Luận văn nghiên cứu đa dạng sinh học của côn trùng nước ở khu bảo tồn nhiên nhiên pù luông, tỉnh thanh hóa - Pdf 39

Luận văn Thạc Sỹ
MỞ ĐẦU
Côn trùng nước bao gồm những loài có ít nhất một giai đoạn phát triển trong
vòng đời của chúng sống trong nước. Cùng với sự phong phú của các dạng thủy vực
như thủy vực nước đứng, nước chảy hay các thủy vực tạm thời và nhân tạo đã tạo
nên những quần xã côn trùng nước vô cùng đa dạng.
Cũng như các động vật không xương sống khác, côn trùng nước góp phần
duy trì hệ sinh thái thủy vực phát triển ổn định. Chúng là những mắt xích không thể
thiếu trong mạng lưới thức ăn của các hệ sinh thái. Nhiều nhóm côn trùng nước còn
có chức năng lọc nước giữ cho môi trường sống của chúng trong sạch, hay một số
khác lại tạo nguồn ôxy do chúng ăn nạo các lớp tảo phát triển trên bề mặt đá hoặc lá
cây thủy sinh. Bên cạnh đó, các loài côn trùng nước còn có ý nghĩa lớn đối với đời
sống con người. Hầu hết, chúng là đối tượng được sử dụng trong giám sát sinh học.
Do một số loài rất nhạy cảm đối với sự biến đổi của môi trường nên chúng được
dùng làm sinh vật chỉ thị đánh giá chất lượng môi trường nước. Ngoài ra, việc
nghiên cứu sử dụng côn trùng nước làm thức ăn cho ngành thủy sản cũng được
quan tâm đến. Nhiều doanh nghiệp dựa trên tập tính vũ hóa của một số nhóm côn
trùng nước tiêu biểu như bộ Phù du, đã tạo ra một số lượng lớn lưỡi câu bắt chước
hình dạng chúng phục vụ cho hoạt động thương mại và giải trí của con người trong
nhiều năm qua.
Sự đa dạng cùng với vai trò của côn trùng nước là rất lớn nhưng trong thực tế
nhiều loài còn chưa được biết đến, đặc biệt là những vùng nhiệt đới trên thế giới.
Việt Nam là một trong các nước nhiệt đới, những năm gần đây côn trùng nước cũng
đã được quan tâm nghiên cứu. Tuy nhiên, những nghiên cứu này vẫn còn ít và tản
mạn, vì vậy đề tài: “Nghiên cứu đa dạng sinh học của côn trùng nước ở Khu
Bảo tồn nhiên nhiên Pù Luông, tỉnh Thanh Hóa” được thực hiện nhằm những
mục tiêu chính sau đây:
- Xác định thành phần loài và mật độ côn trùng nước tại một số hệ thống suối
thuộc Khu Bảo tồn thiên nhiên (BTTN) Pù Luông.
- Đánh giá mức độ đa dạng về loài côn trùng nước dựa vào một số chỉ số đa


loài trong số chúng là những sinh vật quan trọng trong chỉ thị chất lượng môi
trường nước. Do đó, đã có rất nhiều những công trình nghiên cứu về lĩnh vực ứng
dụng này như Kuehne (1962), Wilhm & Dorris (1968), Barnes & Minshall (1983),
Morse (1984) [50].
Sự đa dạng về hình thái và tầm quan trọng của côn trùng nước trong các hệ
sinh thái thủy vực mang lại nhiều khám phá thú vị trong mô tả và phân loại cho các
nhà côn trùng học đồng thời thúc đẩy phạm vi nghiên cứu ngày càng được mở rộng
đi sâu vào những cơ chế sinh thái học như biến động quần thể, các mối quan hệ
dinh dưỡng. Tiêu biểu như các công trình của Lindeman (1942), Cummins & Klug
(1979), Merritt & Cummins (1984), Resh & Rosenberg (1984), Cummins (1974,
1996) [47].
Đến cuối thế kỷ XX và đầu thế kỷ XXI, nhiều nhà khoa học đã công bố
hàng loạt các công trình nghiên cứu về côn trùng nước như: Mc Cafferty (1983),
Kawai (1985), Morse et al. (1994), Yang & Tian (1994), Merritt & Cummins
(1996), Mc Cafferty (1999)… Các nghiên cứu này đã đưa ra khóa định loại tới

3


Luận văn Thạc Sỹ
giống, thậm chí tới loài côn trùng nước dựa vào hình thái con trưởng thành và ấu
trùng. Bên cạnh đó các tác giả còn đề cập đến một số ứng dụng của chúng trong
sinh thái học [47].
• Nghiên cứu về bộ Phù du (Ephemeroptera)
Phù du là một bộ côn trùng có cánh cổ sinh. Những hóa thạch cổ xưa được
tìm thấy ở kỷ Cacbon và kỷ Pecmia cách đây 250 triệu năm (Edmunds, 1982;
Dudgeon, 1999). Đến năm 2008, trên thế giới đã phát hiện được hơn 3000 loài
thuộc hơn 400 giống của 42 họ thuộc bộ Phù du [28]. Phù du là những côn trùng
phân bố rộng khắp trên thế giới, giai đoạn ấu trùng của chúng có mặt ở hầu hết các
thủy vực nước ngọt như: ao, sông, suối, đầm lầy đến những vùng nước nông của hồ

Nhật Bản và Hàn Quốc, những báo cáo về Phù du chủ yếu quan tâm tới những vấn
đề sinh thái học của ấu trùng Phù du trong hệ sinh thái nước ngọt và các khóa phân
loại (Gose, 1979 - 1980, 1985; Uesno, 1980; Yoon và Bae, 1988; Yoon, 1995) [13].
Cho đến nay, những nghiên cứu liên quan đến phân loại và hệ thống học Phù
du khá tỉ mỉ, các nhà khoa học đã xây dựng khoá phân loại chi tiết tới loài kể cả giai
đoạn ấu trùng và trưởng thành. Ngoài các công trình nghiên cứu về đặc điểm phân
loại của Phù du, nhiều nhà khoa học còn quan tâm nghiên cứu đến các khía cạnh
khác nhau liên quan đến nhóm côn trùng nước này như: sinh thái học, địa động vật.
Điển hình là Neddham et al. (1935) [54], đã công bố các số liệu về vòng đời, quá
trình lột xác chuyển từ đời sống dưới nước lên cạn, tập tính dinh dưỡng, tập tính
sinh sản, biến động số lượng theo mùa... của nhiều loài Phù du. Gần đây, Brittain
(2008) đã cung cấp những nghiên cứu bước đầu về ảnh hưởng của biến đổi khí hậu
đối với sự phân bố và đa dạng của bộ Phù du [16].
Về mặt ứng dụng, một số công trình của Landa & Soldan (1991), Bufagni
(1997) đã đề cập đến việc sử dụng Phù du làm sinh vật chỉ thị môi trường nước. Vì
nhiều loài Phù du rất nhạy cảm với sự biến đổi của môi trường [54]. Tương lai tới,
hướng nghiên cứu tập trung vào các vấn đề sinh thái phục hồi và bảo tồn các loài
cũng như các nghiên cứu ứng dụng của Phù du vào thực tiễn.
• Nghiên cứu về bộ Chuồn chuồn (Odonata)
Chuồn chuồn cũng là một trong những nhóm nguyên thủy và cổ xưa. Các
hóa thạch của chúng còn đến hiện nay được biết từ kỷ Trias. Hiện nay, người ta
phân biệt ra hai bộ phụ, Anisoptera (Chuồn chuồn ngô) và Zygoptera (Chuồn chuồn
kim). Hai loài còn sót lại thuộc giống Epiophlebia thuộc vùng Himalaya và Nhật

5


Luận văn Thạc Sỹ
Bản, trước đây được xếp chung vào bộ phụ cổ Anisozygoptera, hiện nay được xếp
vào bộ phụ Anisoptera [24]. Trong những năm gần đây, Chuồn chuồn trở thành


Luận văn Thạc Sỹ
Cánh úp là một bộ nhỏ trong lớp côn trùng biến thái không hoàn toàn. Hiện
nay, có hơn 3.497 loài đã được mô tả trên thế giới [25]. Trong 30 năm qua, số lượng
loài Cánh úp đã tăng lên một cách đáng kể (Mc Cafferty, 1990 ước tính có 2100
loài) và nếu xu hướng này tiếp tục số lượng sẽ tăng lên gấp đôi trong tương lai
không xa.
Cánh úp là bộ có phân bố trên tất cả các châu lục, ngoại trừ Nam Cực và tạo
thành một thành phần quan trọng trong các hệ sinh thái nước chảy. Khu hệ Cánh úp
đa dạng nhất ở khu vực Bắc Mỹ 674 loài (Stark & Baumann, 2009) và khu vực châu
Âu 426 loài (Fochetti & Tierno de Figueroa, 2004). Khu hệ tại Úc 191 loài
(Michaelis & Yule, 1988), New Zealand 104 loài (McLellan, 2006), Trung Mỹ 95
loài, Nam Mỹ 378 loài (Heckman, 2003) và châu Phi 126 loài [25]. Khu vực Bắc
Mỹ và Châu Âu là hai khu vực đã được nghiên cứu nhiều hơn cả, trong khi đó
những dẫn liệu về Cánh úp ở Trung và Nam Mỹ còn rất nghèo nàn và chưa đủ để
đại diện cho mức độ đa dạng thật sự ở các khu vực này.
Ở châu Á, các công trình nghiên cứu về khu hệ Cánh úp đã được tiến hành
bởi một số nhà côn trùng học châu Âu và châu Á. Vào những năm 30 của thế kỷ
trước, Wu & Classen (1934, 1935, 1937, 1938) [43] đã đưa ra hệ thống các bậc
phân loại của bộ Cánh úp tại miền Nam Trung Quốc. Kawai (1961 - 1975) nghiên
cứu một số loài Cánh úp ở Đông Nam Á, Ấn Độ, Sri Lanka... [4]. Vào thập niên 80
của thế kỷ XX, Zwick (1980, 1983, 1985, 1988) cũng đưa ra những nghiên cứu về
khu hệ Cánh úp ở Đông Nam Á. Uchida et al. (1988, 1989) [4] mô tả một vài loài
thuộc Perlinae (Perlidae) ở Malaysia, Thái Lan và hai giống Cryptoperla,
Yoraperla thuộc họ Peltoperlidae ở Nhật Bản và Đài Loan. Stark (1979, 1987,
1983, 1991, 1999) [17] đã ghi nhận nhiều loài mới thuộc họ Peltoperlidae và
Perlidae ở các nước phương Đông.
Cho đến nay, khu vực Châu Á đã xác định được khoảng 1.527 loài. Trong
đó, có khoảng 784 loài từ khu vực Đông Nam Á (Sivec & Yang, 2001), Trung Quốc
dự tính khoảng 350 loài, Tây Á khoảng 114 loài, Trung Á khoảng 51 loài và một số

các hướng nghiên cứu chủ yếu dựa vào giai đoạn trưởng thành thì Ulmer đã mở ra
hướng nghiên cứu dựa vào giai đoạn ấu trùng vào những năm 1955 và 1957 [26].
Trong giai đoạn này, việc nghiên cứu về Cánh lông ở các nước Châu Á cũng bắt
đầu được chú trọng, Ulmer (1905 - 1951, 1955, 1957), Malicky (1955), Morse
(2009), Banks (1937) là người đầu tiên nghiên cứu khu hệ Cánh lông Philippin. Đặc

8


Luận văn Thạc Sỹ
biệt trong những năm gần đây, có hàng loạt các công trình nghiên cứu mới về Cánh
lông được công bố như tác giả Malicky (2007) đã liệt kê 327 loài và chứng minh sự
đa dạng của Cánh lông trên đảo Sumatra cao hơn so với các khu vực khác xung
quanh Indonesia [26]. Năm 2008, Johason & Oláh đã công bố 7 loài mới thuộc
giống Tinodes (Psychomyiidae) cho khu hệ Cánh lông Đông Nam Á và 1 loài mới
từ Hồng Kông [33].
Năm 2009, Sharma & Chandra đã cung cấp một danh sách gồm 1046 loài,
94 giống, 27 họ của khu hệ Cánh lông Ấn Độ. Các nghiên cứu cũng được quan tâm
ở một số quốc gia khác như Nhật Bản phải kể tới Iwata (1927), Tanida (1986,
1987), Ito & Ohkawa (2012); Trung Quốc (Martynov, 1930, 1931; Wang, 1963),
Thái Lan (Chantaramongkol & Malicky, 1989, 1991-1993, 1995, 1997; Radomsuk,
1999; Sangpradub et al., 1999; Malicky et al., 2001, 2002; Chaiyapa, 2001) [3]...
Tuy nhiên, do còn nhiều hạn chế về định loại ấu trùng tới giống và loài nên các
nghiên cứu ở Đông Nam Á mới chỉ dừng lại ở giai đoạn trưởng thành. Các khóa
định loại của bộ Cánh lông ở Đông Dương (Lào, Campuchia và Việt Nam) dựa trên
những nghiên cứu của tác giả Wallace et al. (1990), Edington & Hildrew (1995) và
Wiggins (1996) [26].
Olash & Johanson (2010) đã công bố 19 loài mới thuộc họ Dipseudopsidae
cho khoa học từ các mẫu vật thu được tại Ấn Độ, Malaysia, Lào và Việt Nam [62].
Tại Nhật Bản, Ito & Ohakawa (2012) đã ghi nhận sự xuất hiện lần đầu của hai loài

Hemiptera cũng được quan tâm nghiên cứu ở nhiều nước như Trung Quốc, Thái
Lan, Malaysia, Singapore… Ở Trung Quốc, từ những năm 1920-1930, Hoffmann
đã công bố nhiều nghiên cứu phân loại, sinh học của Cánh nửa ở nước [50]. Ở Đông
Á và Đông Nam Á, Esaki (trong giai đoạn 1923-1930) đã miêu tả nhiều loài thuộc
bộ Cánh nửa ở khu vực này và các vùng lân cận, đưa thêm vào bậc phân loại cao
hơn mà ngày nay vẫn được tiếp tục nghiên cứu. Lundblad (1933) đưa ra tổng quan
chung về bộ Cánh nửa ở nước, với danh lục những loài từ Ấn Độ đến New Guinea
và Nhật Bản [63]. Ở bán đảo Malaysia, Fernando & Cheng (1974) đã lập một danh
lục gồm 102 loài thuộc 12 họ. Sau đó, nhiều loài khác vẫn được miêu tả hoặc ghi
nhận. Hiện tại, bán đảo Malaysia và Singapore có 167 loài nước ngọt thuộc 64
giống, 18 họ được biết đến [2]. Bộ Cánh nửa ở Borneo bao gồm khoảng 80 loài đặc
hữu [81].
Cùng với việc nghiên cứu về phân loại học, nhiều nhà khoa học cũng quan

10


Luận văn Thạc Sỹ
tâm đến việc nghiên cứu các lĩnh vực sinh thái học, địa lý sinh vật, chủng loại phát
sinh, tập tính hay sự thích nghi của Cánh nửa ở nước. Có thể kể đến công trình
nghiên cứu của Cobben (1968, 1978), Andersen (1982), Damgaard (2008). Cheng
(1965-1966; 1976) đã công bố một số bài báo về sinh thái và địa lý sinh vật của
giống Halobates. Địa lý sinh vật của bộ Cánh nửa ở khu vực quần đảo Mã Lai được
đề cập bởi Polhemus & Polhemus (1990). Bên cạnh đó những nghiên cứu về vai trò
của bộ Cánh nửa trong hệ sinh thái cũng được quan tâm bởi các nhà khoa học như
Keffer (2000), Spence & Andersen (2000), Sites (2000), Yang et al. (2004), Chen
et al. (2005)... [2]
Mới đây, Site & Vitheepradit (2011) [68] đã lập một khóa định loại cho 4
loài Heleocoris hiện có tại Thái Lan cùng những ghi chú về đặc điểm phân loại,
sinh thái, sinh cảnh trong đó mô tả một loài mới thuộc giống này. Tại Singapore,

32].
Những nghiên cứu mới đây có thể kể đến như Čiampor et al. (2012) đã
cung cấp những thông tin về các loài thuộc giống Dryopomorphus (Elmidae) ở
khu vực Malaysia [22]. Short & Jia (2012) đã bổ sung 2 loài mới của giống
Oocyclus là Oocyclus fikaceki Short & Jia và O. dinghu Short & Jia cho khu hệ
Cánh cứng Châu Á từ các mẫu vật thu được ở đông nam Trung Quốc [66]. Tuy
nhiên, các công trình nghiên cứu về bộ Cánh cứng ở nước thường ít được quan
tâm hơn các loài Cánh cứng trên cạn.
• Nghiên cứu về bộ Hai cánh (Diptera)
Bộ Hai cánh là một trong những bộ côn trùng có số lượng loài lớn trong
giới côn trùng với khoảng 120.000 loài sống ở nước được biết đến trên thế giới
[43]. Đây là một bộ không chỉ đa dạng về thành phần loài mà chúng còn đa dạng về
các hình thái ngoài cơ thể cũng như các đặc tính sinh thái học.
Bộ Hai cánh được nghiên cứu rất kỹ, đặc biệt là các công trình nghiên cứu
của Alexander (1931), Mayer (1934), Zwich & Hortle (1989) [45]. Trong bộ này,
người ta đặc biệt quan tâm tới họ Culicidae từ rất sớm bởi những ảnh hưởng của
chúng khá lớn đến các hoạt động sống của con người. Họ này có khoảng 3.500 loài
và dưới loài thuộc 42 giống trên thế giới [41], có nhiều giống phân bố toàn cầu và là
các vecto truyền bệnh nguy hiểm cho người, động vật và cây trồng.
Ở châu Á, Delfinado & Hardy (1973, 1975, 1977) đã tổng hợp một danh lục
khá đầy đủ về thành phần loài của bộ Hai cánh ở miền Ấn Độ - Mã Lai [43]. Khóa

12


Luận văn Thạc Sỹ
phân loại về thành phần loài của ấu trùng bộ Hai cánh ở khu vực Đông Dương được
nghiên cứu bởi Dudgeon (1999) và Yule (2004) [51].
• Nghiên cứu về bộ Cánh rộng (Megaloptera)
Bộ Cánh rộng thường được biết đến như một bộ khá nguyên thủy của côn

đến bậc phân loại loài. Trong khi đó, pha ấu trùng của chúng chưa được quan tâm
nhiều, chỉ có một vài công trình nghiên cứu, tiêu biểu như các nghiên cứu của
Merritt & Cummins (1984), Morse, Yang & Tian (1994) đã đưa ra khóa phân loại
tới giống [45, 50].
Ở châu Á, những nghiên cứu về Lepidoptera chủ yếu là về phân loại học
trong đó có các nghiên cứu của Rose & Pajni (1987), Habeck & Solis (1994) và
Munroe (1995) [45]. Trong những nghiên cứu này, các tác giả cũng đã thành lập
khóa định loại cụ thể tới loài.
1.2. Tình hình nghiên cứu côn trùng nước ở Việt Nam
Một trong số các tác giả đầu tiên quan tâm đến khu hệ côn trùng nước ở Việt
Nam là Lestage (1921, 1924). Ông đã công bố 3 loài mới của bộ Phù du dựa vào
mẫu vật được lưu giữ ở bảo tàng Paris. Navás (1922) đã mô tả 2 loài, Ephemera
longiventris và E. innotata [54]. Một số loài thuộc bộ Cánh úp được miêu tả bởi
Kawai (1968-1969), Zwick (1988) và Stark et al. (1999), nhưng tất cả các miêu tả
này chỉ dựa trên giai đoạn trưởng thành. Tác giả người Việt Nam đầu tiên có những
nghiên cứu tạo nền tảng cho lĩnh vực côn trùng nước là Đặng Ngọc Thanh (1967,
1980) [7].
• Nghiên cứu về bộ Phù du (Ephemeroptera)
Công trình nghiên cứu về bộ Phù du đầu tiên ở Việt Nam là của tác giả
Lestage (1921,1924). Ngay sau đó, Navás (1922) mô tả 2 loài Ephemera longiventris
Navas và Ephemera innotata Navas, căn cứ vào mẫu vật thu được ở miền Bắc Việt
Nam [52]. Tác giả Việt Nam phải kể đến Đặng Ngọc Thanh (1980) với nghiên cứu
khu hệ Động vật không xương sống Bắc Việt Nam, cũng mô tả một loài mới thuộc
họ Heptageniidae [7]. Theo Đặng Ngọc Thanh (1980) đã xác định khu hệ Phù du ở
Việt Nam có 54 loài, 29 giống thuộc 13 họ khác nhau. Đồng thời ông cũng mô tả
hai loài mới cho khoa học đó là Thalerosphyrus vietnamensis Dang và
Neoephemeropsis cuaraoensis Dang [7, 52]. Những nghiên cứu này đã cung cấp
những thông tin hữu ích góp phần mở ra một thời kì mới cho các công trình nghiên
cứu về Phù thời gian sau.


Nguyễn Văn Vịnh (2008), trong nghiên cứu về thành phần loài của

bộ Phù du

(Ephemeroptera) ở Vườn Quốc gia Bạch Mã, Thừa Thiên Huế, đã xác định được 56 loài thuộc 33

15


Luận văn Thạc Sỹ
giống và 11 họ đồng thời các tác giả cũng nhận xét về sự phân bố của bộ Phù du theo độ cao tại
khu vực nghiên cứu [12].

• Nghiên cứu về bộ Chuồn chuồn (Odonata)
Bộ Chuồn chuồn ở Việt Nam được nghiên cứu lần đầu tiên vào những năm
đầu của thập niên 90 dưới thời Pháp thuộc bởi một số nhà khoa học người Pháp như
Martin trong báo cáo được công bố năm 1902 khi điều tra khu hệ động vật Đông
Dương. Trong báo cáo này, ông công bố 139 loài thuộc 3 họ: Libellulidae, Aeshnidae
và Agrionidae. Trong 139 loài, Martin đã mô tả 9 loài mới và một giống mới là
Merogomphus [1, 5]. Tiếp đó, Asahina - thuộc bảo tàng Tự nhiên Tokyo (Nhật Bản)
cũng là người đầu tiên nghiên cứu khu hệ Chuồn chuồn ở Việt Nam [1]. Năm 1996,
ông đã cho công bố 84 loài thuộc 12 họ Chuồn chuồn ở miền Nam Việt Nam. Trong
tài liệu này, tác giả đã công bố một loài mới: Chlogomphus vietnamensis Asahina,
thuộc họ Cordulegasteridae. Cho đến thời điểm hiện tại, Asahina là người có nhiều
công bố hơn cả về khu hệ Chuồn chuồn ở nước ta [5].
Các tác giả Việt Nam bao gồm Nguyễn Xuân Quýnh và cộng sự (2001), khi
xây dựng khóa định loại các nhóm động vật không xương sống nước ngọt thường
gặp ở Việt Nam đã xây dựng khóa định loại tới họ của bộ Chuồn chuồn. Nguyễn
Văn Vịnh và cộng sự (2001), trong nghiên cứu khu hệ côn trùng nước ở Vườn quốc
gia Tam Đảo đã xác định được 26 loài thuộc 12 họ của bộ Chuồn chuồn ở khu vực

Nam với 7 loài được mô tả từ Vườn Quốc gia Cát Tiên và Vườn Quốc gia Yok
Đon, 8 loài được mô tả ở hệ thống suối ở Sa Pa, tỉnh Lào Cai. Stark & Sivec (2011)
đã phát hiện 2 mẫu vật thuộc giống Neoperla có kích thước khác thường so với
những loài đã thu được trước đó tại Cao Bằng vào năm 2011 [70, 67, 68].
Từ các mẫu vật thu thập được, tác giả Cao Thị Kim Thu (2011) đã tổng hợp
được danh lục gồm 70 loài Cánh úp lớn thuộc 13 giống ở Việt Nam. Do đó, hiện
nay đã có 48 loài mới cho khoa học được mô tả từ mẫu vật và có 55 loài mới chỉ
thấy ở Việt Nam mà chưa ghi nhận ở một nơi nào trên thế giới [9].
Gần đây nhất, Stark et al. (2012) đã ghi nhận 3 loài mới Rhopalopsole azun
(Gia Lai), R. minima (Nghệ An) và R. sapa (Lào Cai), đồng thời cũng cung cấp một
khóa phân loại tới loài của giống này tại Việt Nam [75].
• Nghiên cứu về bộ Cánh lông (Trichoptera)
Ở Việt Nam, bộ Cánh lông được nghiên cứu từ rất sớm. Những tài liệu về
Cánh lông đã được xuất bản bởi các nhà phân loại học như: Đức (Ulmer, 1907),

17


Luận văn Thạc Sỹ
Tây Ban Nha (Navás, 1913). Banks (1931) và Mosely (1934) [26] nghiên cứu về
Hydropsychoidae, Limnephiloidae và Rhyacopphiloidae. Oláh (1987-1989) mô tả
các loài thuộc Glossosomatoidae, Hydroptiloidae và Rhyacophiloidae [26]. Sau đó,
May (1995-1998) và Malicky (1994, 1995, 1998), mô tả các loài thuộc
Hydropsychoidae,

Phiolopotamoidae,

Leptoceroidae,

Sericostomatoidae,

Zettel & Chen đã có những dẫn liệu về họ Gerridae ở Việt Nam, ghi nhận tổng cộng
khoảng 40 loài. Hecher (1997) công bố 2 loài mới: Pseudovelia intonsa và P.
pusilla, hiện chỉ tìm thấy ở Việt Nam [2].
Các tác giả Việt Nam phải kể đến là Trần Anh Đức (2008) đã đưa ra khóa
định loại đến loài của họ Gerridae, ghi nhận 64 loài thuộc 26 giống [77]. Tiếp đó,
Tran et al. (2010) đã bổ sung thêm 3 loài cho Việt Nam: Hydrometra albolineata
Scott, 1874; H. jaczewskii Lundblad, 1933 và H. ripicola Andersen, 1992, đồng thời
cũng cập nhật dẫn liệu mới về phân bố của 9 loài Hydrometra ở Việt Nam [2].
Những nghiên cứu này đã bổ sung danh sách thành phần loài, mô tả các loài mới,
cũng như xây dựng các khóa định loại đến loài của các giống, góp phần làm cơ sở
cho những nghiên cứu tiếp theo về bộ Hemiptera ở nước của Việt Nam. Năm 2011,
tác giả đã cung cấp danh sách loài Cánh nửa thuộc khu vực đô thị Hà Nội bao gồm
23 loài, 12 giống, 9 họ [78]. Đây là một nghiên cứu đầu tiên cho khu hệ Cánh nửa
tại thủ đô Hà Nội. Mới đây nhất, Tran & Polhemus (2012) đã bổ sung một loài
Gerris mới từ miền Nam Việt Nam đồng thời ghi nhận sự xuất hiện lần đầu tiên của
hai loài G. latiabdominis và G. gracilicornis từ khu vực phía tây bắc của đất nước.
Trong đó cũng đưa ra một khóa phân loại chi tiết cho 4 loài Gerris có mặt ở Việt
Nam hiện nay [80].
• Nghiên cứu về các bộ Cánh cứng, Hai cánh, Cánh vảy và Cánh rộng
Ở nước ta, các công trình nghiên cứu về bộ Cánh cứng (Coleoptera), Hai
cánh (Diptera), bộ Cánh vảy (Lepidoptera) và bộ Cánh rộng (Megaloptera) còn tản
mạn. Các nghiên cứu thường không tập trung vào một bộ cụ thể mà thường đi cùng
với các công trình nghiên cứu về khu hệ côn trùng nước nói chung như: Nguyễn
Văn Vịnh (2001), Nguyễn Văn Hiếu (2009) nghiên cứu ở Vườn Quốc gia Tam Đảo;
Cao Thị Kim Thu, Nguyễn Văn Vịnh và Yeon Jae Bae (2008), Nguyễn Thị Minh
Huệ (2009) nghiên cứu ở Vườn Quốc gia Bạch Mã...
1.3. Đa dạng sinh học ở Khu Bảo tồn thiên nhiên Pù Luông
Khu BTTN Pù Luông được thành lập theo Quyết định số 495/QĐ-UBND,
ngày 27 tháng 3 năm 1999 của Chủ tịch UBND tỉnh Thanh Hóa với diện tích


mông trắng (Trachypithecus delacouri)…
1.4. Một số đặc điểm tự nhiên và kinh tế - xã hội ở Khu BTTN Pù Luông
1.4.1. Vị trí địa lý
Khu BTTN Pù Luông nằm từ 20021’ đến 20034’ vĩ độ Bắc và từ 105002’ đến
105020 kinh độ Đông thuộc địa phận 2 huyện Quan Hóa và Bá Thước, phía Tây Bắc

20


Luận văn Thạc Sỹ
tỉnh Thanh Hóa, Bắc Trung Bộ Việt Nam. Khu BTTN bao gồm phía Tây của dãy
núi đá Pù Luông - Cúc Phương và phía Bắc tiếp giáp với các huyện Mai Châu, Tân
Lạc và Lạc Sơn của tỉnh Hòa Bình.
Khu BTTN gồm các phần đất thuộc địa phận của 9 xã: Phú Lệ, Phú Xuân,
Thanh Xuân, Hồi Xuân, Phú Nghiêm thuộc huyện Quan Hóa và Thành Sơn, Thành
Lâm, Cổ Lũng, Lũng Cao thuộc huyện Bá Thước.
1.4.2. Địa hình
Khu BTTN Pù Luông gồm 2 khu quản lý chính: Các khu bảo vệ nghiêm ngặt
và các khu phục hồi sinh thái.
Khu bảo vệ nghiêm ngặt gồm hai dãy núi chạy song song theo hướng Tây
Bắc - Đông Nam và được ngăn cách với nhau bởi một thung lũng có người dân sinh
sống và canh tác. Thung lũng này không thuộc vùng lõi nhưng được xác định là
vùng đệm của khu bảo tồn, nơi cũng có những sườn dốc thấp hơn của cả hai dãy núi
này. Vì vậy, các dãy núi chiếm phần lớn diện tích của hai vùng lõi. Diện tích của
vùng lõi phía Tây Nam là 4.598 ha và vùng lõi phía Đông Bắc là 8.772 ha.
Các khu phục hồi sinh thái rộng 4.342 ha và bao gồm 500 ha trong vùng lõi
về phía Đông Bắc trong các khu vực Son - Bá - Mười. Khu bảo tồn phía Nam giáp
với đường 15a nối các huyện Quan Hóa và Bá Thước và dẫn tới huyện Mai Châu
tỉnh Hòa Bình và phía Đông Nam thành phố Thanh Hóa.
1.4.3. Địa chất, đất đai

này tạo ra đường phân nước giữa hai phụ lưu Pưng (chảy theo hướng Tây Bắc) và
Chàm (chảy theo hướng Đông Nam), trước khi hợp dòng vào sông Mã. Sông Mã
bao quanh vùng đệm Khu BTTN về phía Tây, phía Nam và Đông Nam.
Hệ thống nước của vùng lõi đá vôi rất phức tạp và không thể có mối quan hệ
trực tiếp nào giữa hệ thống nước trên bề mặt và dưới lòng đất. Tại Khu BTTN có
nhiều hệ thống hang động, ngoài ra còn nhiều hang động được nối với nhau bởi các
hệ thống sông ngầm.
1.4.6. Điều kiện kinh tế - xã hội
- Dân số và dân tộc: Khu BTTN Pù Luông nằm trong khu vực đông dân cư.
Phần lớn người dân địa phương ở đây là các dân tộc Thái, Mường. Người dân sống
thành từng thôn bản phân bố rải rác, không tập trung. Trong khi hầu hết người dân
sống ở vùng đệm, thì có một số người dân sinh sống trong vùng lõi (ở phân khu bảo

22


Luận văn Thạc Sỹ
vệ nghiêm ngặt và phân khu phục hồi sinh thái).
- Các hoạt động kinh tế của người dân: Sản xuất nông nghiệp là nghề kinh tế
chủ yếu của người dân trong vùng chiếm đến 89,6% tổng số người lao động. Tuy
nhiên, tập đoàn cây trồng quá đơn điệu chỉ bao gồm lúa, sắn, ngô và một số loại cây
phi lương thực khác, năng suất thu được rất thấp. Cùng với trồng trọt, chăn nuôi,
sản xuất lâm nghiệp cũng góp một phần trong các hoạt động kinh tế của người dân.

Chương 2. THỜI GIAN, ĐỊA ĐIỂM VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU
2.1. Thời gian ngiên cứu
Thời gian thu mẫu được thực hiện từ ngày 21/03/2012 đến ngày 31/03/2012
tại 18 điểm thu mẫu thuộc Khu BTTN Pù Luông. Thời gian phân tích mẫu và xử lý


bẩn, chảy chậm và đục, tạo thành nhiều vũng nước nhỏ. Suối chảy qua vị trí đi lại
của người và gia súc. Hai bên suối phía trên là vách đá có nhiều cây bụi trung bình
và nhỏ.

24


Luận văn Thạc Sỹ
• Đ4 (Suối Báng)
- Tọa độ: 20o28’13’ vĩ độ Bắc, 105o07’32’’kinh độ Đông
Độ cao so với mặt nước biển là 405m, độ rộng suối từ 10 - 20m, độ rộng mặt
nước 1 - 2m. Nền đáy chủ yếu là đá nhỏ, bùn nhão, có rất nhiều mùn, rêu và lá khô.
Nước suối chảy chậm, đục và bẩn. Sinh cảnh hai bên ven bờ là ruộng bậc thang. Đây
là nơi đi lại của người và gia súc.
• Đ5 (Suối Mỏ)
- Tọa độ: 20o28’18” vĩ độ Bắc, 105o08’04” kinh độ Đông
Độ cao so với mặt nước biển là 257m, suối có chiều rộng từ 7 - 10m, độ rộng
mặt nước từ 3 - 5m. Nước suối trong, có tốc độ dòng chảy khá mạnh và tạo thành
các vũng lớn (chủ yếu là cát và đất ở nền đáy). Nền đáy là đá tảng lớn chiếm ưu thế
xen lẫn đá nhỏ và sỏi, rất ít mùn thực vật và không có rác thải. Sinh cảnh hai bên
chủ yếu là tre nứa và cây bụi.
• Đ6 (Thác Hiêu)
- Tọa độ: 20o 28’00’’ vĩ độ Bắc, 105o13’23” kinh độ Đông
Độ cao so với mặt nước biển là 172m, suối có chiều rộng 7- 15m, độ rộng
mặt nước 3 - 5m, độ sâu của nước từ 10 - 30cm. Nền đáy suối chủ yếu là đá tảng
lớn, ngoài ra còn có mùn, cát và nhiều lá rụng. Nước suối trong có tốc độ dòng chảy
trung bình. Suối tạo thành các vũng nước nhỏ. Sinh cảnh hai bên bờ là tre nứa và
cây bụi, gần khu dân cư.
• Đ7 (Suối trong rừng)
Độ cao so với mặt nước biển là 160m, suối có chiều rộng 5 - 7m, độ rộng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status