Mô tả tình hình bệnh cong vẹo cột sống của học sinh tại 6 trường phổ thông của huyện kim bôi, tỉnh hòa bình - Pdf 23

Bễ GIAO DUC VA AO TAO Bễ Y Tấ
TRNG AI HOC Y HA NễI
NGUYN TH HOA
Thực trạng bệnh cong vẹo cột sống và kiến thức, thái độ, thực
hành phòng chống bệnh cong vẹo cột sống của học sinh thuộc
6 trờng phổ thông huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình
KHểA LUN TễT NGHIấP BAC S Y KHOA
KHểA 2006 - 2012
Ha Nụi - 2012
Bễ GIAO DUC VA AO TAO Bễ Y Tấ
TRNG AI HOC Y HA NễI
NGUYN TH HOA
Thực trạng bệnh cong vẹo cột sống
và kiến thức, thái độ, thực hành phòng chống
bệnh cong vẹo cột sống của học sinh thuộc 6 tr-
ờng phổ thông huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình
KHểA LUN TễT NGHIấP BAC S Y KHOA
KHểA 2006 - 2012
Ngi hng dõn khoa hoc:
PGS.TS. Lấ TH TI
HÀ NỘI - 2012
LỜI CẢM ƠN
Em xin gửi lời cảm ơn trân trọng nhất đến Đảng ủy, Ban giám hiệu,
Phòng đào tạo đại học, Phòng công tác học sinh sinh viên trường Đại học Y Hà
Nội đã tạo điều kiện cho em trong quá trình học tập tại trường.
Em xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo Trường Đại học Y Hà Nội đã
tận tình giảng dạy, truyền đạt cho em kiến thức chuyên môn, giúp đỡ em trong
sáu năm học tại trường.
Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô Bộ môn Giáo dục sức khỏe, Viện
Đào tạo Y học dự phòng và Y tế công cộng đã cho phép em được thực hiện
Khóa luận này tại bộ môn.

Nguyễn Văn Tường - chủ nhiệm đề tài cho phép tham gia nghiên cứu, thu thập
số liệu tại thực địa và sử dụng một phần số liệu để thực hiện khóa luận. Các kết
quả trình bày trong khóa luận được tính toán trung thực, chính xác và chưa được
công bố trong công trình, tài liệu nào.
Ngày 13 tháng 5 năm 2012
Người thực hiện khóa luận
Nguyễn Thị Hoa

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CVCS Cong vẹo cột sống.
TT Tình trạng.
THCS Trung học cơ sở.
THPT Trung học phổ thông.
WHO World Health Organization.
HS Học sinh.
ĐKTTB Điểm kiến thức trung bình.
ĐTĐ Điểm tối đa.
MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1 3
TỔNG QUAN 3
1.1. Đặc điểm giải phẫu sinh lý cột sống 3
1.1.1. Đặc điểm giải phẫu học [5]. (hình 1) 3
1.1.2. Các thành phần có liên quan [5], [21], [31] 5
1.2. Cong vẹo cột sống 6
1.2.1. Khái niệm về cong vẹo cột sống [18] 6
1.2.2. Nguyên nhân dẫn đến cong vẹo cột sống [21], [24] 7
1.2.3. Phân loại cong vẹo cột sống [43] 7
1.2.3.1. Hình dáng cong cột sống 7
1.2.3.2. Hình dáng vẹo cột sống (Scoliosis) 8

4.1. Tình hình bệnh cong vẹo cột sống và ảnh hưởng của một số điều kiện học
tập lên bệnh cong vẹo cột sống trong học sinh tại 6 trường phổ thông của
huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình 35
4.2. Kiến thức, thái độ, thực hành của học sinh đối với bệnh cong vẹo cột sống
ở 6 trường nghiên cứu 39
4.3. Một số hạn chế của nghiên cứu 42
1. Tình hình bệnh cong vẹo cột sống và ảnh hưởng của một số điều kiện học
tập lên bệnh cong vẹo cột sống trong học sinh tại 6 trường phổ thông của
huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình 43
DANH MỤC BẢNG, BIỂU
Bảng 3.1. Phân bố đối tượng nghiên cứu theo dân tộc 21
Bảng 3.2. Phân bố đối tượng nghiên cứu theo giới và theo cấp học 22
Bảng 3.3. Tỷ lệ học sinh có các biến dạng cột sống 23
Bảng 3.4. Phân bố các biến dạng cột sống theo giới 23
Bảng 3.5. Phân bố các biến dạng cột sống của học sinh tiểu học (cấp I) 27
Bảng 3.6. Phân bố các biến dạng cột sống của học sinh trung học cơ sở (cấp
II) 27
Bảng 3.8. Một số yếu tố ảnh hưởng đến cong vẹo cột sống 30
Bảng 3.9. Hiểu biết về nguyên nhân của cong vẹo cột 31
Bảng 3.10. Hiểu biết của học sinh về tác hại của cong vẹo cột sống 31
Bảng 3.12. Ảnh hưởng của thực hành phòng tránh cong vẹo cột sống đến tỷ
lệ bệnh 33
Bảng 3.13. Thái độ của học sinh đối với một số yếu tố ảnh hưởng đến
CVCS 34
Biểu đồ 1. Phân bố cong vẹo cột sống theo khu vực 24
Biểu đồ 2. Phân bố các biến dạng cột sống theo cấp học 25
1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Theo thống kê của Bộ Giáo dục và Đào tạo năm học 2010 - 2011, hệ
thống giáo dục ở nước ta đang phát triển mạnh mẽ với hơn 28 ngàn trường phổ

đến nay đã có nhiều nghiên cứu về cong vẹo cột sống nhưng chủ yếu tập trung ở
khu vực đồng bằng, số nghiên cứu ở khu vực miền núi còn hạn chế. Mặt khác,
nghiên cứu đề cập đến kiến thức, thái độ, thực hành của học sinh đối với bệnh
vẫn còn ít. Đó chính là lý do mà chúng tôi tiến hành nghiên cứu:
Thực trạng bệnh cong vẹo cột sống và kiến thức, thái độ, thực hành
phòng chống bệnh cong vẹo cột sống của học sinh thuộc 6 trường phổ thông
huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình.
Mục tiêu nghiên cứu:
1. Mô tả tình hình bệnh cong vẹo cột sống của học sinh tại 6 trường phổ
thông của huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình.
2. Mô tả kiến thức, thái độ, thực hành của học sinh về bệnh cong vẹo cột
sống ở 6 trường nghiên cứu.
3
Chương 1
TỔNG QUAN
1.1. Đặc điểm giải phẫu sinh lý cột sống.
Cột sống có nhiều chức năng quan trọng, là trụ cột, là chỗ dựa vững chắc
cho toàn bộ cơ thể, bảo vệ tủy sống, giảm xóc cho bộ não. Nhờ cột sống mà cơ
thể vận động được linh hoạt, nghiêng sang trái, sang phải, cúi hoặc ưỡn người,
xoay vặn và nhún nhảy để đáp ứng các nhu cầu về lao động sản xuất, học tập và
nhiều hoạt động khác.
1.1.1. Đặc điểm giải phẫu học [5]. (hình 1)
Cột sống chạy dài từ mặt trước xương chẩm đến hết xương cụt, bao gồm
33 đốt sống khớp với nhau và được chia thành 5 đoạn: đoạn cổ có 7 đốt sống,
đoạn ngực có 12 đốt sống, đoạn thắt lưng có 5 đốt sống, đoạn cùng có 5 đốt và
đoạn cụt có 4 đốt.
Mỗi đoạn có một chức phận vận động khác nhau, do đó có cấu tạo hình
thái khác nhau riêng biệt cho mỗi đoạn.
- Đốt sống cổ: Nằm ở trên cùng, tiếp giáp với xương chẩm. Thân đốt sống
bè ngang, lỗ đốt sống rộng, mỏm gai chẽ đôi nằm ngang có một lỗ ngang cho

đội
Đốt
trục
5
- Đốt sống thắt lưng: Tiếp theo các đốt sống ngực. Thân đốt rất to, các
mỏm ngang dài và nhọn, các mỏm gai nằm ngang và hướng ra sau.
- Xương cùng: Tiếp theo các đốt sống thắt lưng. Có năm đốt dính liền với
nhau tạo thành hình tháp bốn mặt, đáy ở trên, đỉnh ở dưới, trong xương cùng có
ống cùng là đoạn cuối cùng của ống sống, hai bên khớp với xương chậu thành
khung chậu hay chậu hông.
- Xương cụt: Nằm ở dưới cùng của cột sống. Do bốn đốt sống cùng thoái
triển dính vào nhau tạo thành xương cụt, có hình tam giác nền ở trên khớp với
xương cùng, hai mặt trước và sau có mào ngang.
- Các khớp cột sống: Các đốt sống được liên kết với nhau bằng các khớp
và dây chằng, các thân đốt khớp với nhau bằng các đĩa sụn gian đốt sống (còn
gọi là đĩa đệm). Suốt theo chiều dài của cột sống, ở mặt trước và mặt sau có các
dây chằng dọc trước và dọc sau bám vào. Khớp giữa các mỏm khớp (trên và
dưới các đốt liền kề) là các khớp động loại phẳng, có bao khớp bọc xung quanh.
Ở giữa cung đốt sống, giữa các mỏm ngang, mỏm gai và đầu mỏm gai đều có
các dây chằng. Nhờ các khớp đốt sống mà cơ thể có thể làm các động tác cúi,
ngửa, nghiêng trái hay nghiêng phải và vặn người, nhưng dễ chuyển động nhất
là các đốt sống thắt lưng rồi đốt sống cổ. Các đốt sống ngực nối liền với xương
sườn tạo thành lồng ngực.
Nhìn từ phía sau, cột sống thẳng đứng như một sợi dây rọi, các gai đốt
sống nhô ra sau. Nhìn từ phía bên, cột sống có nhiều đường cong, đó là một đặc
điểm của loài người, đường cong hình thành do tư thế đứng và đi bằng hai chân.
Nhở có các đường cong này mà cột sống có tác dụng như một lò xo mềm, dẻo
và chắc. Ở động vật đi bằng 4 chân (trừ đoạn cổ và đuôi) cột sống cong như một
vòm nhà tựa lên 4 cột, trọng lượng của thân nó được treo trên vòm đó.
1.1.2. Các thành phần có liên quan [5], [21], [31].

Bất cứ một nguyên nhân nào làm cho các cơ và dây chằng bị kéo dãn,
hoặc yếu đi do phải chịu sức căng kéo về một phía, ra trước hoặc ra sau, sang
trái hoặc sang phải, trong một thời gian dài, sẽ làm cho phần cột sống tương ứng
bị biến dạng, gây nên cong vẹo cột sống.
- Nguyên nhân mắc phải: Hầu hết nguyên nhân của bệnh cong vẹo cột
sống ở học sinh nằm trong các trường hợp:
+ Do tư thế xấu trong học tập: Ngồi học không ngay ngắn, ngồi chen chúc
như ngồi nghiêng vẹo trong học tập trong thời gian dài.
+ Bàn ghế không phù hợp với tầm vóc do bàn quá cao ghế quá thấp hoặc
ngược lại, ngồi tì ngực vào bàn do bàn liền ghế không đúng quy cách.
+ Tư thế xấu trong sinh hoạt, lao động: Lao động không đều giữa hai bên
cơ thể kéo dài như gánh nặng, bế em, cuốc đất, đeo cặp một quai, xách cặp sách
một bên kéo dài
+ Do bệnh tật: Di chứng của bệnh bại liệt, lao cột sống, còi xương, suy
dinh dưỡng, chấn thương cột sống
- Nguyên nhân chưa rõ ràng: Một số trẻ ngay sau khi sinh ra đã bị biến
dạng cột sống, 90% các trường hợp này không rõ nguyên nhân gọi là cong vẹo
cột sống bẩm sinh.
1.2.3. Phân loại cong vẹo cột sống [43].
1.2.3.1. Hình dáng cong cột sống.
- Gù lưng (Kyphosis): ở tư thế thẳng đứng người khám nhìn từ phía bên,
đường cong cột sống nhô lên quá cao làm thân hình ngắn lại. Gù lưng hay đi đôi
với vẹo cột sống.
- Ưỡn lưng (Lordosis): thường ưỡn thắt lưng, ở tư thế đứng thẳng nhìn
nghiêng về phía bên, vòng cong thắt lưng ưỡn ra phía trước làm cho ngực nhô
lên, hai vai so lại, mặt và cổ có xu hướng ngửa lên.
8
1.2.3.2. Hình dáng vẹo cột sống (Scoliosis)
Là cột sống có đường cong nhìn từ phía sau lưng, hay gặp hai loại đường
cong hình chữ C hoặc chữ S.

Hiện nay chủ yếu sử dụng 3 phương pháp sau:
- Phương pháp khám sàng lọc: Người khám quan sát hai mỏm xương bả
vai, hai tam giác nách, hai nếp lằn mông và chiều dài hai khối cơ lưng. Đây là
phương pháp có thể tiến hành trên một số lượng đối tượng lớn. Tuy nhiên, hạn
chế của khám sàng lọc là không đánh giá được mức độ cong vẹo cột sống.
- Phương pháp khám vẹo cột sống bằng Scoliosis meter: Sử dụng thước đo
scoliosis meter để đo độ lệch của cột sống. Phương pháp này giúp chẩn đoán sơ
bộ mức độ cong vẹo cột sống nhưng có hạn chế là cần nhiều thời gian và thiết bị
máy móc đi kèm.
- Chụp X quang cột sống: Phương pháp này có ưu điểm là vừa đánh giá được
mức độ cong vẹo cột sống vừa giúp chúng ta lưu lại hình ảnh để đánh giá hiệu quả
can thiệp. Hạn chế của nó là đắt tiền, không thể tiến hành được tại cộng đồng.
Trong nghiên cứu này, với thời gian cho phép và mục đích của đề tài,
chúng tôi thực hiện khám sàng lọc để phát hiện học sinh có các biến dạng
cột sống.
1.4. Tình hình nghiên cứu bệnh cong vẹo cột sống ở học sinh trong nước và
ngoài nước.
1.4.1. Tình hình nghiên cứu bệnh cong vẹo cột sống trên thế giới.
Bệnh cong vẹo cột sống đã được phát hiện và điều trị từ giai đoạn rất sớm
của lịch sử phát triển y học. Hyppocrate là một trong những tác giả đầu tiên trình
10
bày về cong vẹo cột sống và đặt tên Scoliosis. Ông cũng mô tả việc sử dụng các
thiết bị làm giảm tiến triển của cong vẹo cột sống [42].
Tới thế kỷ 18-19, các nhà nghiên cứu đã tìm ra nguyên nhân, bệnh sinh
của cong vẹo cột sống một cách đầy đủ và rõ ràng hơn. Đó là thời điểm đánh
dấu bước phát triển to lớn trong việc phòng và chữa trị bệnh học đường.
Năm 1849, Hare cho rằng: Cong vẹo cột sống có liên quan tới tư thế sai,
rối loạn phát triển thể chất, còi xương. Ông cũng mô tả việc sử dụng khuôn bằng
thạch cao để điều trị cong vẹo cột sống có hiệu quả [42].
Cùng năm đó, Edward. Lonsdale viết luận thuyết về điều trị cong vẹo cột

tăng lên. Đặc biệt ở Thái Bình có tỉ lệ cao, ở nam 65% và nữ 63% [14].
Theo Bùi Hoàng Tụng nghiên cứu tỷ lệ bệnh cong vẹo cột sống của học
sinh trường trung học cơ sở Hoàng Hoa Thám, Quảng Châu - Quảng Xương -
Thanh Hóa, năm 1989 kết quả là 13,98% [37].
Theo Phạm Song, trong đề tài “Sức khỏe của thế hệ trẻ Việt Nam thập kỷ
80”, thì tỷ lệ cong vẹo cột sống của học sinh nói chung là 23%, trong đó nam
21,2%; nữ 24,5% [22].
Theo Phạm Văn Hán nghiên cứu 504 học sinh gồm: 4 lớp tiểu học, 4 lớp
trung học cơ sở tại thi trấn Minh Đức - Thủy Nguyên - Hải Phòng năm 1993-
1995 thì tỷ lệ cong vẹo cột sống là 27,21% [10].
Trong đề tài nghiên cứu về mối liên quan giữa môi trường học tập và tình
trạng sức khỏe, bệnh tật của học sinh Kh’mer - Kiên Giang từ năm 1997 đến
năm 2000 của Hồng Xuân Trường. Kết quả cho thấy tỷ lệ học sinh bị cong vẹo
cột sống năm 1997 là 27,1%, năm 2000 tăng lên 29,3% [35].
12
Theo Bùi Thị Thao, Đặng Văn Nghiễm nghiên cứu năm 1994, tỷ lệ cong
vẹo cột sống của học sinh Vũ Thư - Thái Bình cho thấy tỷ lệ bị cong vẹo cột
sống cao nhất là ở lớp 5 và lớp 9 [29].
Nghiên cứu của Trần Đình Long thấy học sinh ở nông thôn có tỷ lệ cong
vẹo cột sống cao hơn học sinh thành phố. Học sinh ở Bắc Lý - Lý Nhân - Hà
Nam có tỷ lệ cong vẹo cốt sống là 38,1%, học sinh ở thành phố Trần Quốc Toản
là 10,1% (nghiên cứu cùng thời gian cùng lứa tuổi [43]).
Theo Trần Văn Dần thì tỷ lệ cong vẹo cột sống ở học sinh phổ thông trong
thập kỷ 90 tử 16 - 27%. Nhìn chung tỷ lệ cong vẹo cột sống vẫn không giảm [9].
Kết quả nghiên cứu của Trần Thị Mỹ Hạnh 2001, nghiên cứu ở 361 học sinh các
cấp tại Sóc Sơn - Hà Nội, tác giả nhận thấy học sinh tiểu học bị cong vẹo cột
sống là 36,9%; Trung học cơ sở là 24,5%; Phổ thông trung học là 38,3%. Tỷ lệ
mắc bệnh chung là 33,35%. Trong đó hình dáng cong vẹo cột sống chữ C thuận
là 43%, chữ C ngược là 15% [12].
Theo Vũ Đức Thu, Lê Kim Dung, Đào Ngọc Phong và cộng sự nghiên

- Địa điểm: Nghiên cứu được tiến hành tại 6 trường phổ thông thuộc huyện
Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình, bao gồm:
+ Hai trường tiểu học: Tiểu học thị trấn Bo.
Tiểu học Kim Bình.
+ Hai trường trung học cơ sở: THCS thị trấn Bo.
THCS Kim Bình.
+ Hai trường phổ thông trung học: PTTH Kim Bôi A.
PTTH Bắc Sơn.
2.2. Đối tượng nghiên cứu
Học sinh từ lớp 1 đến lớp 12 ở 6 trường đã chọn có mặt tại trường vào buổi
khám sàng lọc.
2.3. Phương pháp nghiên cứu
2.3.1. Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu sử dụng phương pháp mô tả cắt ngang.
2.3.2. Mẫu nghiên cứu
2.3.2.1. Cỡ mẫu:
- Số học sinh cần khám và phỏng vấn được tính theo công thức tính cỡ mẫu
cho ước lượng tỷ lệ của một nghiên cứu mô tả:
15
Trong đó: n là cỡ mẫu tối thiểu cho một trường
p: tỷ lệ mắc biến dạng cột sống trung bình ở học sinh (ước tính 25 %).
α : Mức ý nghĩa thống kê. α = 0,05
: Khoảng tin cậy (ứng với giá trị
Giá trị Z = 1,96 thu được từ bảng Z
là một tỷ lệ so với tỷ lệ p (trong nghiên cứu này lấy = 0,25)
Thay số vào tính được số người cần khám và phỏng vấn tối thiểu cho một
trường là n = 184 và làm tròn thành 200 học sinh. Với 6 trường thì tổng số học
sinh tối thiểu là 1200. Thực tế chúng tôi đã nghiên cứu trên tất cả học sinh có
mặt tại 6 trường vào thời điểm nghiên cứu, tổng cộng là 1351 học sinh.
2.3.2.2. Cách chọn mẫu:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status