BÁO CÁO THỰC TẬP LỚP CDTD12TH
BÁO CÁO THỰC TẬP
GVHD: TRẦN THỊ YẾN
Họ tên: ĐẶNG TRƯỜNG SƠN
MSSV: 10006923
LỚP CDTD12TH
ĐỀ TÀI: PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN
THƯƠNG MẠI VẬT TƯ TỔNG HỢP TRƯỜNG GIANG
SVTH: ĐẶNG TRƯỜNG SƠN i MSSV:10006923
BÁO CÁO THỰC TẬP LỚP CDTD12TH
LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đay là đề tài nghiên cứu của tôi. Nhưng kết quả và số liệu trong báo cáo
thực tập tốt nghiệp được thực hiện tại Công ty Cổ phần thương mại Vật tư Tổng hợp
Trường Giang, không sao chép bất cứ nguồn nào khác. Tôi hoàn toàn chịu tránh nhiêm
trước nhà trường về cam đoan này.
Thanh Hóa, ngày 14 tháng 3 năm 2013
Sinh viên thực hiện
ĐẶNG TRƯỜNG SƠN
SVTH: ĐẶNG TRƯỜNG SƠN ii MSSV:10006923
BÁO CÁO THỰC TẬP LỚP CDTD12TH
LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình học tập tại Trường Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí
Minh, qua sự giảng dạy tận tình của các thầy cô giáo trong khoa Kinh tế, em đã tiếp thu
và tích luỹ được nhiều kiến thức. Để củng cố kiến thức đã học ở trường, em đã được đi
thực tập tại Công ty CPTM Vật tư Tổng hợp Trường Giang. Trong khoảng thời gian thực
tập gần 2 tháng, công ty đã giúp đỡ, tạo điều kiện cho em được tiếp xúc với môi trường
làm việc thực tế tại công ty.
Với lòng kính trọng biết ơn sâu sắc, em xin gửi lời cảm ơn đến:
Giám đốc cùng toàn thể cán bộ công nhân viên của công ty CPTM Vật tư Tổng
hợp Trường Giang đã tạo cho em điều kiện thực tập việc và làm việc tại công ty. Đặc biệt
là các cô chú ở Phòng Kế toán- Tài chính đã nhiệt tình giúp đỡ trong suốt quá trình thực
SVTH: ĐẶNG TRƯỜNG SƠN v MSSV:10006923
BÁO CÁO THỰC TẬP LỚP CDTD12TH
MỤC LỤC
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG TÀI CHÍNH VÀ PHÂN TÍCH
TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH TRONG DOANH NGHIỆP 3
1.2.1.Bảng cân đối kế toán: Mẫu số B 01-DN 5
1.2.2. Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh 6
1.3.2.3.2.Phân &ch 'nh hình huy động và hiệu quả sử dụng vốn lưu động 11
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH CỦA CÔNG TY CPTM
VẬT TƯ TỔNG HỢP TRƯỜNG GIANG 19
KẾT LUẬN 44
SVTH: ĐẶNG TRƯỜNG SƠN vi MSSV:10006923
BÁO CÁO THỰC TẬP LỚP CDTD12TH
LỜI MỞ ĐẦU
Hoạt động sản xuất kinh doanh ở bất kỳ doanh nghiệp nào đều gắn liền với hoạt
động tài chính và hoạt động tài chính không thể tách khỏi quan hệ trao đổi tồn tại giữa
các đơn vị kinh tế. Hoạt động tài chính có mặt trong tất cả các khâu của quá trình sản
xuất kinh doanh, từ khâu tạo vốn trong doanh nghiệp đến khâu phân phối tiền lãi thu
được từ quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh.
Trong điều kiện kinh doanh theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước,
các doanh nghiệp thuộc các loại hình sở hữu khác nhau đều bình đẳng trước pháp luật.
Trong kinh doanh nhiều đối tượng quan tâm đến tình hình tài chính của doanh nghiệp
như các nhà đầu tư, nhà cho vay, nhà cung cấp, khách hàng.v.v. Mỗi đối tượng này quan
tâm đến tình hình tài chính của doanh nghiệp ở các góc độ khác nhau. Song nhìn chung
họ đều quan tâm đến khả năng tạo ra các dòng tiền mặt, khả năng sinh lợi, khả năng
BÁO CÁO THỰC TẬP LỚP CDTD12TH
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG TÀI CHÍNH VÀ PHÂN
TÍCH TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH TRONG DOANH NGHIỆP.
1.1. TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP, Ý NGHĨA VÀ MỤC ĐÍCH PHẢI PHÂN
TÍCH TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP
1.1.1. Hoạt động tài chính doanh nghiệp
Hoạt động tài chính là một trong những nội dung cơ bản của hoạt động kinh doanh
của doanh nghiệp nhằm giải quyết mối quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình kinh
doanh được biểu hiện dưới hình thái tiền tệ để thực hiện các mục tiêu của doanh nghiệp
là tối đa hoá lợi nhuận. Nói cách khác, hoạt động tài chính là những quan hệ tiền tệ gắn
trực tiếp với việc tổ chức, huy động phân phối, sử dụng và quản lý vốn trong quá trình
kinh doanh.
Hoạt động tài chính ở doanh nghiệp phải hướng tới các mục tiêu sau:
Hoạt động tài chính phải giải quyết tốt các mối quan hệ kinh tế thể hiện qua việc
thanh toán với các đơn vị có liên quan như ngân hàng, các đơn vị kinh tế khác. Mối quan
hệ này được cụ thể hoá bằng các chỉ tiêu đánh giá về mặt lượng, mặt chất và thời gian.
Hoạt động tài chính phải đảm bảo nguyên tắc hiệu quả. Nguyên tắc này đòi hỏi
phải tối đa hoá việc sử dụng các nguốn vốn, nhưng vẫn đảm bả quá trình sản xuất kinh
doanh được hoạt động bình thường và mang lại hiệu quả.
Hoạt động tài chính được thực hiện trên cơ sở tôn trọng pháp luật, chấp hành và
tuân thủ các chế độ về tài chính tín dụng, nghĩa vụ với Nhà nước, kỷ luật với các đơn vị,
tổ chức kinh tế có liên quan.
1.1.2. Ý nghĩa và mục đích của phân tích tình hình tài chính.
Phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp hay cụ thể hoá là quá trình phân tích
báo cáo tài chính doanh nghiệp là quá trình kiểm tra đối chiếu, so sánh các số liệu, tài liệu
và tình hình tài chính hiện hành và trong quá khứ nhằm mục đích đánh giá tiềm năng,
hiệu quả kinh doanh cũng như rủi ro trong tương lai. Báo cáo tài chính là những báo cáo
tổng hợp nhất là về tình hình tài sản, vốn và công nợ cũng như tình hình tài chính, kết quả
kinh doanh trong kỳ của doanh nghiệp. Do đó, việc thường xuyên tiến hành phân tích
tình hình tài chính sẽ cung cấp thông tin cho người sử dụng từ các góc độ khác nhau, vừa
1.2. TÀI LIỆU DÙNG LÀM CĂN CỨ ĐỂ PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH TÀI
CHÍNH DOANH NGHIỆP
SVTH: ĐẶNG TRƯỜNG SƠN 4 MSSV:10006923
BÁO CÁO THỰC TẬP LỚP CDTD12TH
Phân tích tình hình tài chính sử dụng mọi nguồn thông tin có khả năng làm rõ mục tiêu
của dự đoán tài chính trong đó chủ yếu thông tin từ bảng cân đối kế toán và các báo cáo
tài chính.
1.2.1. Bảng cân đối kế toán: Mẫu số B 01-DN
Bảng cân đối kế toán là báo cáo tài chính tổng hợp, phản ánh tổng quát toàn bộ giá
trị tài sản hiện có và nguồn hình thành tài sản đó của doanh nghiệp tại một thời điểm nhất
định, theo 2 cách phân loại là kết cấu vốn kinh doanh và nguồn hình thành vốn kinh
doanh.
Số liệu trên bảng Cân đối kế toán cho biết toàn bộ giá trị tài sản hiện có của doanh
nghiệp tại thời điểm báo cáo theo cơ cấu tài sản, và nguồn hình thành tài sản đó. Căn cứ
vào bảng cân đối kế toán có thể nhận xét đánh giá khái quát tình hình tài chính doanh
nghiệp.
Bảng cân đối kế toán thường có kết cấu hai phần:
Phần tài sản: Phản ánh toàn bộ giá trị tài sản hiện có của doanh nghiệp tại thời điểm báo
cáo theo cơ cấu tài sản và hình thức tồn tại trong quá trình hoạt động kinh doanh của
doanh nghiệp: Tài sản được chia thành hai phần: tài sản lưu động và đầu tư ngắn hạn, tài
sản cố định và đầu tư dài hạn.
Phần nguồn vốn: Phản ánh nguồn hình thành tài sản hiện có của doanh nghiệp tại
thời điểm báo cáo. Các chỉ tiêu nguồn vốn thể hiện trách nhiệm pháp lý của doanh nghiệp
đối với tài sản đang quản lý và sử dụng tại doanh nghiệp. Nguồn vốn được chia thành:
Nợ phải trả và nguồn vốn chủ sở hữu.
Mỗi phần của Bảng cân đối kế toán đều được phản ánh theo ba cột: Mã số, số đầu
năm, số cuối kỳ (quý, năm).
Nội dung trong Bảng cân đối kế toán phải thoả mãn phương trình cơ bản:
Tổng tài sản = Tổng nguồn vốn
Ngoài hai phần tài sản và nguồn vốn, cấu tạo Bảng cân đối kế toán còn có phần tài
Các công cụ chủ yếu để phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp.
SVTH: ĐẶNG TRƯỜNG SƠN 6 MSSV:10006923
BÁO CÁO THỰC TẬP LỚP CDTD12TH
Trên bảng cân đối kế toán với tổng tài sản, tổng nguồn vốn để đánh giá từng
khoản mục so với quy mô chung.
Phân tích theo chiều ngang: Phản ánh sự biến động khác của từng chỉ tiêu làm nổi
bật các xu thế và tạo nên mối quan hệ của các chỉ tiêu phản ánh trên cùng một dòng của
báo cáo.
1.3.1.1. Phương pháp so sánh
So sánh là phương pháp được sử dụng phổ biến nhất trong phân tích để đánh giá
kết quả, xác định vị trí và xu hướng biến động của các chỉ tiêu phân tích. Vì vậy, để tiến
hành so sánh phải giải quyết những vấn đề cơ bản như xác định số gốc để so sánh, xác
định điều kiện so sánh và xác định mục tiêu so sánh.
Điều kiện so sánh.
Chỉ tiêu kinh tế được hình thành trong cùng một khoảng thời gian như nhau:
Chỉ tiêu kinh tế phải thống nhất về mặt nội dung và phương pháp tính toán.
Chỉ tiêu kinh tế phải cùng đơn vị đo lường.
Cùng quy mô hoạt động với điều kiện kinh doanh tương tự nhau.
+ Tiêu chuẩn so sánh: là các chỉ tiêu được chọn làm căn cứ so sánh (kỳ gốc)
+ Các phương pháp so sánh thường sử dụng
So sánh tương đối: phản ánh kết cấu mối quan hệ tốc độ phát triển và mức độ phổ
biến của các chỉ tiêu kinh tế
So sánh tuyệt đối: Cho biết khối lượng, quy mô doanh nghiệp đạt được từ các chỉ
tiêu kinh tế giữa kỳ phân tích và kỳ gốc.
So sánh bình quân: Cho biết khả năng biến động của một bộ phận, chỉ tiêu hoặc
nhóm chỉ tiêu.
1.3.1.2. Phương pháp chi tiết hoá chỉ tiêu phân tích
Để phân tích một cách sâu sắc các đối tượng nghiên cứu, không thể chỉ dựa vào
các chỉ tiêu tổng hợp, mà cần phải đánh giá theo các chỉ tiêu cấu thành của chỉ tiêu phân
tích. Thông thường trong phân tích việc chi tiết chỉ tiêu phân tích được tiến hành theo các
đối kế toán.
1.3.2.2. Phân tích cơ cấu tài sản và cơ cấu vốn
Trong nền kinh tế thị trường, thế mạnh trong cạnh tranh sẽ phụ thuộc vào tiềm lực
về vốn và quy mô tài sản. Song việc phân bổ tài sản như thế nào (tỷ trọng của loại tài sản
so với tổng số tài sản ra sao, cơ cấu hợp lý không mới là điều kiện tiên quyết có nghĩa là
chỉ với số vốn nhiều không thôi sẽ không đủ mà phải đảm bảo sử dụng nó như thế nào để
nâng cao hiệu quả. Muốn vậy, chúng ta phải xem xét kết cầu tài sản (vốn) của doanh
nghiệp có hợp lý hay không.
Phân tích cơ cấu tài sản.
Để tiến hành phân tích cơ cấu tài sản ta lập bảng cơ cấu tài sản (bảng số 01)
SVTH: ĐẶNG TRƯỜNG SƠN 8 MSSV:10006923
BÁO CÁO THỰC TẬP LỚP CDTD12TH
Ngoài việc so sánh tổng tài sản cuối kỳ so với đầu năm vẫn còn phải xem xét tỷ trọng
loại tài sản chiếm trong tổng số tài sản và xu hướng biến động của việc phân bổ tài sản.
Điều này được đánh giá trên tính chất kinh doanh và tình hình biến động của từng bộ
phận. Tuỳ theo loại hình kinh doanh để xem xét tỷ trọng từng loại tài sản chiếm trong
tổng số là cao hay thấp.
Khi đánh giá sự phân bổ TSCĐ và ĐTDH trong tổng tài sản cần kết hợp với tỷ
suất đầu tư để phân tích chính xác và rõ nét hơn.
Tỷ suất đầu tư =
Tài sản cố định và đang đầu tư
x 100
Tổng số tài sản
Tỷ suất này phản ánh tình trạng bị cơ sở vật chất kỹ thuật nói chung và máy móc
thiết bị nói riêng của doanh nghiệp. Nó cho biết năng lực sản xuất và xu hướng phát triển
lâu dài của doanh nghiệp. Trị số chỉ tiêu này phụ thuộc vào từng ngành kinh doanh cụ
thể.
Khi phân tích cơ cấu tài sản, cần xem xét sự biến động của từng khoản mục cụ thể,
xem xét tỷ trọng của mỗi loại là cao hay thấp trong tổng số tài sản. Qua đó, đánh giá tính
hợp lý của sự biến đổi để từ đó có giải pháp cụ thể. Có thể lập bảng tương tự như phân
1.3.2.3.1. Phân tích tình hình huy động và hiệu quả sử dụng vốn cố định
Vốn cố định là biểu hiện bằng tiền của những tài sản cố định tham giá các quá
trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Vốn cố định tham gia các chu kỳ kinh doanh
giá trị bị hao mòn và chuyển dịch dần vào từng phần giá trị sản phẩm, chuyển hoá thành
vốn lưu động. Nguồn vốn cố định của doanh nghiệp có thể do ngân sách Nhà nước cấp
do vốn góp hoặc do doanh nghiệp tự bổ sung.
Bên cạnh việc xem xét tình hình huy động và sự biến đổi của vốn cố định trong kỳ,
cần phân tích hiệu quả sử dụng vốn cố định vì nó gắn liền với sự tồn tại và phát triển lâu dài
của doanh nghiệp. Thông qua đó chúng ta có thể đánh giá được tình hình trang bị cơ sở vật
chất, trình độ sử dụng nhân tài, vật lực trong quá trình sản xuất kinh doanh, đồng thời sẽ
phản ánh được chất lượng tổ chức kinh doanh của doanh nghiệp. Để đánh giá hiệu quả sử
dụng vốn cố định của doanh nghiệp người ta thường sử dụng hệ thống các chỉ tiêu sau:
SVTH: ĐẶNG TRƯỜNG SƠN 10 MSSV:10006923
BÁO CÁO THỰC TẬP LỚP CDTD12TH
Hiệu suất sử dụng vốn cố định =
Doanh thu thuần về tiêu thụ sản phẩm
Số dư bình quân vốn cố định
Chỉ tiêu này phản ánh cứ một đồng vốn cố định có thể tham gia tạo ra bao nhiêu
đồng doanh thu tiêu thụ sản phẩm hàng hoá trong kỳ.
Hệ số đảm nhiệm =
Vốn cố định bình quân
Doanh thu thuần
Chỉ tiêu này cho biết để có một đồng doanh thu thuần cần có mấy đồng vốn cố
định .
Sức sinh lợi của vốn cố định =
Lợi nhuận thuần
Vốn cố định bình quân
Chỉ tiêu này cho biết một đồng vốn cố định đem lại mấy đồng lợi nhuận thuần.
Suất hao phí tài sản cố định =
Nguyên giá bình quân TSCĐ
Mức độ độc lập về tài chính của doanh nghiệp phản ánh quyền của doanh nghiệp
trong việc đưa ra các quyết định về chính sách và hoạt động của doanh nghiệp cũng như
quyền kiểm soát các chính sách đó.
Mức độ độc lập tài chính của doanh nghiệp thường biểu hiện qua nhiều chỉ tiêu
khác nhau và được xem xét trên nhiều khía cạnh khác nhau như: mức độ tài trợ tài sản
bằng vốn chủ sở hữu, mức độ tự tài trợ tài sản dài hạn bằng vốn chủ sơ hữu, hệ số nợ so
SVTH: ĐẶNG TRƯỜNG SƠN 12 MSSV:10006923
BÁO CÁO THỰC TẬP LỚP CDTD12TH
với tài sản, hệ số nợ so với vốn chủ sở hữu, tuy nhiên chỉ tiêu hệ số tài trợ vẫn là chỉ tiêu
phản ánh mức độ độc lập về mặt tài chính, chỉ tiêu thông dụng và phản ánh rõ nhất.
Hệ số tài trợ là chỉ tiêu phản ánh khả năng tự bảo đảm về mặt tài chính và mức độ
độc lập về mặt tài chính của doanh nghiệp. Chỉ tiêu này cho biết trong tổng số nguồn vốn
tài trợ tài sản của doanh nghiệp, nguồn vốn chủ sở hữu chiếm tỷ trọng bao nhiêu.
Khi hệ số tài trợ càng lớn thì chứng tỏ khả năng tự đảm bảo tài chính của doanh
nghiệp càng cao và ngược lại, trị số của chỉ tiêu này càng nhỏ thì khả năng tự đảm bảo về
mặt tài chính của doanh nghiệp càng thấp.
Hệ số tài chính được xác định theo công thức sau:
Trường hợp trị số của chỉ tiêu hệ số tài trợ ở mức thấp dưới mức bình quân của
ngành hay khu vực thì nhà phân tích có thể xem xét bổ sung các chỉ tiêu khac như Hệ số
tự tài trợ tài sản dài hạn và hệ số tự tài trợ tài sản cố định.
Hệ số tự tài trợ tài sản dài hạn được xác định bằng công thức sau:
Trường hợp hệ số tự tài trợ tài sản dài hạn lớn hơn hoặc bằng 1 thì có nghĩa là số
vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp có đủ khả năng để trang trải tài sản dài hạn, điều này có
nghĩa là doanh nghiệp sẽ gặp ít khó khăn hơn trong công tác thanh toán các khoản nợ.
SVTH: ĐẶNG TRƯỜNG SƠN 13 MSSV:10006923
Hệ số tài trợ =
Vốn chủ sở hữu
Tổng số nguồn vốn
Hệ số tự tài trợ dài hạn =
Vốn chủ sở hữu
hơn số chiếm dụng.
Số vòng quay các khoản phải thu =
Doanh thu thuần
Bình quân các khoản phải thu
Chỉ tiêu này cho biết mức độ hợp lý của số dư các khoản phải thu và hiệu quả của
việc đi thu hồi công nợ. Nếu các khoản phải thu được thu hồi nhanh thì số vòng luân
chuyển các khoản phải thu sẽ cao và doanh nghiệp ít bị chiếm dụng vốn. Tuy nhiên, số
vòng luân chuyển các khoản phải thu nếu quá cao sẽ không tốt vì có thể ảnh hưởng đến
khối lượng hàng tiêu dùng do phương thức thanh toán quá chặt chẽ.
Kỳ thu tiền bình quân =
Thời gian kỳ phân tích (360 ngày)
Số vòng quay của các khoản phải thu
Chỉ tiêu này cho thấy để thu được các khoản phải thu cần một thời gian là bao
nhiêu. Nếu số ngày càng lớn hơn thời gian quy định cho khách thì việc thu hồi các khoản
phải thu là chậm và ngược lại. Số ngày quy định bán chịu cho khách lớn hơn thời gian
này thì sẽ có dấu hiệu chứng tỏ việc thu hồi công nợ đạt trước kế hoạch và thời gian để có
cơ sở đánh giá tình hình tài chính của doanh nghiệp trước mắt và triển vọng thanh toán
của doanh nghiệp . Để phân tích ta lập bảng phân tích nhu cầu và khả năng thanh toán.
Hệ số khả năng thanh toán (H
K
) =
Khả năng thanh toán
Nhu cầu thanh toán
Hệ số này có thể tính cho cả thời kỳ hoặc cho từng giai đoạn. Nó là cơ sở để đánh
giá khả năng thanh toán và tình hình tài chính của doanh nghiệp là ổn định hoặc khả
quan. Nếu H
K
<1 thì chứng tỏ doanh nghiệp không có khả năng thanh toán và tình hình
tài chính của doanh nghiệp gặp khó khăn, doanh nghiệp càng mất dần khả năng thanh
toán. H
Sức sinh lợi của doanh thu thuần(Return on sales-ROS):
Sức sinh lợi của doanh thu thuần =
Lợi nhuận sau thuế
Doanh thu thuần kinh doanh
Chỉ tiêu này cho biết một đon vị doanh thu thuần thu được từ kinh doanh đem lại
mấy đơn vị lợi nhuận sau thuế. Trị số của chỉ tiêu càng lớn, sức sinh lợi của doanh thu
thuần càng cao, hiêu quả kinh doanh càng cao và ngược lại; trị số của chỉ tiêu càng nhỏ,
khả năng sinh lợi của doanh thu thuần càng thấp, hiệu quả kinh doanh càng thấp.
Sức sinh lợi cơ bản của tài sản(Basis earning power-BEP):
Sức sinh lợi kinh tế cảu tài sản =
Lợi nhuận trước thuế và lãi vay
Tổng tài sản bình quân
“Sức sinh lợi cơ bản của tài sản”(Còn gọi là “sức sinh lợi kinh tế của tài sản”-
Return on total assets-ROTA) cho biết một đơn vị tài sản đưa vào kinh doanh đem lại
mấy đơn vị lợi nhuận trước thuế và lãi vay. Trị số của chỉ tiêu càng lớn, sức sinh lợi kinh
tế của tài sản càng cao, hiêu quả kinh doanh càng cao và ngược lại; trị số của chỉ tiêu
càng nhỏ, khả năng sinh lợi cơ bản của tài sản càng thấp, hiệu quả kinh doanh càng thấp.
Sở dĩ có tên gọi là “sức sinh lợi kinh tế” vì tử số của chỉ tiêu này được xác định trươcvs
khi doanh nghiệp tính thuế thu nhập doanh nghiệp và tính chi phí lãi vay; nhờ vậy mà khi
SVTH: ĐẶNG TRƯỜNG SƠN 17 MSSV:10006923
BÁO CÁO THỰC TẬP LỚP CDTD12TH
sử dụng chỉ tiêu này, các doanh nghiệp được ưu đãi hay không được ưu đái thuế thu nhập
doanh nghiệp, các doanh nghiệp sử dụng vốn vay hay không sử dụng vốn vay, tử số được
xác định giống nhau nên có thể so sánh hiệu quả được với nhau cách chính xác.
Phân tích khả năng sinh lợi của doanh nghiệp không chỉ dừng lại ở việc đánh giá
khái quát khả năng sinh lợi mà còn phải xem xét cả tình hình tăng trưởng về khả năng
sinh của doanh nghiệp. Tình hình tăng trưởng về khả năng sinh lợi của doanh nghiệp
cũng được xem xét cả về tốc độ, xu hướng và nhịp điêu tăng trưởng. Bằng cách sử dụng
phương pháp so sánh bằng số tương đối định gốc trên các chỉ tiêu ”sức sinh lợi của vốn
chủ sở hữu”, “sức sinh lợi cơ bản của tài sản” và “sức sinh lợi của doanh thu thuần”, các