0
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
ĐẬU BÁ THÌN
NGHIÊN CỨU ĐA DẠNG THỰC VẬT BẬC CAO CÓ MẠCH
Ở KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN PÙ LUÔNG, THANH HÓA Chuyên ngành: Thực vật học
Mã số: 62.42.01.11
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ SINH HỌC
Nghệ An - 2013
- Đánh giá có hệ thống tính đa dạng của thảm thực vật trên phương diện cấu trúc
quần xã thực vật.
3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
- Ý nghĩa khoa học
+ Bổ sung dẫn liệu về đa dạng hệ thực vật ở khu BTTN Pù Luông đến thời điểm
hiện nay.
2
+ Đánh giá được tính đa dạng thành phần loài, dạng sống, yếu tố địa lý, giá trị
sử dụng và giá trị bảo tồn làm cơ sở cho công tác bảo tồn đa dạng sinh học nói chung
và đa dạng thực vật nói riêng ở khu BTTN Pù Luông.
+ Hệ thống hóa các kiểu thảm thực vật của khu vực nghiên cứu.
- Ý nghĩa về thực tiễn
+ Trên cơ sở những luận cứ khoa học thu được, kết quả của luận án sẽ giúp các
nhà quản lý đề xuất và xây dựng chiến lược bảo tồn tổng thể cũng như bảo tồn các
loài thực vật có giá trị quý hiếm, các kiểu rừng hiện có, đặc biệt là các kiểu rừng trên
đá vôi tại khu BTTN Pù Luông.
+ Danh lục các loài cây có giá trị sử dụng sẽ hỗ trợ tốt cho việc định hướng quản
lý, khai thác hợp lý và phát triển bền vững trong tương lai.
4. Những điểm mới của luận án
- Lần đầu tiên nghiên cứu một cách đầy đủ, toàn diện về thành phần loài thực vật
bậc cao có mạch và các kiểu thảm ở khu BTTN Pù Luông.
- Lần đầu tiên đánh giá tính đa dạng về thành phần loài, dạng sống, yếu tố địa lý
và cấu trúc của thảm thực vật.
- Bổ sung thêm vùng phân bố tại Thanh Hóa của 166 loài và dưới loài (vùng phân
bố cũ: từ Ninh Bình trở ra các tỉnh phía Bắc) và 188 loài và dưới loài (vùng phân bố cũ:
từ Đà Nẵng trở vào các tỉnh phía Nam).
5. Bố cục của luận án
Luận án bao gồm 105 trang: Mở đầu: 3 trang (1-3); Chương 1: Tổng quan - 27
trang (4-30); Chương 2: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu - 10 trang
(31-40); Chương 3: Kết quả nghiên cứu và thảo luận - 63 trang (41-103); Kết luận và
1.1.2 Nghiên cứu thực vật ở Việt Nam
1.1.2.1 Về hệ thực vật
Một số công trình mang tính chất cơ bản và cổ điển nhằm thống kê các loài thực
vật Việt Nam của J. Loureiro (1793), J.B.L. Pierre (1880), H. Lecomte và cộng sự
(1907-1952), A. Aubréville (1960-1996), Lê Khả Kế và cộng (1971-1989), Phạm
Hoàng Hộ (1991-1993; 1999-2000), Tập thể các nhà nghiên cứu thực vật Việt Nam
(2001, 2003, 2005). Ngoài ra, còn có một số tài liệu về các họ riêng biệt đã được
công bố như Orchidaceae Việt Nam (L. Averyanov, 1994), Euphorbiaceae (Nguyễn
Nghĩa Thìn, 1999), Annonaceae (Nguyễn Tiến Bân, 2000), Lamiaceae (Vũ Xuân
Phương, 2000), Myrsinaceae (Trần Thị Kim Liên, 2002), Cyperaceae (Nguyễn Khắc
Khôi, 2002), Một số nghiên cứu về đa dạng thành phần loài: T. Pócs (1965), Phan
Kế Lộc (1969, 1980), Thái Văn Trừng (1978), Nguyễn Nghĩa Thìn (1997), Lê Trần
Chấn (1999), Nguyễn Tiến Bân (2005)….
1.1.2.2 Về thảm thực vật
Một số công trình nghiên cứu về thảm thực vật của người nước ngoài như:
Chevalier (1918), Maurand (1943), Dương Hàm Nghi (1956), Rollet, Lý Văn Hội và
Neay Sam Oil (1958), Loschau (1960), Schmid M. (1974),
Trong nước, có một số công trình nghiên cứu của các tác giả: Vũ Tự Lập (1976),
Thái Văn Trừng (1978, 2000), Vũ Đình Huề (1984), Phan Kế Lộc (1985). Ngoài ra,
còn có một số công trình nghiên cứu khác như: Phùng Ngọc Lan (1996), Nguyễn
Nghĩa Thìn (2004),….
1.1.2.3 Về dạng sống
Các công trình nghiên cứu về phổ dạng sống của hệ thực vật ở Việt Nam nói
chung và các khu hệ thực vật của các địa phương nói riêng đã áp dụng theo hệ thống
phân chia dạng sống thực vật của C. Raunkiær (1934). Một số công trình nghiên cứu
như: T. Pócs (1965) nghiên cứu phổ dạng sống của hệ thực vật Bắc Việt Nam, Thái
Văn Trừng (1978) còn áp dụng các ký hiệu khác cho chồi và lá theo các trạng mùa,
ký hiệu về hình dạng tán, chất liệu dây leo, Lê Trần Chấn (1999) …
1.1.2.4 Về yếu tố địa lý thực vật
Gagnepain là người đầu tiên nghiên cứu, phân tích và đánh giá các yếu tố địa lý
- 20
o
34
’
vĩ độ
Bắc, 105
o
02
’
- 105
o
20
’
kinh độ Đông.
1.2.1.2 Địa hình địa mạo
Địa hình của khu BTTN Pù Luông bao gồm 2 dãy núi chạy song song theo
hướng Tây Nam-Đông Bắc được ngăn cách với nhau bởi một thung lũng ở giữa. Độ
cao trong khu bảo tồn khoảng từ 60 m đến 1650 m so với mặt nước biển, cao nhất là
đỉnh Pù Luông (1700 m). Theo kết quả nghiên cứu của Viện nghiên cứu địa chất và
khoáng sản-Bộ Tài nguyên và Môi trường (2003), địa hình khu BTTN Pù Luông gồm
4 kiểu chính (địa hình kiến tạo, địa hình xâm thực, địa hình karst và karst-xâm thực và
địa hình tích tụ).
5
1.2.1.3 Địa chất thổ nhưỡng
Kết quả nghiên cứu của Viện nghiên cứu địa chất và khoáng sản-Bộ Tài nguyên
và Môi trường (2003), chỉ ra: Theo diện phân bố, 60% diện tích khu bảo tồn là đá vôi,
37% là đá phun trào và chỉ có 3% là đá lục nguyên.
1.2.1.4 Khí hậu thủy văn
Khu bảo tồn có khí hậu nhiệt đới gió mùa ảnh hưởng của khí hậu vùng Tây Bắc.
Có hai loại gió chính là gió mùa Đông Bắc và gió mùa Đông Nam.
chỉ còn một số ít học sinh có điều kiện kinh tế khá mới học tiếp trung học phổ thông, còn
lại phần lớn là bỏ học.
Với những đặc điểm về điều kiện kinh tế-xã hội của khu vực nghiên cứu như trên,
sẽ có những tác động đến tính đa dạng sinh học nói chung và đa dạng thực vật nói
riêng. Do đó, trong quá tình nghiên cứu sẽ thu thập các thông tin, tìm hiểu các nguy cơ
gây suy giảm đa dạng thực vật để có thể đề xuất giải pháp bảo tồn đa dạng thực vật ở
khu BTTN Pù Luông. Chương 2. ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các loài thực vật bậc cao có mạch và các
trạng thái rừng (các trạng thái thảm thực vật) ở khu BTTN Pù Luông.
2.2. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
2.2.1 Đa dạng hệ thực vật
- Xây dựng danh lục các loài thực vật khu BTTN Pù Luông một cách đầy đủ và
có hệ thống đến thời điểm hiện nay.
- Đa dạng các taxon hệ thực vật.
- Đa dạng về dạng sống.
- Đa dạng về yếu tố địa lý.
- Đa dạng về giá trị sử dụng.
- Nhóm các loài thực vật hiếm và vấn đề bảo tồn.
2.2.2 Đa dạng thảm thực vật
- Hệ thống các kiểu thảm thực vật của khu vực nghiên cứu.
- Mô tả cấu trúc của các đơn vị phân loại trong hệ thống thảm thực vật.
2.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.3.1 Phương pháp luận
Hệ sinh thái được cấu tạo từ quần xã sinh vật và các đơn vị của tự nhiên như
ngoại mạo, thổ nhưỡng, khí hậu… và sự đa dạng của các hệ sinh thái, trước hết là sự
đa dạng của lớp phủ thực vật có vai trò quyết định. Thảm thực vật vừa là mái nhà
xử lý trong phòng thí nghiệm để phục vụ cho công tác nghiên cứu cũng như lưu trữ.
Các tài liệu sử dụng trong quá trình xác định tên khoa học của loài gồm:
Cây cỏ Việt Nam (Phạm Hoàng Hộ, 1991-1993, 1999-2000), Trung Hoa Cao đẳng
thực vật chí đồ giám (ICS, 5 tập, Trung văn, 1972-1976, Thực vật chí Đông Dương
(1907-1952), Thực vật chí Campuchia, Lào, Việt Nam (A. Aubréville và cộng sự,
1960-1997), Flora of China (1994-2002), Flora Yunnanica (1977-1997), Thực vật chí
Việt Nam (tập 1-11, Nxb Khoa học-Kỹ thuật, Hà Nội,) …
Chỉnh lý tên khoa học và xây dựng danh lục: Thống nhất tên gọi theo Bộ luật
về tên gọi thực vật Tokyo (1994) (ghi theo Nguyễn Nghĩa Thìn, 1997), sắp xếp tên họ
và chi theo R.K. Brummitt (1992), chỉnh lý tên tác giả theo R.K. Brummitt và cộng
sự (1992). Tên đầy đủ của loài cùng với các thông tin về yếu tố địa lý, dạng sống và
giá trị sử dụng được dựa vào các tài liệu: “Danh lục các loài thực vật Việt Nam”
(2001, 2003, 2005), “Từ điển cây thuốc Việt Nam” (1997, 2012), “Lâm sản ngoài gỗ
Việt Nam” (2007),….
2.3.4 Phương pháp đánh giá tính đa dạng của hệ thực vật
- Đa dạng về các taxon của hệ thực vật: Theo phương pháp của Nguyễn Nghĩa
Thìn (2008).
8
- Đa dạng về dạng sống: Tiến hành xác định, phân tích dạng sống của hệ thực
vật nghiên cứu theo thang phân chia các dạng sống của C. Raunkiær (1934).
- Đa dạng về các yếu tố địa lý: Căn cứ vào sự phân bố của các loài thực vật, xác
định các yếu tố địa lý của hệ thực vật theo Nguyễn Nghĩa Thìn (2008).
- Đa dạng về giá trị sử dụng của hệ thực vật: Tiến hành thống kê các loài có
giá trị sử dụng từ bảng danh lục thực vật khu BTTN Pù Luông bằng các tài liệu
chuyên ngành, như: “Từ điển cây thuốc Việt Nam” (1997, 2012), “1900 loài cây có
ích” (1993), “Cây cỏ có ích ở Việt Nam” (1999-2001), “Danh lục các loài thực vật
Việt Nam” (2001, 2003, 2005), “Lâm sản ngoài gỗ Việt Nam” (2007), “Cây cỏ Việt
Nam” (1991-1993, 1999-2000), “Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam” (2003),
- Đa dạng các loài thực vật hiếm và vấn đề bảo tồn: Căn cứ vào các tiêu chuẩn
của Sách Đỏ Việt Nam (2007), thang đánh giá của IUCN (2012), Nghị định số
Tên khoa học Tên Việt Nam SL % SL % SL %
Psilotophyta Khuyết lá thông
1 0,55 1 0,14 1 0,07
Lycopodiophyta
Thông đất 2 1,10 3 0,42 13 0,85
Equisetophyta Cỏ tháp bút 1 0,55 1 0,14 1 0,07
Polypodiophyta Dương xỉ 20 11,05
59 8,25 147 9,59
Pinophyta Thông 6 3,31 9 1,26 11 0,72
Magnoliophyta Ngọc lan 151
83,43
642 89,79 1.360
88,71
Tổng 181
100 715 100 1.533
100
Như vậy, các ngành trong hệ thực vật Pù Luông có vai trò khác nhau. Cụ thể:
Magnoliophyta ưu thế nhất chiếm 88,71% (1.360 loài), trong khi đó các ngành khác
chưa có ngành nào vượt qua 10%. Kết quả này phù hợp với sự tiến hóa của thực vật
là Magnoliophyta luôn chiếm ưu thế cao so với các ngành khác.
Xét cụ thể từng ngành: Ở khu vực nghiên cứu có mặt một loài duy nhất trong
Psilotophyta. Ngành có tỷ trọng cao nhất là Equisetophyta (chiếm 50%),
10
Lycopodiophyta chiếm 23,64%, tiếp đến là Polypodiophyta chiếm 21,00%, Pinophyta
chiếm 15,71%, cuối cùng là Magnoliophyta chiếm 12,62%.
Với đặc điểm là vùng núi đá vôi và đất bị ảnh hưởng mạnh của nước cacbonat,
đồng thời do các loài trong Pinophyta có nguồn gốc ôn đới. Trong khi đó, Pù Luông
là vùng nhiệt đới ẩm điển hình nên tại đây điều kiện không thuận lợi cho sự phát triển
và cản trở sự phân bố của các loài thực vật Pinophyta (chỉ có 11 loài chiếm 15,71%
so với tổng số loài của cả nước). Mặt khác, với khí hậu nhiệt đới gió mùa nên Pù
Luông lại rất thuận lợi cho các loài thuộc Polypodiophyta (tại đây có 147 loài chiếm
21,0% so với tổng số loài của cả nước).
Từ kết quả của Bảng 3.2 và sự phân tích trên cho thấy, số lượng loài của hệ thực
vật Pù Luông thể hiện sự đa dạng loài không những ở cả hệ thực vật mà còn đa dạng
trong từng ngành.
- Tỷ lệ giữa hai lớp trong Magnoliophyta: Sự phân bố không đều nhau của bậc
taxon không chỉ ở các ngành mà còn được thể hiện giữa hai lớp trong Magnoliophyta,
kết quả được trình bày ở Bảng 3.3.
Bảng 3.3. Tỷ lệ của Magnoliopsida so với Liliopsida
Họ Chi Loài
Tên lớp
Số họ
Tỷ lệ %
Số chi Tỷ lệ %
Số loài Tỷ lệ %
Magnoliopsida
Lycopodiophyta
4,33 6,50 1,50
Equisetophyta 1,00 1,00 1,00
Polypodiophyta 2,49 7,35 2,95
Pinophyta 1,22 1,83 1,50
Magnoliophyta 2,12 9,01 4,25
Hệ thực vật 2,14 8,47 3,95
Qua số liệu bảng trên cho thấy: Hệ thực vật Pù Luông có chỉ số chi là 2,14 (trung
bình mỗi chi có 2-3 loài), chỉ số họ là 8,47 (trung bình mỗi họ có 8-9 loài) và số chi
trung bình của mỗi họ là 3,95 (trung bình mỗi họ có 3-4 chi).
Xét theo chỉ số chi: Lycopodiophyta có chỉ số chi cao nhất với 4,33, tiếp đến lần
lượt là Polypodiophyta: 2,49; Magnoliophyta: 2,12, Pinophyta: 1,22 và hai ngành còn
lại là 1,00.
Xét theo chỉ số họ: Ngành có chỉ số họ cao nhất là Magnoliophyta với 9,01; tiếp
theo là Polypodiophyta: 7,35, Lycopodiophyta: 6,50; Pinophyta: 1,83 và hai ngành còn
lại là 1,00.
Xét theo số chi trung bình của một họ: Ngành có số chi trung bình của một họ cao
nhất là Magnoliophyta với 4,25, tiếp theo là Polypodiophyta: 2,95; Lycopodiophyta và
Pinophyta cùng có hệ số họ là 1,50 và hai ngành còn lại là 1,00.
Chỉ số chi, chỉ số họ và số chi trung bình của 1 họ biểu hiện mức độ phong phú về
số lượng chi và loài của các taxon bậc cao hơn ở mỗi hệ thực vật. Để thấy được sự đa
dạng và phong phú về các chỉ số của khu vực nghiên cứu, chúng tôi tiến hành so sánh
các chỉ số tương ứng của hệ thực vật ở Pù Luông với VQG Bến En, khu BTTN Xuân
Liên, khu BTTN Pù Hu và VQG Cúc Phương, kết quả được thể hiện tại bảng 3.5.
Qua Bảng 3.5 cho thấy: chỉ số chi, chỉ số họ của hệ thực vật Pù Luông (tương ứng
là 2,14 và 8,47) chỉ nhỏ thua hệ thực vật Cúc Phương (tương ứng là 2,17 và 9,66)
nhưng lớn hơn các hệ thực vật lân cận (VQG Bến En, khu BTTN Xuân Liên, Pù Hu).
12
sự, 2011,
(4)
Phùng Ngọc Lan và cộng sự, 1996.
3.1.1.2 Đa dạng bậc họ
Để đánh giá sự đa dạng bậc họ của hệ thực vật ở Pù Luông, tiến hành thống kê
10 họ giàu loài nhất, kết quả được thể hiện tại Bảng 3.6.
Bảng 3.6. 10 họ giàu loài nhất của hệ thực vật Pù Luông
Loài Chi
TT
Tên khoa học Tên Việt Nam
Số lượng % Số lượng
%
1 Orchidaceae Họ Lan 155 10,11
60 8,39
2 Rubiaceae Họ Cà phê 79 5,15 32 4,48
3 Euphorbiaceae Họ Thầu dầu 63 4,11 32 4,48
4 Lauraceae Họ Long não 45 2,94 14 1,96
5 Annonaceae Họ Na 40 2,61 17 2,38
6 Moraceae Họ Dâu tằm 39 2,54 4 0,56
7 Polypodiaceae Họ Ráng nhiều chân 34 2,22 14 1,96
8 Fabaceae Họ Đậu 33 2,15 14 1,96
9 Myrsinaceae Họ Đơn nem 29 1,89 4 0,56
10 Verbenaceae Họ Cỏ roi ngựa 29 1,89 8 1,12
10 họ giàu loài nhất (chiếm 5,52%) 546 35,62
199 27,83
Bảng 3.7. 10 chi giàu loài nhất của hệ thực vật Pù Luông
TT Chi Họ Số loài Tỷ lệ %
1 Ficus Moraceae 31 2,02
2 Dendrobium Orchidaceae 19 1,24
3 Ardisia Myrsinaceae 16 1,04
4 Litsea Lauraceae 15 0,98
5 Asplenium Aspleniaceae 14 0,91
6 Lithocarpus Fagaceae 14 0,91
7 Liparis Orchidaceae 14 0,91
8 Dioscorea Dioscoreaceae 12 0,78
9 Diospyros Ebenaceae 12 0,78
10 Cinnamomum Lauraceae 11 0,72
10 chi giàu loài nhất (chiếm 1,40%) 158 10,31
14
Qua Bảng 3.7 cho thấy, trong số các chi giàu loài nhất có chi Ficus, là một chi
đại diện cho rừng nguyên sinh, cùng với Dendrobium và Liparis, là những chi đại diện
cho hệ thực vật á nhiệt đới núi vừa. Điều đó cho thấy tính chất của hệ thực vật ở Pù
Luông là á nhiệt đới núi vừa, đồng thời cũng cho thấy giá trị của tính nguyên sinh, đặc
sắc của hệ thực vật này. Sự có mặt của chi Asplenium một lần nữa cho thấy tính đa
dạng của Polypodiophyta.
- Các chi thực vật tàn di: Khu vực còn có nhiều loài là đặc trưng cho thực vật á
nhiệt đới, có nguồn gốc từ Đệ tam, thuộc khu phân bố Việt Nam-Nam Trung Hoa còn
sót lại (Thái Văn Trừng, 1978) như các chi sau: Acer, Carex, Magnolia, Buddleja,
Cornus, Viola, Sorbus, Manglietia,… và cũng như nhiều chi và loài thuộc ngành
Pinophyta như: Taxus, Dacrycarpus, Amentotaxus, Podocarpus,…
3.1.2 Đa dạng về dạng sống
Dạng sống nói lên bản chất sinh thái của hệ thực vật. Khi phân chia dạng sống
của hệ thực vật Pù Luông, áp dụng hệ thống phân loại của C. Raunkiær (1934) và
Nguyễn Nghĩa Thìn (2008), kết quả được trình bày qua Bảng 3.8.
Bảng 3.8. Số lượng và tỉ lệ các nhóm phổ dạng sống hệ thực vật Pù Luông
78,88 4,14 5,76 5,97 5,25
VQG Bến En
(3)
75,88 5,83 8,50 6,12 3,67
Việt Nam
(4)
54,68 10,00 21,41 10,66 5,67
(1)
Phùng Ngọc Lan và cộng sự, 1996,
(2)
Nguyễn Nghĩa Thìn, Nguyễn Thanh Nhàn, 2004,
(3)
Hoang Van Sam at al., 2008,
(4)
Lê Trần Chấn và cộng sự, 1999.
Qua đó cho thấy, hệ thực vật ở khu BTTN Pù Luông mang tính nhiệt đới và á
nhiệt đới ở núi thấp, điều kiện ẩm do địa hình phân cắt mạnh và dốc, nên dạng sống
chủ yếu là các nhóm cây dây leo sống lâu năm, cây thảo sống lâu năm, cây bụi, cây
gỗ vừa và nhỏ.
3.1.3 Đa dạng các yếu tố địa lý thực vật
Áp dụng hệ thống phân loại của Nguyễn Nghĩa Thìn (2008). Trong 1.533 loài và
dưới loài thì 1.488 loài và dưới loài đã được xác định yếu tố địa lý chiếm 97,06%
tổng số loài, còn 45 loài và dưới loài chưa đủ thông tin nên chúng tôi chưa đưa vào
yếu tố nào.
Hệ thực vật Pù Luông mang nhiều đặc điểm của một hệ thực vật nhiệt đới điển
hình với 69,02% yếu tố nhiệt đới, yếu tố đặc hữu chiếm 22,96%, yếu tố ôn đới chiếm
3,59%, yếu tố cây trồng chiếm 1,44% và thấp nhất là yếu tố toàn cầu chiếm 0,07%.
Trong nhóm các yếu tố nhiệt đới, yếu tố nhiệt đới châu Á chiếm tỷ lệ cao nhất với
Tỷ lệ %
1 Cây dùng làm thuốc M 737 48,08
2 Cây cho gỗ T 201 13,11
3 Cây ăn được Ed 177 11,55
4 Cây làm cảnh Or 127 8,28
5 Cây cho dầu Oil 22 1,44
6 Cây cho nhựa Sap 8 0,52
7 Cây cho tinh dầu E 18 1,17
8 Cây có độc Mp 21 1,37
9 Cây cho tanin Tn 24 1,57
10 Cây có công dụng khác U 68 4,44
*
Một loài có thể có 1 hoặc nhiều công dụng Qua bảng trên cho thấy:
- Nhóm cây làm thuốc: Trong số 922 loài và dưới loài có giá trị sử dụng thì có
đến 737 loài và dưới loài được dùng làm thuốc, chiếm 48,08% tổng số loài của toàn
hệ cho thấy nguồn tài nguyên cây thuốc đa dạng.
Khi chọn lọc một số loài cây thuốc như: Thóc lép (Desmodium gangeticum),
Muồng lạc (Senna tora) và Sẻn (Zanthoxylum acanthopodium) để nghiên cứu ảnh
hưởng của các hợp chất courmarin lên một số chủng vi sinh vật gồm Escherichia coli,
Bacillus subtilis, Pseudomonas aeruginosa, Staphylococcus aureus. Kết quả cho
17
thấy, 3 loài cây thuốc trong nghiên cứu này đều có khả năng kháng lại đồng thời 4
loại vi sinh vật gây bệnh.
- Nhóm cây cho gỗ: với 201 loài và dưới loài chiếm 13,11% cho gỗ sử dụng.
Tuy nhiên, do sự khai thác quá mức cho nên hiện nay trong tự nhiên chúng chỉ còn ít
chủ yếu nằm ở trong các thung núi đá vôi, đi lại khó khăn và gặp dưới dạng tái sinh.
- Nhóm cây ăn được (rau ăn, cho quả ăn được, các bộ phận khác ăn được và làm
- Nhóm cây có độc: được người dân khai thác chủ yếu thuộc các loài Sưn có
đuôi (Semecarpus caudata), Lá ngón (Gelsemium elegans),…
- Nhóm cây có công dụng khác (phân xanh, dây buộc, nhuộm, đan lát, sợi…): Đây
là những nhóm có số lượng ít nhưng rất có giá trị trong công nghiệp.
+ Làm phân xanh: nhóm này được người dân sử dụng các loài thực vật có sãn
trong tự nhiên nhằm cải thiện đất đai với các loài điển hình là: Cỏ lào (Eupatorium
odoratum), Muồng lạc (Senna tora),…
+ Nhóm cây cung cấp nguyên liệu cho đan lát và vật liệu xây dựng, các loài chủ
yếu là: Mây lá lẽo (Calamus salicifolius), Mây sừng (Calamus ceratophorus), Mây
nếp (Calamus tetradactylus),….; Ngoài ra, khu vực này đang trồng loại cây công
nghiệp rất phát triển là Luồng thanh hóa (Dendrocalamus membranaceus), bước đầu
đã phát huy được hiệu quả kinh tế là giảm đói, nghèo của người dân sống ở vùng đệm
khu BTTN nói chung và miền tây Thanh Hóa nói chung.
+ Nhóm cây có thể lấy sợi, với một số loài chủ yếu là Cò ke lá lõm (Grewia
paniculata), Đay bắc bộ (Boehmeria tonkinensis),…
Như vậy, các nhóm thực vật được người dân địa phương ở khu BTTN Pù Luông
khai thác và sử dụng có những giá trị, công dụng rất đa dạng. Điều này khẳng định
thực vật ở đây đã giải quyết tại chỗ phần nào nhu cầu lương thực, thực phẩm, thuốc
men, vật liệu xây dựng, củi đun, cho người dân.
3.1.5 Nhóm các loài thực vật hiếm và tình trạng bảo tồn
Dựa trên kết quả điều tra, thu mẫu và định loại đã xác định được 200 loài và
dưới loài thực vật hiếm và tình trạng bảo tồn ở Pù Luông. Theo Sách Đỏ Việt Nam
(2007) với 56 loài và dưới loài, Nghị định 32/2006/NĐ-CP với 14 loài và dưới loài,
IUCN (2012) với 20 loài và dưới loài và công ước CITES (2011) với 131 loài và dưới
loài được trình bày tại Bảng 3.13.
Bảng 3.1. Phân bố của các loài hiếm và tình trạng bảo tồn
Mức độ bị đe dọa CR
EN
Nhóm nhân tố sinh thái phát sinh thảm thực vật khu BTTN Pù Luông, gồm 5
nhóm chính: sinh khí hậu, địa hình, thổ nhưỡng, con người và khu hệ thực vật.
Trên cơ sở kết quả quá trình nghiên cứu, mô tả về các quần xã thực vật theo các
điểm, tuyến nghiên cứu, áp dụng hệ thống phân loại các đơn vị thảm thực vật trên
quan điểm của M. Schmid (1974) khi đánh giá các đơn vị thảm thực vật Việt Nam và
hệ thống phân loại các kiểu thảm của Thái Văn Trừng (1978), đã xác định được vai
trò của các nhóm nhân tố sinh thái phát sinh các kiểu thảm thực vật ở Pù Luông và
được tóm tắt tại Bảng 3.14.
Bảng 3.14. Các yếu tố sinh thái phát sinh thảm thực vật Pù Luông
Khí
hậu
Đai độ
cao
Thổ nhưỡng Địa hình
Thảm thực vật
Acrisol mầu vàng
xám, xám nâu
Đỉnh đồi Rừng kín thường xanh mưa hơi ẩm nhiệt
đới cây lá rộng
Acrisol mầu vàng
xám, xám nâu
Sườn núi
Rừng thứ sinh thường xanh mưa hơi ẩm
nhiệt đới cây lá rộng
Acrisol mầu vàng
xám, xám nâu
Sườn núi
nhiệt
đới
Dưới
700m
(đất
thấp)
Luvisol/ Leptosol
Chân núi
Trảng cây bụi thứ sinh thường xanh mưa
hơi ẩm nhiệt đới trên đá vôi
Renzit mầu nâu
vàng, mầu đen
Đỉnh núi
đá vôi có
núi khác
cao hơn
Rừng kín thường xanh mưa ẩm á nhiệt
đới núi thấp cây lá rộng trên đá vôi
Renzit mầu nâu
vàng, mầu đen
Đỉnh đá
vôi
Rừng kín thường xanh mưa ẩm á nhiệt
đới núi thấp cây lá rộng đỉnh núi đá vôi
Renzit mầu nâu
vàng, mầu đen
Yên
ngựa
20
Khí
hậu
Đai độ
cao
Thổ nhưỡng Địa hình
Thảm thực vật
Cabisol mầu xám
đen, mầu vàng
xám
Đỉnh núi
(bazan)
Rừng kín thường xanh mưa ẩm á nhiệt
đới cây lá rộng trên đỉnh núi
Acrisol mầu xám
nâu
Sườn núi
(bazan)
Rừng thứ sinh thường xanh mưa ẩm á
nhiệt đới núi thấp cây lá rộng
Acrisol mầu xám
Chân núi
Trảng cây bụi thứ sinh thường xanh mưa
ẩm á nhiệt đới núi thấp
Thảm thực vật nhân tác
Gleysol Rừng luồng
Gleysol Rừng trồng cây gỗ
Trảng cỏ thứ sinh là hậu quả của phương thức canh tác nương rẫy tự do từ lâu
đời, gặp ở hầu hết các điểm, tuyến nghiên cứu.
b. Thảm thực vật phi địa đới
Thảm thực vật phi địa đới được hình thành trên đá vôi, do tính chất đặc biệt và
nhạy cảm đó, quy luật phân bố, cấu trúc của các quần xã thực vật trên đá vôi không
tuân theo các quy luật về đới và đai.
(1) Rừng kín thường xanh mưa hơi ẩm nhiệt đới cây lá rộng trên núi đá vôi
Kiểu rừng phân bố lên đến độ cao khoảng 700 m, được quan sát và nghiên cứu ở
trên các sườn núi thấp hoặc có độ cao trung bình của những dãy núi đá vôi xói mòn ở
xã Cổ Lũng và xã Phú Lệ từ độ cao 200 m lên tới 600 m. Hiện tại rừng chỉ còn là
những diện tích rất nhỏ đan xen với các trạng rừng thứ sinh khác.
(2) Rừng thứ sinh nửa rụng lá mưa hơi ẩm nhiệt đới cây lá rộng trên đá vôi
Do tính chất nền đá vôi ở sườn núi luôn để mất nước, nên bề mặt phong hóa
thường bị khô. Mặc dù, khu vực nghiên cứu nằm trong sinh khí hậu nhiệt đới mưa
mùa ẩm nhưng vào mùa khô nhiều cây gỗ vẫn bị rụng lá. Đây là điểm đặc trưng của
thảm thực vật phi địa đới mà Thái Văn Trừng (1978 và 1999) gọi là kiểu trái hay kiểu
phụ thổ nhưỡng. Phân bố chủ yếu ở Lũng Cao, Cổ Lũng, Phú Lệ, Phú Xuân.
(3) Trảng cây bụi thứ sinh thường xanh mưa hơi ẩm nhiệt đới trên đá vôi
Nguồn gốc hình thành từ canh tác bỏ hoang khu vực chân núi đá vôi của hầu hết
các điểm và tuyến nghiên cứu (Phú Lệ, Phú Xuân, Thành Sơn, Lũng Cao, Cổ Lũng).
3.2.2.2 Thảm thực vật á nhiệt đới trên núi
a. Thảm thực vật địa đới
(1) Rừng kín thường xanh mưa ẩm á nhiệt đới núi thấp cây lá rộng
Đá bazan trong khu vực được nghiên cứu tạo nên dãy núi cao nhất và lớn nhất, đó
là dãy Pù Luông. Đây là một dãy núi đá lớn chạy theo hướng Tây Bắc-Đông Nam với
độ cao chủ yếu là 1300-1500 m. Những khoảng rừng còn chưa bị tác động của con
người tại dãy núi Pù Luông được nghiên cứu dọc theo giông núi ở độ cao 1500-1650
m, khá hẹp và dài. Sương mù tạo nên cho những khu rừng này có độ ẩm cao và luôn
ẩm ướt thậm chí cả trong mùa khô.
(2) Rừng kín thường xanh mưa ẩm á nhiệt đới cây lá rộng trên đỉnh núi
Kiểu rừng còn sót lại tại rất ít trên các đỉnh núi thuộc khu vực Eo Điếu (Cổ Lũng),
Bản Đuốm (Phú Lệ) ở độ cao 800-1100 m, trên các yên ngựa cao nhất của núi đá vôi
tiếp giáp với núi đá khác cao hơn.
(4) Rừng thứ sinh nửa rụng lá mưa ẩm á nhiệt đới cây lá rộng trên đá vôi
Trên các sườn đá vôi ở độ cao trên 700m, do rừng trước đây bị chặt chọn nên
cấu trúc tầng thứ bị phá vỡ ít nhiều, hiện đang trong quá trình tái sinh. Kiểu rừng
phân bố ở các khối núi đá vôi cao với sự xuất hiện của một số loài cây gỗ rụng lá vào
mùa khô ở các xã Cổ Lũng, Thành Sơn, Phú Lệ.
(5) Trảng cây bụi thứ sinh mưa ẩm á nhiệt đới trên đá vôi
Được hình thành do hoạt động khai thác quá mức của con người, bên cạnh đó do
độ dốc cao, nền đất bị xói lở nên thảm thực vật bị suy thoái nhanh. Kiểu thảm gặp ở các
xã Phú Lệ, Phú Xuân, Thanh Xuân, Thành Lâm, Lũng Cao, Thành Sơn và Cổ Lũng.
23
3.2.3 Thảm thực vật nhân tác
3.2.3.1 Rừng trồng
a. Rừng luồng
Luồng thanh hóa (Dendrocalamus membranaceus) được trồng rất phổ biến trong
khu vực nghiên cứu từ độ cao vài chục mét lên đến độ cao hơn 250 m. Gặp ở tất cả các
xã của khu Bảo tồn.
b. Rừng trồng cây gỗ
Các loài Keo (Acacia spp.), Bạch đàn (Eucalyptus spp.), Giổi nhiều hoa
(Michelia floribunda), Giổi lá láng (Michelia faveolata), Quế thanh (Cinnamomum
cassia) là cây trồng rừng phòng hộ, phủ xanh đất trống đồi núi trọc được trồng phổ
biến trên địa bàn khu vực nghiên cứu.
3.2.3.2 Các quần xã canh tác nông nghiệp
a. Lúa nước
Lúa nước: là một dạng quan trọng của đất canh tác, thường gần khu vực dân cư.
b. Nương rẫy và hoa màu
Ngoài ngô và lúa trên đất bằng còn được trồng nhiều cây rau ngắn ngày như
đậu, lạc, rau các loại, cây thực phẩm, hoa cảnh, … phục vụ tại chỗ và một phần cho
32/2006/NĐ-CP, 20 loài và dưới loài theo tiêu chuẩn IUCN (2012) và 131 loài và
dưới loài có trong danh sách của CITES (2011).
8. Thảm thực vật khu BTTN Pù Luông được mô tả gồm 22 đơn vị thảm thuộc hai nhóm
quần hệ: Thảm thực vật tự nhiên (17 đơn vị) và thảm thực vật nhân tác (5 đơn vị).
9. Đã thành lập bản đồ thảm thực vật khu BTTN Pù Luông tỷ lệ 1/100.000 gồm 15
đơn vị, trong đó có 2 đơn vị kiểu rừng kín, 3 đơn vị rừng thứ sinh, 5 đơn vị trảng cỏ -
trảng cây bụi thứ sinh, 5 đơn vị thảm nhân tác.
B. KIẾN NGHỊ
1. Cần phải xây dựng hệ thống ô định vị để nghiên cứu, giám sát các quy luật của hệ
sinh thái rừng và sự biến đổi đa dạng sinh học ở Pù Luông. Trong đó, chú ý các loài
có giá trị kinh tế.
2. Đầu tư xây dựng một số mô hình kinh tế hộ gia đình nhằm phát triển kinh tế hộ gia
đình tại các địa phương trong vùng lõi và vùng đệm khu BTTN nhằm giảm thiểu áp
lực sự tác động của cộng đồng lên tính đa dạng hệ thực vật Pù Luông.