BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ðẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI NGUYỄN THỊ SEN
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ðẶC ðIỂM BỆNH LÝ CỦA LỢN
MẮC TIÊU CHẢY DO VIRUS (PORCINE EPIDEMIC
DIARRHEA - PED) TRÊN ðỊA BÀN TỈNH BẮC NINH
CHUYÊN NGÀNH : THÚ Y
MÃ SỐ : 60.64.01.01
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. NGUYỄN HỮU NAM
HÀ NỘI - 2013
Trường ðại Học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp
i
Để hoàn thành luận văn, ngoài sự nỗ lực của bản thân, tôi đã nhận được sự
giúp đỡ, hướng dẫn tận tình của nhiều cá nhân và tập thể, nhân dịp hoàn thành
luận văn tốt nghiệp cho phép tôi được tỏ lòng biết ơn và cảm ơn chân thành tới:
Ban Giám hiệu Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội, ban Chủ nhiệm khoa
Thú y, các thầy giáo, cô giáo đã giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi để tôi học tập, tiếp
thu kiến thức của chương trình học.
Hoàn thành luận văn này tôi luôn nhận được sự giúp đỡ tận tình của các
thầy giáo, cô giáo trong Bộ môn Bệnh lý. Đặc biệt là Thầy hướng dẫn khoa học
PGS. TS. Nguyễn Hữu Nam đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu,
xây dựng luận văn và hoàn thiện.
Tôi xin chân thành cảm ơn Phòng Nông nghiệp và PTNT, Trạm Thú y các
huyện Tiên Du, Quế Võ, Lương Tài tỉnh Bắc Ninh, cùng toàn thể đồng nghiệp
cùng bạn bè đã động viên, giúp đỡ tôi thực hiện đề tài.
Nhân dịp hoàn thành luận văn tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới
gia đình, người thân cùng toàn thể bạn bè, đồng nghiệp đã giúp đỡ, động viên tôi
trong suốt thời gian qua.
Hà Nội, ngày tháng năm 2013
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Sen Trường ðại Học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp
iii
2.1.2. Địa điểm nghiên cứu: 29
2.1.3. Nguyên liệu nghiên cứu: 29
Trường ðại Học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp
iv
2.2. Nội dung nghiên cứu 29
2.3. Phương pháp nghiên cứu 30
2.3.1. Phương pháp xác định triệu chứng lâm sàng và bệnh tích 30
2.3.2. Phương pháp xác định các chỉ tiêu theo dõi 30
2.3.3. Phương pháp điều tra lấy mẫu 30
2.3.4. Phương pháp xác định các chỉ tiêu huyết học. 31
2.3.5. Phương pháp làm tiêu bản vi thể: 32
2.3.6. Phương pháp xử lý số liệu 34
Chương 3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 35
3.1. Kết quả xác định tỷ lệ mắc tiêu chảy ở lợn do virus (PED) 35
3.1.1. Kết quả xác định tỷ lệ mắc tiêu chảy ở lợn do virus(PED) của 3
huyện điều tra. 35
3.1.2. Kết quả xác định tỷ lệ mắc tiêu chảy ở lợn do virus (PED) theo lứa
tuổi 37
3.1.3. Kết quả xác định tỷ lệ mắc tiêu chảy ở lợn do virus (PED) theo
điều kiện vệ sinh thú y 40
3.2. Kết quả khảo sát một số chỉ tiêu huyết học của lợn mắc tiêu chảy
do virus (PED). 42
3.2.1. Kết quả khảo sát một số chỉ tiêu hồng cầu của lợn mắc tiêu chảy do
virus (PED) 43
3.2.2. Kết quả khảo sát một số chỉ tiêu bạch cầu của lợn mắc tiêu chảy
do virus (PED) 45
3.3. Kết quả nghiên cứu triệu chứng chủ yếu của lợn mắc tiêu chảy do
virus (PED) 47
3.4 . Kết quả nghiên cứu bệnh tích đại thể của lợn mắc tiêu chảy do
DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 3.1: So sánh tỷ lệ mắc tiêu chảy ở lợn do virus (PED) của 3 huyện điều tra 37
Hình 3.2: So sánh tỷ lệ mắc tiêu chảy ở lợn do virus (PED) theo lứa tuổi 40
Hình 3.3: So sánh tỷ lệ mắc tiêu chảy ở lợn do virus PED theo điều kiện vệ sinh
thú y 42 Trường ðại Học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp
vii
DANH MỤC CÁC ẢNH
Ảnh 1: Lợn gầy yếu mất nước nghiêm trọng
51
Ảnh 2: Lợn suy yếu, lông dựng 51
Ảnh 3: Tiêu chảy phân vàng
51
Ảnh 4: Ruột sung huyết nghiêm trọng 51
Ảnh 5: Hạch ruột sung huyết, xuất huyết 51
Ảnh 6: Ruột căng phồng chứa đầy hơi 51
Ảnh 7: Sung huyết hạ niêm mạc ruột HE 10x 59
Ảnh 8: Ruột lợn mắc PED lông nhung tù đầu nhuộm HE 10x 59
Ảnh 9: Ruột thấm nước phù ở hạ niêm mạc ruột nhuộm HE 10x
59
Ảnh 10: Ruột thâm nhiễm tế bào viêm ở hạ niêm mạc nhuộm HE 10x 59
Ảnh 11: Lông nhung ruột bong tróc nhuộm HE 10x 59
Ảnh 12: Lông nhung ruột tù đầu, thâm nhiễm tế bào viêm ở hạ niêm mạc
ruột nhuộm HE 10x 59
Ảnh 13: Thâm nhiễm tế bào viêm ở kẽ tuyến ruột
thuốc phòng và trị bệnh từng bước đáp ứng một lượng thực phẩm lớn cho nhu
cầu thực phẩm trong nước và tiến tới xuất khẩu, trong đó có chăn nuôi lợn. Cùng
với sự phát triển chung của cả nước, ngành chăn nuôi của tỉnh Bắc Ninh cũng đã
có những bước phát triển khá cả về chất lượng, số lượng, nhiều tiến bộ khoa học
kỹ thuật mới đã được áp dụng vào sản xuất. Phương thức chăn nuôi đã có sự
chuyển dịch tích cực, từ chăn nuôi nhỏ lẻ sang chăn nuôi gia trại và trang trại tập
trung công nghiệp, sản xuất theo hướng hàng hoá. Sản phẩm chăn nuôi không
những đáp ứng được nhu cầu về thực phẩm cho người dân trong tỉnh mà còn
cung cấp một phần cho thủ đô Hà Nội và các tỉnh, thành phố khác, góp phần tích
cực trong việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp của tỉnh, tạo công ăn việc
làm cho nhiều lao động, nâng cao thu nhập cho người nông dân.
Tuy nhiên, sản xuất chăn nuôi của tỉnh về cơ bản vẫn là sản xuất nhỏ,
phân tán trong khu dân cư; năng suất, sản lượng chăn nuôi còn thấp; tình hình
dịch bệnh trong những năm vừa qua diễn biến rất phức tạp, ngoài những bệnh
truyền nhiễm nguy hiểm thường gặp như Lở mồm long móng, Dịch tả, Tụ huyết
trùng, Phó thương hàn còn phải kể đến hội chứng tiêu chảy ở lợn.
Hội chứng tiêu chảy ở lợn với đặc điểm dịch tễ hết sức phức tạp đang gây
nên những thiệt hại to lớn, làm giảm năng suất, chất lượng đàn vật nuôi nói
chung và chăn nuôi lợn nói riêng. Hội chứng tiêu chảy xảy ra ở các giống lợn và
ở mọi lứa tuổi: lợn nái sinh sản, lợn con theo mẹ và lợn sau cai sữa. Bệnh thường
xuyên xảy ra khi xuất hiện các yếu tố bất lợi với sức đề kháng của cơ thể như:
lợn con sinh ra không được bú sữa kịp thời hoặc do sữa đầu của lợn mẹ thiếu,
không đảm bảo chất dinh dưỡng; thời điểm cai sữa, các yếu tố stress tạo điều
kiện cho bệnh bùng phát sau khi cai sữa lợn con, có thể do vận chuyển mua bán
lợn con; sắp xếp lại đàn; thay đổi thức ăn đột ngột; lợn con bị lạnh…trong đó có
nguyên nhân tiêu chảy do virus (porcine epidemic diarrhea - PED). Lợn mắc tiêu
chảy do virus PED chủ yếu xảy ra ở giai đoạn lợn con từ sơ sinh đến cai sữa, ở
giai đoạn này lợn con còn yếu, khả năng chống chịu bệnh tật kém. Bệnh tiêu
Trường ðại Học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp
2
virus, bệnh do vi khuẩn.
Tiêu chảy thường gặp ở gia súc, đã và đang gây thiệt hại lớn cho ngành
chăn nuôi. Trong lịch sử nghiên cứu về hội chứng tiêu chảy, nhiều tác giả đã
nghiên cứu, tìm hiểu nguyên nhân gây ra hội chứng tiêu chảy. Tuy nhiên, tiêu
chảy là một hiện tượng bệnh lý, có liên quan đến rất nhiều các yếu tố, có yếu tố
là nguyên nhân nguyên phát, có yếu tố là nguyên nhân thứ phát. Việc phân biệt
rạch ròi nguyên nhân gây tiêu chảy không đơn giản. Ngày nay, người ta thống
nhất rằng, phân loại nguyên nhân gây tiêu chảy chỉ có ý nghĩa tương đối, chỉ nêu
lên yếu tố nào là chính, xuất hiện đầu tiên, yếu tố nào là phụ xuất hiện sau, từ đó
vạch ra phác đồ phòng và điều trị bệnh có hiệu quả. Nhưng cho dù bất cứ nguyên
nhân nào dẫn đến tiêu chảy thì hậu quả của nó cũng gây ra viêm nhiễm, tổn
thương thực thể đường tiêu hóa và cuối cùng là nhiễm trùng.
Theo Fairbrother J.M. (1992) tiêu chảy là một bệnh gây thiệt hại đáng kể
cho ngành chăn nuôi lợn.
Theo Nguyễn Lương (1963), Trịnh Văn Thịnh (1985), Lê Minh Chí
(1995) lợn bị tiêu chảy thường mất nước, mất chất điện giải và kiệt sức. Những
lợn khỏi thường bị còi cọc, thiếu máu, chậm lớn hoặc hiện tượng viêm nhiễm,
tổn thương thực thể đường tiêu hóa và cuối cùng là quá trình nhiễm trùng dẫn
đến lợn chết với tỷ lệ cao, gây thiệt hại lớn về kinh tế. Đó cũng là nguyên nhân
làm cho hiệu quả chăn nuôi không cao.
Trường ðại Học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp
4
Đoàn Thị Băng Tâm (1987), Sử An Ninh (1993), Lê Văn Tạo và cs.
(1993), Phan Thanh Phượng và cs. (1995) cho biết ở nước ta bệnh tiêu chảy xảy
ra quanh năm, đặc biệt vào vụ đông xuân, khi thời tiết thay đổi đột ngột và vào
những giai đoạn chuyển mùa trong năm.
Khi nghiên cứu về tình hình dịch tễ, các nhà khoa học đã nhận xét bệnh
tiêu chảy xảy ra ở mọi nơi, mọi lúc trên thế giới (Lecce J.G., 1976); (Griffin
J.F.T., 1989).
Ngoài ra, lợn con còn chịu nhiều tác động của lợn mẹ, sự thay đổi ngoại
cảnh cũng góp phần làm tăng stress của lợn con.
1.1.1.2. Khả năng ñáp ứng miễn dịch của lợn con
Là khả năng của cơ thể đáp ứng lại các kích thích của mầm bệnh khi xâm
nhập vào cơ thể. Ở gia súc non, mầm bệnh có nhiều thuận lợi khi xâm nhập vào cơ
thể. Trong hệ thống tiêu hóa của lợn con lượng enzym tiêu hóa và lượng HCl tiết
ra còn ít chưa đủ để đáp ứng cho quá trình tiêu hóa, gây rối loạn trao đổi chất, tiêu
hóa và hấp thu kém. Chính vì vậy, ở giai đoạn này mầm bệnh như Salmonella,
E.Coli…dễ dàng xâm nhập vào cơ thể qua đường tiêu hóa và gây bệnh.
Ngoài ra, ở gia súc non các yếu tố miễn dịch không đặc hiệu như: Bổ thể,
protein liên kết, lymsozim được tổng hợp còn ít, phản ứng của đại thực bào rất
yếu, vì thế ở gia súc non không những chưa có kháng thể đặc hiệu mà kháng thể
phi đặc hiệu cũng rất yếu. Chính vì vậy lợn con bú sữa đầu là rất cần thiết để tăng
sức bảo vệ cơ thể, chống lại mầm bệnh.
Với gia súc non mức độ đáp ứng miễn dịch được xác định không chỉ phụ
thuộc vào sự có mặt của kháng thể mà còn phụ thuộc vào mức độ sẵn sàng của hệ
thống miễn dịch đối với phản ứng.
Chính do cấu tạo đặc biệt của gia súc non nên tiêu chảy thường xảy ra ở
giai đoạn lợn con tập ăn và cai sữa. Bên cạnh đó còn một yếu tố quan trọng nữa
là sự phát triển của hệ vi sinh vật trong đường ruột của gia súc non, việc cân bằng
hệ vi sinh vật có lợi trong đường ruột như thế nào để khắc phục, hạn chế sự loạn
khuẩn trong quá trình phát triển và trưởng thành của cơ thể gia súc non là rất
quan trọng.
Để nuôi dưỡng tốt và hạn chế được hội chứng tiêu chảy ở lợn con cần
tiêm phòng cho lợn mẹ và tạo cho gia súc non điều kiện sống tốt, tránh các yếu tố
bất lợi tác động vào cơ thể như: chế độ ăn uống không hợp lý, khẩu phần thức ăn
không đảm bảo dinh dưỡng, ăn không đúng giờ, thời tiết thay đổi đột ngột, chế
Trường ðại Học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp
6
7
Như vậy, nguyên nhân môi trường ngoại cảnh gây tiêu chảy không mang
tính đặc hiệu mà mang tính tổng hợp. Lạnh và ẩm gây rối loạn hệ thống điều tiết
trao đổi nhiệt của cơ thể lợn, dẫn đến rối loạn quá trình trao đổi chất, làm giảm
sức đề kháng của cơ thể, từ đó các mầm bệnh trong đường tiêu hóa có thời cơ
tăng cường độc lực và gây bệnh.
1.1.2.2. Chế ñộ chăm sóc nuôi dưỡng không ñúng kỹ thuật
Thức ăn kém chất lượng, ôi thiu, khó tiêu,…là nguyên nhân gây ỉa chảy ở
gia súc. Thức ăn thiếu các chất khoáng, vitamin cần thiết cho cơ thể, đồng thời
phương thức chăn nuôi không phù hợp sẽ làm giảm sức đề kháng của cơ thể gia
súc và tạo cơ hội cho các vi khuẩn đường tiêu hóa phát triển và gây bệnh (Hồ
Văn Nam và cs., 1997).
Theo Hoàng Văn Tuấn (1998); Đoàn Kim Dung (2003); cho rằng: Tỷ lệ
mắc tiêu chảy trong một số cơ sở chăn nuôi lợn phụ thuộc vào điều kiện chăm
sóc, vệ sinh thú y, còn tỷ lệ chết, mức độ trầm trọng của bệnh ở một đàn phụ
thuộc vào giai đoạn mắc bệnh.
Theo Trịnh Văn Thịnh (1985) trong quá trình chăm sóc nuôi dưỡng lợn,
nếu chuồng nuôi đảm bảo vệ sinh sạch sẽ, thoáng khí, khô ráo sẽ là giảm tỷ lệ
bệnh đường tiêu hóa.
Theo Trịnh Văn Thịnh (1985); Đào Trọng Đạt và cs. (1995) trong quy
trình kỹ thuật chăm sóc, nuôi dưỡng lợn thì công tác chăm sóc, nuôi dưỡng lợn
con và lợn mẹ đúng kỹ thuật phù hợp với lứa tuổi là yếu tố quan trọng quyết định
đến tỷ lệ tiêu chảy cao hay thấp, trong thành phần và sự cân đối các chất dinh
dưỡng trong khẩu phần đóng vai tò quan trọng.
Theo Phan Thanh Phượng và cs. (1988) trong quá trình chăm sóc nuôi dưỡng,
cần cho lợn nái ăn thức ăn giàu đạm, vitamin và đủ nguyên tố vi lượng. Khi lợn con
mới sinh cần cho bú sữa đầu, sau đó tập ăn sớm cho lợn, sau cai sữa cần phải cho lợn ăn
thức ăn đủ số lượng và chất lượng phù hợp với đặc điểm sinh lý lứa tuổi.
1.1.2.3. Tiêu chảy do vi khuẩn
Hồ Văn Nam và cs. (1997); Archie.H (2000) nhấn mạnh: vi khuẩn đường
ruột có vai trò không thể thiếu được trong hội chứng tiêu chảy.
Nguyễn Như Pho (2003) cho rằng, khả năng gây bệnh của các loại vi
khuẩn đối với lứa tuổi lợn khác nhau. Đối với lợn con theo mẹ, lợn sau cai sữa
Trường ðại Học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp
9
hoặc giai đoạn đầu nuôi thịt thì tỷ lệ mắc tiêu chảy do Salmonella cao hơn; giai
đoạn lúc sơ sinh đến sau cai sữa thường do E. coli; lứa tuổi 6-12 tuần tuổi thì
thường do xoắn khuẩn Treponema hyodysenterriae; vi khuẩn yếm khí C.
perfringens thường gây bệnh nặng cho lợn con theo mẹ trong khoảng 1 tuần tuổi
đến cai sữa.
1.1.2.4. Tiêu chảy do virus
Virus cũng là tác nhân gây bệnh tiêu chảy ở lợn. Sự xuất hiện của virus
làm tổn thương niêm mạc ruột, làm suy giảm sức đề kháng của cơ thể và thường
gây ỉa chảy ở dạng cấp tính với tỷ lệ chết cao.
Khooteng Hoat (1995) đã thống kê có hơn 10 loại virus có tác động làm
tổn thương đường tiêu hóa, gây viêm ruột ỉa chảy như: Enterovirus, Rotavirus,
Coronavirus, virus dịch tả lợn
Rotavirus và Coronavirus là những virus gây tiêu chảy quan trọng ở gia
súc non mới sinh như nghé, dê, cừu con, lợn con, ngựa con và đặc biệt là bê do
những virus này có khả năng phá hủy màng ruột và gây tiêu chảy nặng
(Archie.H, 2000).
Lecce J.G (1976); Nilson O (1984) nghiên cứu về virus gây bệnh đường
tiêu hóa đã xác định được vai trò của Rotavirus trong hội chứng tiêu chảy ở lợn.
Các nghiên cứu trong nước của Nguyễn Như Pho (2003) cũng đã cho
rằng: Rotavirus và Coronavirus gây bệnh tiêu chảy chủ yếu cho lợn con trong
giai đoạn theo mẹ, với các triệu chứng tiêu chảy cấp tính, nôn mửa, mất nước với
tỷ lệ mắc bệnh và tỷ lệ chết cao.
Theo Bergenland H.U (1992) trong số những mầm bệnh thường gặp ở lợn
tục, có sự xen kẽ giữa tiêu chảy và bình thường, cơ thể thiếu máu, da nhợt nhạt,
gia súc kém ăn, thể trạng sa sút.
Tác giả Nguyễn Kim Thành (1999) cho biết trong đường ruột của lợn tiêu
chảy đã tìm thấy giun đũa ký sinh với lượng không nhỏ.
Theo Phan Địch Lân và Phạm Sỹ Lăng (1995) giun đũa ký sinh trong ruột
non của lợn là loài Ascarissuum. Giun đũa lợn phát triển và gây bệnh không cần
vật chủ trung gian, lợn trực tiếp nuốt phải trứng (ấu trùng gây nhiễm), khi vào cơ
thể lợn trứng sẽ thực hiện quá trình di hành và phát triển thành giun trưởng thành
ký sinh ở đường tiêu hóa.
Trường ðại Học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp
11
Theo Phạm Văn Khuê và Phạm Lục (1996) sán lá ruột lợn và giun đũa lợn
trong đường tiêu hóa, chúng làm tổn thương niêm mạc đường tiêu hóa gây viêm
ruột ỉa chảy.
Theo Phan Địch Lân (1995) lợn nhiễm giun đũa với biểu hiện lâm sàng là
tiêu chảy vì giun đũa tác động bằng cơ giới gây viêm ruột, tiết độc tố để đầu độc và
chiếm đoạt thức ăn của cơ thể lợn, làm cho lợn con gầy yếu, chậm lớn, suy dinh
dưỡng, sinh trưởng phát dục chậm và không đầy đủ, sản phẩm thịt giảm đến 30%.
Như vậy, có thể thấy có rất nhiều nguyên nhân gây tiêu chảy, nhưng theo
chuyên gia chuyên nghiên cứu về bệnh tiêu chảy ở lợn như Lê Văn Tạo (1993)
thì dù nguyên nhân nào gây tiêu chảy cho lợn thì cuối cùng cũng là quá trình
nhiễm khuẩn, vi khuẩn kế phát làm viêm ruột, tiêu chảy nặng thêm, có thể dẫn
đến chết hoặc tiêu chảy viêm ruột mạn tính.
1.1.3. Cơ chế sinh bệnh của hội chứng tiêu chảy
Dưới tác động của các yếu tố gây bệnh, đã tạo nên một áp lực lớn ở ống
tiêu hóa. Kết quả làm tăng nhu động ruột dẫn đến tiêu chảy. Đầu tiên tiêu chảy là
một phản xạ có lợi nhằm bảo vệ cơ thể, đẩy các tác nhân gây bệnh ra ngoài.
Nhưng do nguyên nhân gây bệnh không ngừng phát triển và kích thích tổn
thương niêm mạc, tiêu chảy kéo dài về sau tất yếu sẽ có hại cho cơ thể.
-
đồng thời khi gia súc bị rối loạn tiêu hóa cũng làm cản trở
đến khả năng tái hấp thu nước. Ở gia súc ỉa chảy nếu lượng dịch mất đi trong
đường ruột vượt quá lượng dịch đưa vào khi ăn, uống, thận sẽ cố gắng bù lại
bằng cách cô đặc nước tiểu để giảm lượng nước thải ra. Nếu thận không bù được,
mức dịch thể trong tổ chức bị giảm và máu bị đặc lại. Hiện tượng này gọi là mất
nước và triệu chứng lâm sàng là con vật yếu, bỏ ăn, thân nhiệt hạ thấp và có thể
trụy tim, mắt bị hõm sâu, nhìn lờ đờ, da khô, khi véo da lên nếp da chậm trở lại
vị trí cũ (Archie.H, 2000). Lợn bị tiêu chảy gầy sút nhanh, da nhăn, tính đàn hồi
kém; nếu tiêu chảy lâu ngày, lợn gầy nhô xương sống, da khô, lông dựng ngược.
Hiện tượng trúng độc xảy ra do thức ăn lên men phân giải, sinh độc tố, hệ
vi khuẩn đường ruột sinh sôi, sản sinh ra nhiều độc tố. Các độc tố đó cùng với
các sản phẩm của viêm, tổ chức bị phân hủy, ngấm vào máu, trước hết tác động
vào gan, làm cho chức năng gan bị rối loạn. Đồng thời, khi bị viêm ruột, cơ thể
không nhưng không hấp thu được nước do thức ăn đem vào mà còn bị mất nước
và điện giải do niêm mạc tăng tiết cùng dịch rỉ viêm, dịch tiết có thể tăng 80 lần
bình thường. Mặt khác, do ruột bị viêm, tính mẫn cảm tăng, nhu động ruột cũng
tăng lên nhiều lần. Gia súc bị tiêu chảy, đồng thời cũng kéo theo hàng loạt các
biến đổi bệnh lý khác nhau.
1.1.5. Hậu quả của viêm ruột tiêu chảy
Khi tác động vào cơ thể, từng nguyên nhân gây bệnh có quá trình sinh
bệnh và gây ra hậu quả cụ thể: Tuy nhiên, khi hiện tượng ỉa chảy xảy ra cơ thể
chịu một quá trình sinh bệnh và hậu quả có những nét đặc trưng chung, đó là sự
Trường ðại Học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp
13
mất nước, mất các chất điện giải, rối loạn cân bằng axit - bazơ (Lê Minh Chí,
1995). Hiện tượng mất nước rất nghiêm trọng và có thể gây chết nếu như không
được điều chỉnh. Gia súc non dự trữ dịch thể tương đối thấp nên đặc biệt mẫn
cảm với sự mất nước. Chính vì vậy, biện pháp phòng chống và bù nước, điện giải
lợn (Porcine Epidemic Diarrhea Virus - PEDV) đã được phát hiện ở nhiều đàn
lợn ở Anh, Bỉ, Đức, Pháp, Hà Lan, Thụy Sỹ, Tây Ban Nha, Bulgaria, Đài Loan.
Ngoài ra, một số nước như Ấn Độ, Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Thái
Lan cũng ghi nhận đã phân lập được virus. Hiện nay, các ổ dịch do virus PED
ít được ghi nhận ở Châu Âu và ngày càng có ít nghiên cứu về bệnh. Tuy nhiên,
các nước Châu Á lại có nguy cơ cao xảy ra dịch. Năm 2008, virus gây dịch tiêu
chảy ở lợn (Porcine Epidemic Diarrhea Virus - PEDV) đã được phát hiện trong
một số đàn lợn bị tiêu chảy ở Việt Nam.
1.2.2. Một số ñặc ñiểm của virus PEDV
1.2.2.1. Phân loại
PEDV được xếp vào nhóm 1, giống coronavirus, họ coronaviridae, cùng
với TGEV, coronavirus gây bệnh cho mèo (feline coronavirus), coronavirus gây
bệnh cho chó (canine coronavirus), và coronavirus gây bệnh cho người chủng
229E (human coronavirus).
Dựa vào kết quả giải trình tự gen cho thấy PEDV có quan hệ gần gũi nhất
với coronavirus gây bệnh cho người chủng 229E và TEGV.
1.2.2.2. Hình thái, cấu trúc
PEDV có cấu trúc giống các virus khác trong họ, đường kính khoảng 95 -
190nm, có một lớp bề mặt dùi cui nhô ra dài khoảng 18 - 23 nm. Là virus có vỏ
bọc. Nhân có cấu trúc là ARN sợi đơn, kích thước từ 27 - 32 kb.
PEDV mang glycoprotein S (spike) có khối lượng phân tử 180.000 -
200.000 dalton, protein màng M (membran) có khối lượng phân tử 27.000 -
32.000 dalton và protein N có khối lượng phân tử 57.000 - 58.000 dalton. Virus
không có khả năng gây ngưng kết hồng cầu.
Hiện nay, người ta mới chỉ phát hiện được 1 serotyp PEDV duy nhất. Có 2
chủng virus PED là:
+ Chủng PED 1 (ở Châu Âu ): chỉ nhiễm trên lợn trong giai đoạn tăng trưởng.
+ Chủng PED 2 (ở Châu Á): nhiễm trên tất cả các loại lợn, kể cả lợn nái
trưởng thành.
Trường ðại Học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp
- Nếu lợn con mắc bệnh ở độ tuổi > 7 ngày tuổi: tỷ lệ chết khoảng 30%.
1.2.3.2. Phương thức truyền lây
Bệnh tiêu chảy do virus (PED) xảy ra quanh năm nhưng phổ biến thường
xuất hiện vào mùa đông do virus có khả năng chịu với nhiệt độ lạnh, không bền
với nhiệt độ và ánh sáng mặt trời.
Virus xâm nhập vào cơ thể chủ yếu qua đường tiêu hóa. Lợn mang trùng
thải virus qua phân hoặc dụng cụ chăn nuôi, thức ăn, nước uống thừa nhiễm virus
hoặc do việc nhập lợn mới (lợn mang trùng hoặc lợn nhiễm bệnh PED) vào trong
trại là nguồn lây lan bệnh. Phương thức truyền lây của bệnh không khác với cách
lây lan của bệnh TGE.
Trường ðại Học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp
16
Khi đàn lợn đã mắc bệnh, virus thường tồn tại dai dẳng, là nguyên nhân
gây tiêu chảy cho đàn lợn sau khi cai sữa.
1.2.3.3. Cơ chế sinh bệnh
Để nghiên cứu cơ chế sinh bệnh của PEDV, người ta sử dụng lợn con
sinh ra không được bú sữa đầu. Cho lợn 3 ngày tuổi uống virus chủng CV777,
sau 22 - 36 giờ lợn bắt đầu có biểu bệnh. Bằng kính hiển vi điện tử, quan sát
thấy virus nhân lên đầu tiên trong tế bào chất của các tế bào biểu mô lông
nhung từ ruột non xuống hết kết tràng. Tại ruột non, tế bào nhiễm virus bị phá
hủy khiến cho lông nhung ngắn lại (tỷ lệ chiều cao và độ dày của lông nhung
thay đổi từ 7:1 xuống còn 3:1) tuy nhiên không quan sát được tế bào biểu mô
kết tràng bị phá hủy.
Cơ chế sinh bệnh ở ruột non của PEDV cũng giống như TEGV, tuy nhiên
do thời gian nhân lên của PEDV trong ruột non chậm hơn nên thời gian nung
bệnh thường dài hơn so với TEGV. Không có bằng chứng cho thấy sự nhân lên
của virus ở các tế bào bên ngoài đường tiêu hóa.
Cơ chế sinh bệnh của PEDV ở lợn lớn không được nghiên cứu chi tiết,
nhưng người ta vẫn ghi nhận có sự nhân lên của virus trong tế bào biểu mô ở cả