Luận văn Thạc sĩ Khoa học: Nghiên cứu đa dạng sinh học của côn trùng nước ở Khu Bảo tồn thiên nhiên Pù Luông, tỉnh Thanh Hóa - Pdf 59

MỞ ĐẦU
Côn trùng nước bao gồm những loài có ít nhất một giai đoạn phát triển 
trong vòng đời của chúng sống trong nước. Cùng với sự phong phú của các dạng 
thủy vực như  thủy vực nước đứng, nước chảy hay các thủy vực tạm thời và  
nhân tạo đã tạo nên những quần xã côn trùng nước vô cùng đa dạng. 
Cũng như các động vật không xương sống khác, côn trùng nước góp phần 
duy trì hệ sinh thái thủy vực phát triển ổn định. Chúng là những mắt xích không  
thể  thiếu trong mạng lưới thức ăn của các hệ  sinh thái. Nhiều nhóm côn trùng  
nước còn có chức năng lọc nước giữ cho môi trường sống của chúng trong sạch,  
hay một số khác lại tạo nguồn ôxy do chúng ăn nạo các lớp tảo phát triển trên bề 
mặt đá hoặc lá cây thủy sinh. Bên cạnh đó, các loài côn trùng nước còn có ý nghĩa 
lớn đối với đời sống con người. Hầu hết, chúng là đối tượng được sử  dụng  
trong giám sát sinh học. Do một số loài rất nhạy cảm đối với sự  biến đổi của  
môi trường nên chúng được dùng làm sinh vật chỉ  thị  đánh giá chất lượng môi 
trường nước. Ngoài ra, việc nghiên cứu sử dụng côn trùng nước làm thức ăn cho  
ngành thủy sản cũng được quan tâm đến. Nhiều doanh nghiệp dựa trên tập tính  
vũ hóa của một số nhóm côn trùng nước tiêu biểu như  bộ Phù du, đã tạo ra một 
số   lượng   lớn   lưỡi   câu   bắt   chước   hình   dạng   chúng   phục   vụ   cho   hoạt   động  
thương mại và giải trí của con người trong nhiều năm qua.
Sự  đa dạng cùng với vai trò của côn trùng nước là rất lớn nhưng trong  
thực tế nhiều loài còn chưa được biết đến, đặc biệt là những vùng nhiệt đới trên 
thế  giới. Việt Nam là một trong các nước nhiệt đới, những năm gần đây côn 
trùng nước cũng đã được quan tâm nghiên cứu. Tuy nhiên, những nghiên cứu này 
vẫn còn ít và tản mạn, vì vậy đề  tài: “ Nghiên cứu đa dạng sinh học của côn 
trùng nước  ở  Khu Bảo tồn nhiên nhiên Pù Luông, tỉnh Thanh Hóa” được 
thực hiện nhằm những mục tiêu chính sau đây:
­ Xác định thành phần loài và mật độ côn trùng nước tại một số hệ thống  
suối thuộc Khu Bảo tồn thiên nhiên (BTTN) Pù Luông.

1


Sự  đa dạng về hình thái và tầm quan trọng của côn trùng nước trong các  
hệ  sinh thái thủy vực mang lại nhiều khám phá thú vị  trong mô tả  và phân loại  
cho các nhà côn trùng học đồng thời thúc đẩy phạm vi nghiên cứu ngày càng  
được mở  rộng đi sâu vào những cơ  chế  sinh thái học như  biến động quần thể,  
các mối quan hệ dinh dưỡng. Tiêu biểu như các công trình của Lindeman (1942),  
Cummins & Klug (1979), Merritt & Cummins (1984), Resh & Rosenberg (1984), 
Cummins (1974, 1996) [47].

3


 Đến cuối thế kỷ XX và đầu thế kỷ XXI, nhiều nhà khoa học đã công bố 
hàng loạt các công trình nghiên cứu về côn trùng nước như: Mc Cafferty (1983), 
Kawai   (1985),   Morse  et   al.   (1994),   Yang   &   Tian   (1994),   Merritt   &   Cummins 
(1996), Mc Cafferty (1999)… Các nghiên cứu này đã đưa ra khóa định loại tới 
giống, thậm chí tới loài côn trùng nước dựa vào hình thái con trưởng thành và ấu  
trùng. Bên cạnh đó các tác giả còn đề cập đến một số ứng dụng của chúng trong  
sinh thái học [47].
Nghiên cứu về bộ Phù du (Ephemeroptera)
Phù du là một bộ côn trùng có cánh cổ sinh. Những hóa thạch cổ xưa được 
tìm thấy  ở  kỷ  Cacbon và kỷ  Pecmia cách đây 250 triệu năm (Edmunds, 1982;  
Dudgeon, 1999). Đến năm 2008, trên thế  giới đã phát hiện được hơn 3000 loài 
thuộc hơn 400 giống của 42 họ thuộc bộ Phù du [28]. Phù du là những côn trùng  
phân bố rộng khắp trên thế giới, giai đoạn ấu trùng của chúng có mặt ở hầu hết 
các thủy vực nước ngọt như: ao, sông, suối, đầm lầy đến những vùng nước nông  
của hồ (Needham et al., 1935; Burk, 1953; Edmunds et al. , 1976) [54]. 
Thời kì đầu, Phù du chủ  yếu được nghiên cứu bởi những nhà khoa học 
châu Âu và châu Mỹ. Lineaus (1758) là người đầu tiên đặt nền móng cho các 
nghiên cứu về Phù du khi mô tả 6 loài Phù du có mặt ở châu Âu và xếp chúng vào  
một nhóm mà ông đặt tên là Ephemera [54]. 

cả  giai đoạn  ấu trùng và trưởng thành. Ngoài các công trình nghiên cứu về  đặc 
điểm phân loại của Phù du, nhiều nhà khoa học còn quan tâm nghiên cứu đến các 
khía cạnh khác nhau liên quan đến nhóm côn trùng nước này như: sinh thái học,  
địa động vật. Điển hình là Neddham et al. (1935) [54], đã công bố các số liệu về 
vòng đời, quá trình lột xác chuyển từ  đời sống dưới nước lên cạn, tập tính dinh 
dưỡng, tập tính sinh sản, biến động số lượng theo mùa... của nhiều loài Phù du.  
Gần đây, Brittain (2008) đã cung cấp những nghiên cứu bước đầu về ảnh hưởng 
của biến đổi khí hậu đối với sự phân bố và đa dạng của bộ Phù du [16]. 
Về mặt ứng dụng, một số công trình của Landa & Soldan (1991), Bufagni 
(1997) đã đề cập đến việc sử dụng Phù du lam sinh vât chi thi môi tr
̀
̣
̉ ̣
ương n
̀ ước.  
Vì nhiều loài Phù du rất nhạy cảm với sự biến đổi của môi trường [54].  Tương 

5


lai tới, hướng nghiên cứu tập trung vào các vấn đề sinh thái phục hồi và bảo tồn  
các loài cũng như các nghiên cứu ứng dụng của Phù du vào thực tiễn.
Nghiên cứu về bộ Chuồn chuồn (Odonata)
Chuồn chuồn cũng là một trong những nhóm nguyên thủy và cổ  xưa. Các  
hóa thạch của chúng còn đến hiện nay được biết từ kỷ Trias. Hiện nay, người ta  
phân biệt ra hai bộ  phụ, Anisoptera (Chuồn chuồn ngô) và Zygoptera (Chuồn 
chuồn kim). Hai loài còn sót lại thuộc giống  Epiophlebia thuộc vùng Himalaya và 
Nhật Bản, trước đây được xếp chung vào bộ  phụ  cổ  Anisozygoptera, hiện nay  
được xếp vào bộ phụ  Anisoptera [24]. Trong những năm gần đây, Chuồn chuồn 
trở thành mục tiêu của nỗ lực bảo tồn ở nhiều quốc gia như Bắc Mỹ, châu Âu và 

Cánh úp là một bộ nhỏ trong lớp côn trùng biến thái không hoàn toàn. Hiện 
nay, có hơn 3.497 loài đã được mô tả  trên thế  giới [25]. Trong 30 năm qua, số 
lượng loài Cánh úp đã tăng lên một cách đáng kể (Mc Cafferty, 1990  ước tính có  
2100 loài) và nếu xu hướng này tiếp tục số lượng sẽ tăng lên gấp đôi trong tương  
lai không xa. 
Cánh úp là bộ có phân bố trên tất cả các châu lục, ngoại trừ  Nam Cực và 
tạo thành một thành phần quan trọng trong các hệ  sinh thái nước chảy. Khu hệ 
Cánh úp đa dạng nhất  ở khu vực Bắc Mỹ 674 loài ( Stark & Baumann, 2009) và 
khu vực châu Âu 426 loài (Fochetti & Tierno de Figueroa, 2004). Khu hệ tại Úc 
191 loài (Michaelis & Yule, 1988), New Zealand 104 loài (McLellan, 2006), Trung 
Mỹ 95 loài, Nam Mỹ 378 loài (Heckman, 2003) và châu Phi 126 loài [25].  Khu vực 
Bắc Mỹ và Châu Âu là hai khu vực đã được nghiên cứu nhiều hơn cả, trong khi  
đó những dẫn liệu về Cánh úp ở Trung và Nam Mỹ còn rất nghèo nàn và chưa đủ 
để đại diện cho mức độ đa dạng thật sự ở các khu vực này.
Ở châu Á, các công trình nghiên cứu về khu hệ Cánh úp đã được tiến hành  
bởi một số nhà côn trùng học châu Âu và châu Á. Vào những năm 30 của thế kỷ 
trước, Wu & Classen (1934, 1935, 1937, 1938) [43] đã đưa ra hệ  thống các bậc 
phân loại của bộ Cánh úp tại miền Nam Trung Quốc. Kawai (1961 ­ 1975) nghiên 
cứu một số loài Cánh úp ở  Đông Nam Á,  Ấn Độ, Sri Lanka... [4]. Vào thập niên 
80 của thế kỷ XX, Zwick (1980, 1983, 1985, 1988) cũng đưa ra những nghiên cứu  

7


về khu hệ Cánh úp ở Đông Nam Á. Uchida et al. (1988, 1989) [4] mô tả  một vài 
loài thuộc  Perlinae  (Perlidae)  ở  Malaysia, Thái Lan và hai giống   Cryptoperla,  
Yoraperla   thuộc họ  Peltoperlidae  ở  Nhật Bản và Đài Loan. Stark (1979, 1987,  
1983,   1991,   1999)   [17]   đã   ghi   nhận   nhiều   loài   mới   thuộc   họ   Peltoperlidae   và 
Perlidae ở các nước phương Đông.
 Cho đến nay, khu vực Châu Á đã xác định được khoảng 1.527 loài. Trong 

(1911, 1915, 1925, 1927, 1930, 1932) và Navás (1913, 1917, 1922, 1930, 1932). Trong 
khi các hướng nghiên cứu chủ  yếu dựa vào giai đoạn trưởng thành thì Ulmer đã 
mở ra hướng nghiên cứu dựa vào giai đoạn ấu trùng vào những năm 1955 và 1957 
[26]. Trong giai đoạn này, việc nghiên cứu về Cánh lông ở các nước Châu Á cũng 
bắt đầu được chú trọng, Ulmer (1905 ­ 1951, 1955, 1957),  Malicky (1955),  Morse 
(2009),  Banks (1937) là người đầu tiên nghiên cứu khu hệ  Cánh lông Philippin. 
Đặc biệt trong những năm gần đây, có hàng loạt các công trình nghiên cứu mới  
về  Cánh lông được công bố  như  tác giả  Malicky (2007) đã liệt kê 327 loài và 
chứng minh sự đa dạng của Cánh lông trên đảo Sumatra cao hơn so với các khu 
vực khác xung quanh Indonesia [26]. Năm 2008, Johason & Oláh đã công bố 7 loài 
mới thuộc giống Tinodes (Psychomyiidae) cho khu hệ Cánh lông Đông Nam Á và 
1 loài mới từ Hồng Kông [33].
 Năm 2009, Sharma & Chandra đã cung cấp một danh sách gồm 1046 loài,  
94 giống, 27 họ  của khu hệ Cánh lông  Ấn Độ. Các nghiên cứu cũng được quan  
tâm  ở  một số  quốc gia khác như  Nhật Bản phải kể  tới Iwata (1927), Tanida  
(1986, 1987), Ito & Ohkawa (2012); Trung Quốc (Martynov, 1930, 1931; Wang,  
1963),   Thái   Lan   (Chantaramongkol   &   Malicky,   1989,   1991­1993,   1995,   1997; 
Radomsuk, 1999; Sangpradub  et al., 1999; Malicky  et al., 2001, 2002; Chaiyapa, 
2001) [3]... Tuy nhiên, do còn nhiều hạn chế về định loại  ấu trùng tới giống và  
loài nên các nghiên cứu  ở  Đông Nam Á mới chỉ  dừng lại  ở  giai đoạn trưởng  
thành. Các khóa định loại của bộ  Cánh lông  ở  Đông Dương (Lào, Campuchia và 
Việt Nam) dựa trên những nghiên cứu của tác giả Wallace et al. (1990), Edington 
& Hildrew (1995) và Wiggins (1996) [26].

9


Olash & Johanson (2010) đã công bố 19 loài mới thuộc họ Dipseudopsidae 
cho khoa học từ  các mẫu vật thu được tại  Ấn Độ, Malaysia, Lào và Việt Nam 
[62]. Tại Nhật Bản, Ito & Ohakawa (2012) đã ghi nhận sự xuất hiện lần đầu của 

Thái   Lan,   Malaysia,   Singapore…   Ở   Trung   Quốc,   từ   những   năm   1920­1930,  
Hoffmann đã công bố nhiều nghiên cứu phân loại, sinh học của Cánh nửa ở nước  
[50].  Ở  Đông Á và Đông Nam Á, Esaki (trong giai đoạn 1923­1930) đã miêu tả 
nhiều loài thuộc bộ Cánh nửa  ở khu vực này và các vùng lân cận, đưa thêm vào 
bậc phân loại cao hơn mà ngày nay vẫn được tiếp tục nghiên cứu. Lundblad  
(1933) đưa ra tổng quan chung về bộ Cánh nửa ở nước, với danh lục những loài 
từ   Ấn Độ  đến New Guinea và Nhật Bản [63].  Ở bán đảo Malaysia, Fernando &  
Cheng (1974) đã lập một danh lục gồm 102 loài thuộc 12 họ. Sau đó, nhiều loài 
khác vẫn được miêu tả hoặc ghi nhận. Hiện tại, bán đảo Malaysia và Singapore 
có 167 loài nước ngọt thuộc 64 giống, 18 họ được biết đến [2]. Bộ  Cánh nửa ở 
Borneo bao gồm khoảng 80 loài đặc hữu [81].
Cùng với việc nghiên cứu về phân loại học, nhiều nhà khoa học cũng quan 
tâm đến việc nghiên cứu các lĩnh vực sinh thái học, địa lý sinh vật, chủng loại 
phát sinh, tập tính hay sự  thích nghi của Cánh nửa  ở  nước. Có thể  kể  đến công  
trình nghiên cứu của Cobben (1968, 1978), Andersen (1982), Damgaard (2008).  
Cheng (1965­1966; 1976) đã công bố một số bài báo về sinh thái và địa lý sinh vật 
của giống Halobates. Địa lý sinh vật của bộ Cánh nửa  ở  khu vực quần đảo Mã 
Lai được đề  cập bởi Polhemus & Polhemus (1990). Bên cạnh đó những nghiên 
cứu về  vai trò của bộ  Cánh nửa trong hệ  sinh thái cũng được quan tâm bởi các 
nhà khoa học như Keffer (2000), Spence & Andersen (2000), Sites (2000), Yang  et 
al. (2004), Chen et al. (2005)... [2]
Mới đây, Site & Vitheepradit (2011) [68] đã lập một khóa định loại cho 4 
loài Heleocoris hiện có tại Thái Lan cùng những ghi chú về đặc điểm phân loại, 
sinh thái, sinh cảnh trong đó mô tả một loài mới thuộc giống này. Tại Singapore,  
Yang & Murphy (2011) [82] đã có một bài báo về  côn trùng nước Heteroptera  ở 
Singapore và bán đảo Malaysia trong đó cung cấp một khóa phân loại của 3 giống 
và 5 loài thuộc họ  Mesoveliidae  ở  Đông Nam Á và một loài mới thuộc giống 

11


12


Cánh cứng Châu Á từ  các mẫu vật thu đượ c  ở  đông nam Trung Qu ốc [66].  
Tuy   nhiên,   các   công   trình   nghiên   cứu   về   bộ   Cánh   cứng   ở   nướ c   thườ ng   ít 
đượ c quan tâm hơn các loài Cánh cứng trên cạn. 
Nghiên cứu về bộ Hai cánh (Diptera)
              Bộ Hai cánh là một trong những bộ côn trùng có số lượng loài lớn trong  
giới côn trùng với khoảng 120.000 loài sống ở nước được biết đến trên thế  giới 
[43]. Đây là một bộ không chỉ đa dạng về thành phần loài mà chúng còn đa dạng  
về các hình thái ngoài cơ thể cũng như các đặc tính sinh thái học. 
Bộ Hai cánh được nghiên cứu rất kỹ, đặc biệt là các công trình nghiên cứu 
của Alexander (1931), Mayer (1934), Zwich & Hortle (1989) [45]. Trong b ộ này, 
người ta đặc biệt quan tâm tới họ  Culicidae từ  rất sớm bởi những  ảnh hưởng  
của chúng khá lớn đến các hoạt động sống của con người. Họ  này có khoảng  
3.500 loài và dưới loài thuộc 42 giống trên thế giới [41], có nhiều giống phân bố 
toàn cầu và là các vecto truyền bệnh nguy hiểm cho người,  động vật và cây  
trồng.
Ở châu Á, Delfinado & Hardy (1973, 1975, 1977) đã tổng hợp một danh lục  
khá đầy đủ  về  thành phần loài của bộ  Hai cánh  ở  miền  Ấn Độ  ­ Mã Lai [43].  
Khóa phân loại về  thành phần loài của  ấu trùng bộ  Hai cánh  ở  khu vực Đông  
Dương được nghiên cứu bởi Dudgeon (1999) và Yule (2004) [51].
Nghiên cứu về bộ Cánh rộng (Megaloptera)
          Bộ Cánh rộng thường được biết đến như một bộ khá nguyên thủy của côn 
trùng biến thái hoàn toàn. Đây là một bộ  nhỏ, số  lượng loài không nhiều, chỉ 
khoảng 328 loài đã được mô tả, gồm hai họ: Corydalidae (247 loài) và Sialidae  
(81 loài) [23].  Ấu trùng của bộ  này sống trong nước trong khi giai đoạn nhộng,  
trưởng thành sống trên cạn và đều là các loài ăn thịt (Riek, 1970) [45].
         Về phân bố của bộ này, họ Corydalidae có phân bố rộng, tuy nhiên các báo  
cáo cho thấy chúng không có mặt  ở  châu Âu, Trung Đông, Trung Á, vùng nhiệt  

Munroe (1995) [45]. Trong những nghiên cứu này, các tác giả  cũng đã thành lập 
khóa định loại cụ thể tới loài.
1.2. Tình hình nghiên cứu côn trùng nước ở Việt Nam

14


Một trong số  các tác giả  đầu tiên quan tâm đến khu hệ  côn trùng nước ở 
Việt Nam là Lestage (1921, 1924). Ông đã công bố 3 loài mới của bộ Phù du dựa  
vào  mẫu   vật   được   lưu  giữ   ở   bảo  tàng  Paris.   Navás   (1922)   đã   mô   tả   2   loài, 
Ephemera longiventris  và  E. innotata  [54]. Một số  loài thuộc bộ  Cánh úp được 
miêu tả bởi Kawai (1968­1969), Zwick (1988) và Stark et al. (1999), nhưng tất cả 
các miêu tả  này chỉ  dựa trên giai đoạn trưởng thành. Tác giả  người Việt Nam  
đầu tiên có những nghiên cứu tạo nền tảng cho lĩnh vực côn trùng nước là Đặng  
Ngọc Thanh (1967, 1980) [7]. 
Nghiên cứu về bộ Phù du (Ephemeroptera)
Công trình nghiên cứu về  bộ  Phù du đầu tiên  ở  Việt Nam là của tác giả 
Lestage (1921,1924). Ngay sau đó, Navás (1922) mô tả 2 loài  Ephemera longiventris 
Navas và Ephemera innotata Navas, căn cứ vào mẫu vật thu được ở miền Bắc Việt 
Nam [52]. Tác giả  Việt Nam phải kể đến Đặng Ngọc Thanh (1980) với nghiên 
cứu khu hệ  Động vật không xương sống Bắc Việt Nam, cũng mô tả  một loài 
mới thuộc họ  Heptageniidae [7]. Theo Đặng Ngọc Thanh (1980) đã xác định khu 
hệ Phù du ở Việt Nam có 54 loài, 29 giống thuộc 13 họ khác nhau. Đồng thời ông  
cũng mô tả hai loài mới cho khoa học đó là Thalerosphyrus vietnamensis Dang và 
Neoephemeropsis cuaraoensis  Dang [7, 52]. Những nghiên cứu này đã cung cấp 
những thông tin hữu ích góp phần mở  ra một thời kì mới cho các công trình  
nghiên cứu về Phù thời gian sau.
Những năm cuối thế  kỷ  XX, Tshernova (1972) mô tả  giống  Vietnamella  
dựa vào loài chuẩn  Vietnamella thani  và công bố  thêm 1 loài mới là  Asiatella 
(Ephemerellidae) với mẫu chuẩn là Asiatella fermorata. Braacsh và Soldan (1979, 

phân bố của bộ Phù du theo độ cao tại khu vực nghiên cứu [12]. 
Nghiên cứu về bộ Chuồn chuồn (Odonata)
Bộ  Chuồn chuồn  ở  Việt Nam được nghiên cứu lần đầu tiên vào những  
năm đầu của thập niên 90 dưới thời Pháp thuộc bởi một số nhà khoa học người  
Pháp như Martin trong báo cáo được công bố năm 1902 khi điều tra khu hệ động 
vật Đông Dương. Trong báo cáo này, ông công bố 139 loài thuộc 3 họ: Libellulidae,  

16


Aeshnidae và Agrionidae. Trong 139 loài, Martin đã mô  tả  9 loài mới và một  
giống mới là  Merogomphus  [1, 5]. Tiếp đó, Asahina ­ thuộc bảo tàng Tự  nhiên 
Tokyo (Nhật Bản) cũng là người đầu tiên nghiên cứu khu hệ  Chuồn chuồn  ở 
Việt Nam [1]. Năm 1996, ông đã cho công bố 84 loài thuộc 12 họ Chuồn chuồn ở 
miền   Nam   Việt   Nam.   Trong   tài   liệu   này,   tác   giả   đã   công   bố   một   loài   mới: 
Chlogomphus   vietnamensis  Asahina,  thuộc  họ  Cordulegasteridae.  Cho  đến thời 
điểm hiện tại, Asahina là người có nhiều công bố  hơn cả  về  khu hệ  Chuồn  
chuồn ở nước ta [5].
Các tác giả  Việt Nam bao gồm Nguyễn Xuân Quýnh và cộng sự  (2001),  
khi xây dựng khóa định loại các nhóm động vật không xương sống nước ngọt  
thường gặp ở Việt Nam đã xây dựng khóa định loại tới họ của bộ Chuồn chuồn.  
Nguyễn Văn Vịnh và cộng sự (2001), trong nghiên cứu khu hệ côn trùng nước ở 
Vườn quốc gia Tam Đảo đã xác định được 26 loài thuộc 12 họ  của bộ  Chuồn  
chuồn ở khu vực này. Nguyễn Thị Minh Huệ (2009) trong nghiên cứu khu hệ côn 
trùng nước Vườn Quốc gia Bạch Mã tỉnh Thừa Thiên Huế xác định được 15 loài 
thuộc 11 họ.
Tuy nhiên, do những nghiên cứu về  phân loại thiếu trùng chuồn chuồn  ở 
Việt Nam còn ít. Do đó, những mẫu vật thu được mới chỉ  phân loại đến bậc 
giống.
Nghiên cứu về bộ Cánh úp (Plecoptera)

hiện nay đã có 48 loài mới cho khoa học được mô tả  từ  mẫu vật và có 55 loài 
mới chỉ thấy ở Việt Nam mà chưa ghi nhận ở một nơi nào trên thế giới [9].  
Gần đây nhất, Stark et al. (2012) đã ghi nhận 3 loài mới Rhopalopsole azun  
(Gia Lai), R. minima (Nghệ  An) và R. sapa (Lào Cai), đồng thời cũng cung cấp 
một khóa phân loại tới loài của giống này tại Việt Nam [75]. 
Nghiên cứu về bộ Cánh lông (Trichoptera)
Ở Việt Nam, bộ Cánh lông được nghiên cứu từ rất sớm. Những tài liệu về 
Cánh lông đã được xuất bản bởi các nhà phân loại học như:  Đức (Ulmer, 1907), 
Tây Ban Nha (Navás, 1913). Banks (1931) và Mosely (1934) [26] nghiên cứu về 
Hydropsychoidae, Limnephiloidae và Rhyacopphiloidae. Oláh (1987­1989) mô tả 

18


các loài thuộc Glossosomatoidae, Hydroptiloidae và Rhyacophiloidae [26]. Sau đó, 
May   (1995­1998)   và   Malicky   (1994,   1995,   1998),   mô   tả   các   loài   thuộc  
Hydropsychoidae,   Phiolopotamoidae,   Leptoceroidae,   Sericostomatoidae, 
Limnephiloidae,   Glossosomatoidae,   Hydroptiloidae   và   Rhyacopphiloidae   từ   các 
mẫu vật thu được ở một số vùng ở nước ta. Malicky & Mey (2001) [26], mô tả 2 
loài mới thuộc giống Ceratopsyche ở  miền Bắc Việt Nam. Schefter & Johanson 
(2001), mô tả 3 loài thuộc giống Helicopsyche. 
Tác giả  Việt Nam đầu tiên đưa ra hệ  thống khóa phân loại Cánh lông  ở 
Việt Nam là Hoàng Đức Huy (2005) [26] với 198 loài (14 loài mới cho Việt Nam 
và 25 loài mới được ghi nhận) thuộc 58 giống và 24 họ. Trong nghiên cứu này, 
tác giả đã đưa ra những mô tả chi tiết đến các giống thuộc bộ Cánh lông ở Việt 
Nam. 
Hoang D. H. & Bae J. Y. (2006) đã có nghiên cứu so sánh mức độ đa dạng 
côn trùng nước giữa suối Đắk Pri ở miền Nam Việt Nam với suối ở miền Trung  
của Hàn Quốc, kết quả cho thấy bộ Cánh lông ở nước ta đa dạng hơn nhiều về 
số lượng loài và họ [27]. 

(2012) đã bổ  sung một loài  Gerris  mới từ  miền Nam Việt Nam đồng thời ghi 
nhận sự  xuất hiện lần đầu tiên của hai loài G. latiabdominis và G. gracilicornis 
từ khu vực phía tây bắc của đất nước. Trong đó cũng đưa ra một khóa phân loại 
chi tiết cho 4 loài Gerris có mặt ở Việt Nam hiện nay [80].
Nghiên cứu về các bộ Cánh cứng, Hai cánh, Cánh vảy và Cánh rộng
               Ở nước ta, các công trình nghiên cứu về bộ Cánh cứng (Coleoptera), Hai  
cánh (Diptera), bộ  Cánh vảy (Lepidoptera) và bộ  Cánh rộng (Megaloptera) còn 
tản mạn. Các nghiên cứu thường không tập trung vào một bộ cụ thể mà thường 
đi cùng với các công trình nghiên cứu về  khu hệ  côn trùng nước nói chung như: 
Nguyễn Văn Vịnh (2001), Nguyễn Văn Hiếu (2009) nghiên cứu ở Vườn Quốc gia 
Tam Đảo; Cao Thị Kim Thu, Nguyễn Văn Vịnh và Yeon Jae Bae (2008), Nguyễn  
Thị Minh Huệ (2009) nghiên cứu ở Vườn Quốc gia Bạch Mã...                 
1.3. Đa dạng sinh học ở Khu Bảo tồn thiên nhiên Pù Luông

20


Khu BTTN Pù Luông được thành lập theo Quyết định số 495/QĐ­UBND, 
ngày 27 tháng 3 năm 1999 của Chủ  tịch UBND tỉnh Thanh Hóa với diện tích  
16.982 ha thuộc dãy núi đá vôi Pù Luông ­ Cúc Phương là khu vực núi thấp lớn  
duy nhất còn lại về  sinh cảnh đá vôi  ở  miền Bắc Việt Nam. Địa hình Khu bảo 
tồn chia cắt mạnh, có nhiều đỉnh cao trên 1000m (cao nhất là đỉnh Pù Luông 
1.700m), địa thế  khu vực nghiêng dần từ  Tây ­ Bắc sang Đông ­ Nam, độ  dốc  
bình quân 300, khí hậu nhiệt đới gió mùa, chịu ảnh hưởng khía hậu của vùng Tây 
Bắc và  ảnh hưởng sâu sắc của gió Lào, nhiệt độ  trung bình năm 230C; lượng 
mưa bình quân năm 1.500 mm; khu vực đỉnh núi Pù Luông và khu vực Son, Bá, 
Mười có khí hậu rất lạnh với nhiều sương mù.
Rừng nguyên sinh tại khu bảo tồn thiên nhiên Pù Luông là loại rừng kín  
nhiệt đới thườ ng xanh theo mùa. Năm loại kiểu phụ rừng chính tồn tại do kết  
quả  của sự  đa dạng độ  cao và các tầng chất nền: rừng lá rộng đất thấp trên  

Khu BTTN Pù Luông gồm 2 khu quản lý chính: Các khu bảo vệ  nghiêm 
ngặt và các khu phục hồi sinh thái.
Khu bảo vệ nghiêm ngặt gồm hai dãy núi chạy song song theo hướng Tây 
Bắc ­ Đông Nam và được ngăn cách với nhau bởi một thung lũng có người dân 
sinh sống và canh tác. Thung lũng này không thuộc vùng lõi nhưng được xác định 
là vùng đệm của khu bảo tồn, nơi cũng có những sườn dốc thấp hơn của cả hai  
dãy núi này. Vì vậy, các dãy núi chiếm phần lớn diện tích của hai vùng lõi. Diện 
tích của vùng lõi phía Tây Nam là 4.598 ha và vùng lõi phía Đông Bắc là 8.772 ha.
Các khu phục hồi sinh thái rộng 4.342 ha và bao gồm 500 ha trong vùng lõi 
về  phía Đông Bắc trong các khu vực Son ­ Bá ­ Mười. Khu bảo tồn phía Nam 
giáp với đường 15a nối các huyện Quan Hóa và Bá Thước và dẫn tới huyện Mai 
Châu tỉnh Hòa Bình và phía Đông Nam thành phố Thanh Hóa. 
1.4.3. Địa chất, đất đai
Địa hình Khu BTTN Pù Luông bị  chia cắt mạnh, độ  dốc  ở  phía sườn núi 
rất lớn. Khu vực này có đặc điểm địa chất rất phức tạp và đa dạng, bao gồm  

22


nhiều loại đá có nguồn gốc khác nhau. Địa chất và địa mạo của khu vực Pù 
Luông gần như chỉ được hình thành từ đá cacbonat.
Phía Tây Nam vùng lõi, nơi nằm giữa dãy núi Pù Luông được hình thành  
bởi đá macma và terrigeneous (chủ yếu là bazan). Ở các độ cao nhất, dãy núi hình 
thành nên các vùng đá lộ thiên được xem là duy nhất ở Việt Nam về mặt địa chất 
học. Liên khu bảo tồn có độ cao tù 60 ­ 1.650m so với mặt nước biển, điểm cao 
nhất là núi Pù Luông. Đặc trưng của vùng đệm lân cận là các thung lũng phẳng 
có sông phù sa và suối chảy qua, các đồi đá phiến, đá phiến sét và đá cát pha sét 
thấp và các vùng đá vôi nằm biệt lập.
1.4.4. Khí hậu
Khu BTTN Pù Luông có khí hậu nhiệt đới gió mùa và có gió mùa Đông ­ 

­  Các hoạt  động kinh tế  của người dân:  Sản xuất nông nghiệp là nghề 
kinh tế  chủ  yếu của người dân trong vùng chiếm đến 89,6% tổng số  người lao 
động. Tuy nhiên, tập đoàn cây trồng quá đơn điệu chỉ  bao gồm lúa, sắn, ngô và 
một số  loại cây phi lương thực khác, năng suất thu  được rất thấp. Cùng với 
trồng trọt, chăn nuôi, sản xuất lâm nghiệp cũng góp một phần trong các hoạt 
động kinh tế của người dân.

24


Chương 2. THỜI GIAN, ĐỊA ĐIỂM VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU
2.1. Thời gian ngiên cứu
Thời   gian   thu   mẫu   được   thực   hiện   từ   ngày   21/03/2012   đến   ngày 
31/03/2012 tại 18 điểm thu mẫu thuộc Khu BTTN Pù Luông. Thời gian phân tích 
mẫu và xử  lý số  liệu được thực hiện từ  tháng 4 năm 2012 đến tháng 12 năm 
2012.
Toàn bộ  mẫu vật thu ngoài thiên nhiên được bảo quản trong cồn 70% và  
lưu trữ  tại phòng thí nghiệm Đa dạng sinh học, bộ môn Động vật Không xương 
sống, trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội.
2.2. Địa điểm nghiên cứu
Chúng tôi tiến hành thu mẫu tại 18 điểm thuộc Khu BTTN Pù Luông, kí 
hiệu từ Đ1 đến Đ18 (Hình 1, Phụ lục 1). Dựa vào đặc điểm sinh cảnh suối trong  
toàn khu vực nghiên cứu, chúng tôi đã phân chia thành 3 khu vực chính là khu vực  
đầu nguồn (Đ1 ­ Đ6), giữa nguồn (Đ7 ­ Đ12) và cuối nguồn (Đ13 ­ Đ18). 
Đ1 (Suối Ngài)
­ Tọa độ: 20o19’70’’ vĩ độ Bắc, 105o06’51’’ kinh độ Đông. 
Độ cao so với mặt nước biển là 627m, suối có chiều rộng 2 ­ 7m, độ rộng  
mặt nước 1 ­ 5m. Mẫu được thu tại vị trí chân thác nước, nơi tạo thành một vũng  
nước nhỏ  sâu khoảng 30 ­ 50cm. Nền đáy chủ  yếu là đá tảng lớn cùng với cát, 


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status