làm nhiệm vụ
phát hành tiền, chỉ làm trung gian tín dụng và trung gian thanh toán trong nền kinh
tế được gọi chung là ngân hàng trung gian.
Thuật ngữ "trung gian" trong khái niệm ngân hàng trung gian bao gồm ý
nghĩa sau:
* Trung gian giữa Ngân hàng Trung ương với nền kinh tế:
chính quyền (có tư cách pháp nhân), hoạt động chính là kinh doanh tiền tệ bằng
việc nhận các khoản tiền gửi có trả lãi để thu hút vốn nhàn rỗi, rồi dùng chính
những khoản đó để cho vay lại đối với nền kinh tế"; hay nói một cách khác "Ngân
hàng trung gian là một loại định chế tài chính mà hoạt động thường xuyên là nhận
tiền gửi, sử dụng số tiền đó để vay và cung ứng các dịch vụ thanh toán" (Giáo trình
lý thuyết tiền tệ và ngân hàng, nhà xuất bản thống kê 2001, trang 135).
Các ngân hàng trung gian hiện nay có thể được tổ chức dưới hình thức ngân hàng
chuyên doanh, ngân hàng kinh doanh tổng hợp hoặc ngân hàng đa năng; trong đó:
Ngân hàng chuyên doanh là những ngân hàng chỉ hoạt động trong một lĩnh
vực nhất định như Ngân hàng tiết kiệm, Ngân hàng tiết kiệm xây dựng nhà ở, Ngân
hàng cầm cố, Ngân hàng thế chấp bất động sản, Ngân hàng tín dụng nông thôn
Ngân hàng kinh doanh tổng hợp là những ngân hàng ngoài việc thực hiện các
nghiệp vụ truyền thống (như huy động, cho vay và thực hiện các dịch vụ thanh
toán) còn được mở thêm các nghiệp vụ mới như bảo lãnh, làm đại lý, uỷ thác và
nhận uỷ thác, Một ngân hàng kinh doanh tổng hợp còn có thể coi là ngân hàng
làm nghiệp vụ của nhiều ngân hàng trung gian.
Ngân hàng đa năng là các ngân hàng ngoài việc thực hiện các nghiệp vụ ngân
hàng truyền thống và mới phát triển còn được kinh doanh và làm các dịch vụ về
17
chứng khoán và bảo hiểm trực tiếp hoặc thông qua các công ty con.
Tuỳ theo mỗi quốc gia, các loại ngân hàng này có thể có những tên gọi khác
nhau, nhưng căn cứ vào tính chất kinh doanh và mục đích hoạt động người ta có thể
phân chia các ngân hàng trung gian thành 2 loại căn bản là ngân hàng thương mại
và các ngân hàng trung gian khác hoạt động có tính chất đặc biệt.
♦ Ngân hàng thương mại (NHTM):
Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt
động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật các
TCTD 2010 nhằm mục tiêu lợi nhuận.
Mặc dù chỉ có một biên giới rất mong manh giữa NHTM với các ngân hàng
trung gian khác nhưng người ta vẫn tách NHTM ra một nhóm riêng vì những lý do
hạ tầng hoặc các lĩnh vực kinh tế ưu tiên của Nhà nước, loại thứ hai chuyên hoạt
động dưới hình thức hùn vốn, góp vốn vào các doanh nghiệp nhỏ và vừa thuộc lĩnh
vực tư nhân và cho vay trung, dài hạn các doanh nghiệp này.
Về tính chất sở hữu, Ngân hàng phát triển có thể được tổ chức dưới hình
thức sở hữu Nhà nước, hình thức cổ phần mà Nhà nước nắm cổ phần chi phối hoặc
cũng có thể là ngân hàng liên doanh với nước ngoài.
Về mục tiêu hoạt động, ngân hàng phát triển hoạt động mang tính chất phục
vụ sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước trên cơ sở tập trung vốn cho những
khu vực kinh tế thiết yếu có tính chất quyết định đến sự phát triển kinh tế xã hội
của quốc gia, mục tiêu lợi nhuận là thứ yếu; vì thế mạng lưới tổ chức của ngân hàng
phát triển không mở rộng, thông thường nó chỉ mở chi nhánh ở những địa điểm
trọng tâm.
* Ngân hàng chính sách (NHCS)
Ngân hàng chính sách là ngân hàng của Nhà nước, hoạt động không vì mục
tiêu lợi nhuận mà phục vụ cho các đối tượng chính sách nhằm thực hiện các chính
sách kinh tế xã hội nhất định của quốc gia.
Về tính chất sở hữu, để đảm bảo trách nhiệm và sự chủ động trong việc phục
19
vụ các mục tiêu chính sách của Nhà nước, NHCS phải là ngân hàng thuộc sở hữu
của Nhà nước hoặc trong trường hợp là ngân hàng cổ phần thì trong đó Nhà nước
nắm cổ phần chi phối và các cổ đông còn lại là các doanh nghiệp nhà nước.
Về mục tiêu hoạt động, NHCS hoạt động nhằm tài trợ vốn cho các đối tượng
chính sách vì mục đích xã hội và phát triển kinh tế nên không vì mục tiêu lợi nhuận;
tuy nhiên để đảm bảo tồn tại và phát triển, NHCS phải đảm bảo mục tiêu bảo toàn
vốn trên cơ sở hoạt động có tính chất vay - trả sòng phẳng; đồng thời NHCS cũng
được hưởng các chế độ ưu đãi của Nhà nước như cấp bù chênh lệch lãi suất, miễn,
giảm thuế, bù đắp rủi ro
* Các TCTD hợp tác
TCTD hợp tác là TCTD thuộc sở hữu tập thể hoặc cổ phần, được thành lập
theo nguyên tắc tự nguyện bằng vốn góp của các thành viên và chủ yếu cho các
trung vào lĩnh vực thương mại và công nghiệp, các tổ chức tài chính phi Ngân hàng
tập trung vốn đầu tư chủ yếu vào các lĩnh vực chứng khoán, cho vay tiêu dùng, cho
thuê tài chính
Trong nền kinh tế thị trường có nhiều loại hình tổ chức tài chính phi Ngân
hàng. Căn cứ vào đặc trưng cơ bản của chúng có thể phân ra làm 3 loại sau đây.
♦ Các tổ chức tiết kiệm theo hợp đồng:
Các tổ chức tiết kiệm theo hợp đồng là các tổ chức tài chính mà tài sản nợ của
nó được hình thành từ các hợp đồng, theo đó các tổ chức này nhận được các khoản
tiền nộp theo định kỳ, đồng thời có trách nhiệm chi trả cho những người sở hữu hợp
đồng nếu và khi các sự kiện quy định trong hợp đồng nảy sinh. Ở đây các các khoản
tiền nhận được đều đặn theo định kỳ, trong khi trách nhiệm chi trả chỉ diễn ra khi
các sự kiện nảy sinh theo quy định trong hợp đồng; vì vậy, sự chênh lệch về thời
gian giữa thu và chi của các quỹ này tạo cơ hội cho các tổ chức tiết kiệm theo hợp
đồng có thể sử dụng số vốn tạm thời nhà rỗi để đầu tư. Thuộc loại hình này có các
Công ty bảo hiểm và các Quỹ trợ cấp hưư trí.
♦ Các trung gian đầu tư:
Đây là loại hình trung gian tài chính thực hiện việc huy động vốn bằng cách
21
phát hành các loại giấy tờ có giá như tín phiếu, trái phiếu đồng thời sử dụng nguồn
vốn đó vào các mục đích riêng biệt vì quyền lợi của các chủ đầu tư nhỏ (người cho
vay) là những người không có đủ điều kiện trực tiếp tham gia vào thị trường tài
chính. Các trung gian đầu tư bao gồm 2 loại hình cơ bản là Công ty tài chính và
Quỹ đầu tư. Đặc trưng của các tổ chức này là huy động vốn trung, dài hạn để đầu tư
vào một số lĩnh vực chuyên môn hoá có lợi thế để giảm áp lực cạnh tranh từ phía
các ngân hàng.
♦ Các tổ chức tài chính phi ngân hàng khác:
Trong hệ thống các tổ chức tài chính phi ngân hàng, bên cạnh những tổ chức
có vai trò trung gian tài chính còn có những tổ chức không đảm nhiệm vai trò trung
gian tài chính mà chỉ làm các dịch vụ uỷ thác và kinh doanh trên thị trường tài chính
để tìm kiếm lợi nhuận như Công ty (ngân hàng) đầu tư chứng khoán, Công ty (ngân
thống QTDND phát triển an toàn, bền vững.
Có thể nói với tính chất là một loại hình TCTD được tổ chức và hoạt động
theo mô hình kinh tế hợp tác, lại được liên kết chặt chẽ hỗ trợ nhau trong hoạt động,
QTDND là loại hình TCTD rất phù hợp với mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội khu
vực nông nghiệp và nông thôn trong điều kiện kinh tế thị trường ở cả các nước đã
phát triển và các nước đang phát triển. Sự phát triển thành công mô hình QTDND
Desjardins ở Canada, mô hình Ngân hàng HTX ở Cộng hoà liên bang Đức và đặc
biệt những kết quả đạt được qua quá trình thí điểm QTDND ở Việt Nam trong thời
gian qua là những minh chứng hết sức rõ ràng về vai trò nói trên của QTDND.
Ngân hàng HTX là loại hình TCTD phát triển ở bậc cao nhất của trong hệ
thống các TCTD hợp tác. Về tính chất sở hữu, Ngân hàng HTX có thể được tổ
chức dưới hình thức sở hữu tập thể hoặc cổ phần, chủ yếu do các doanh nghiệp
HTX thuộc các ngành nghề khác nhau (trong đó các TCTD hợp tác chiếm đại bộ
phận) góp vốn thành lập nhằm cung cấp các dịch vụ tài chính ngân hàng cho các
thành viên và cả khách hàng ngoài thành viên; đồng thời hỗ trợ nâng cao hiệu
quả hoạt động sản xuất, kinh doanh của các thành viên (trong đó mục tiêu quan
trọng nhất là điều hoà vốn và hỗ trợ nâng cao hiệu quả hoạt động của các TCTD
23
hợp tác thành viên).
Về tổ chức và hoạt động, Ngân hàng HTX được thực hiện kinh doanh mọi
hoạt động nghiệp vụ theo mô hình ngân hàng đa năng; các ngân hàng HTX có thể
huy động, cho vay cũng như cung cấp các dịch vụ ngân hàng cho các thành viên và
cả khách hàng ngoài thành viên. Về phạm vi hoạt động, ngân hàng HTX không bị
giới hạn về địa bàn hoạt động, có thể mở rộng mạng lưới chi nhánh trên phạm vi
toàn quốc gia và kể cả mở chi nhánh ngân hàng ở nước ngoài khi cần thiết.
Với tính chất là loại hình TCTD phát triển ở bậc cao nhất trong hệ thống các
TCTD hợp tác, ngân hàng HTX là loại hình TCTD có vai trò quan trọng và không
thể thiếu được trong hệ thống các ngân hàng trung gian ở các nước có nền kinh tế
thị trường phát triển. Trong điều kiện Việt Nam đang chuyển đổi nền kinh tế kế
hoạch hoá tập trung sang kinh tế thị trường định hướng XHCN; đồng thời đang phát
phát triển vươn lên, có thể nói QTDND nói riêng và loại hình TCTD hợp tác nói
chung không những chỉ là loại hình TCTD không thể thay thế được trong hệ thống
các ngân hàng trung gian của bất kỳ một quốc gia nào mà còn là một trong những
loại hình TCTD đóng góp vai trò tích cực nhất trong việc thực hiện các chính sách
xã hội (không phải với tư cách là một tổ chức từ thiện hoặc là một ngân hàng chính
sách của Nhà nước).
1.1.5.2 Vai trò của Quỹ tín dụng nhân dân đối với nền kinh tế
Với cơ chế là một “loại hình doanh nghịêp đặc biệt, trong đó các thành viên
vừa là Hội viên vừa là đồng chủ sở hữu, vừa là khách hàng” QTDND là một loại
hình tổ chức kinh tế hợp tác không thể thiếu được đối với công cuộc phát triển kinh
tế - xã hội ở phạm vi quốc gia nói chung cũng như trong khu vực nông nghiệp, nông
thôn nói riêng. Được tổ chức theo nguyên tắc tự nguyện, tự chủ, tự chịu trách nhiệm
về kết quả hoạt động, thực hiện mục tiêu chủ yếu là tương trợ giữa các thành viên,
các QTDND đã khẳng định được vai trò là TCTD thích hợp nhất giúp cho người lao
động sản xuất nhỏ và các doanh nghiệp vừa và nhỏ, mà trong đó đại bộ phận ở khu
vực nông nghiệp, nông thôn có thể tiếp cận dễ dàng, thuận tiện đối với các dịch vụ
tài chính ngân hàng nhằm hỗ trợ tốt hơn cho các hoạt động kinh doanh, sản xuất của
25