Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO VIỆN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ VIỆT NAM
VIỆN SINH THÁI VÀ TÀI NGUYÊN SINH VẬT
LÊ THỊ MINH PHÚC NGHIÊN CỨU TẠO KHÁNG THỂ TÁI TỔ
HỢP ĐẶC HIỆU KHÁNG NGUYÊN HER2
TRONG ESCHERICHIA COLI
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
Ngành: Sinh học
Chuyên ngành: Sinh học thực nghiệm
Mã số: 60.42.30
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS. LÊ QUANG HUẤN
Hà Nội - 2010
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
LỜI CẢM ƠN
Trước hết tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc nhất tới PGS. TS.
Lê Quang Huấn người thầy đã hướng dẫn, chỉ bảo tận tình ngay từ những bước đi
đầu tiên và tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này.
Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ, dạy bảo tận tình của các cô chú, anh
chị và các bạn đồng nghiệp trong phòng Công nghệ tế bào động vật – Viện Công
nghệ Sinh học.
1.4. Phân loại UTV Error! Bookmark not defined.
1.5. Điều trị Error! Bookmark not defined.
2. KHÁNG NGUYÊN HER2 ĐẶC HIỆU TẾ BÀO UTVError! Bookmark not defined.
2.1. Khái quát về gen HER2 và kháng nguyên HER2Error! Bookmark not defined.
2.2. Cấu trúc của HER2 Error! Bookmark not defined.
2.3. Mô hình cơ chế gây UTV của HER2 Error! Bookmark not defined.
2.4. Các nghiên cứu về đột biến trên HER2 Error! Bookmark not defined.
2.5. HER2 và UTV Error! Bookmark not defined.
3. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ KHÁNG THỂ - KHÁNG THỂ ĐƠN DÒNGError! Bookmark not defined.
3.1. Cấu tạo chung của kháng thể (Immunoglobulin)Error! Bookmark not defined.
3.2. Kháng thể đơn dòng Error! Bookmark not defined.
3.3. Kháng thể đơn chuỗi – Mảnh kháng thể Error! Bookmark not defined.
4. KỸ THUẬT PHAGE DISPLAY Error! Bookmark not defined.
4.1. Giới thiệu chung Error! Bookmark not defined.
4.2. Thực khuẩn thể M13 Error! Bookmark not defined.
4.3. Tạo thư viện phage display Error! Bookmark not defined.
4.4. Sàng lọc với thư viện phage Error! Bookmark not defined.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
5. CÁC HẠT NANO VÀNG VÀ ỨNG DỤNG Error! Bookmark not defined.
5.1. Tổng hợp các hạt nano vàng Error! Bookmark not defined.
5.2. Các ứng dụng của các hạt nano Error! Bookmark not defined.
Chƣơng II: VẬT LIỆU VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨUError! Bookmark not defined.
1. VẬT LIỆU Error! Bookmark not defined.
1.1. Sinh phẩm Error! Bookmark not defined.
1.2. Mồi Error! Bookmark not defined.
1.3. Hóa chất và trang thiết bị Error! Bookmark not defined.
2. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Error! Bookmark not defined.
2.1. Các phương pháp thao tác với DNA Error! Bookmark not defined.
2.2. Các phương pháp thao tác với protein tái tổ hợpError! Bookmark not defined.
THUẬT NGỮ VIẾT TẮT
STT
Ký hiệu
Tên đầy đủ
1
9
EtBr
Ethidium Bromide
10
HRP
Horseradish peroxidase
11
IPTG
Isopropyl-
-D-Thiogalactopyranoside
12
Ka
Kanamycin
13
Kb
Kilo base pair
14
kDa
Kilo Dalton
15
KTĐD
Kháng thể đơn dòng
16
LB
Môi trường Lauria Betani
17
NIR
Near Infrared Region
18
1
LỜI MỞ ĐẦU
HER2 là một loại thụ thể thuộc họ các yếu tố phát triển biểu mô (Human
Epidermal Growth Factor Receptor, EGFR), có hoạt tính tyrosine kinase, đóng vai trò
quan trọng trong quá trình sinh trưởng và biệt hoá tế bào. Cho đến nay, vẫn chưa tìm
thấy ligand đặc hiệu của HER2 tuy nhiên nó có thể tạo dimer với bản thân nó hoặc với
các thụ thể khác trong họ để hình thành đồng thụ thể (coreceptor) thúc đẩy các con
đường truyền tín hiệu. Sự khuếch đại gen HER2 trên nhiễm sắc thể 17 dẫn đến sự tăng
biểu hiện thụ thể HER2 trên bề mặt tế bào ung thư vú. Biểu hiện quá mức HER2 có
thể biến đổi tế bào thành dạng ác tính và làm tăng quá trình hình thành khối u. Theo
nhiều nghiên cứu gần đây, khoảng 25-30% bệnh nhân ung thư vú cho thấy có sự
khuếch đại gen HER2 hoặc biểu hiện quá mức gen này trong các tế bào ung thư. Đặc
điểm này làm cho HER2 trở thành một marker hữu hiệu để chẩn đoán sớm ung thư
cũng như đích tấn công của liệu pháp điều trị miễn dịch.
Ung thư vú hiện nay đang là một trong hai loại ung thư chiếm tỷ lệ cao nhất
trong các bệnh ung thư ở nữ giới. Điều trị ung thư vú cũng như nhiều loại ung thư
khác theo các liệu pháp truyền thống như hoá trị liệu và xạ trị liệu mặc dù hiệu quả
tiêu diệt khối u cao nhưng lại có một nhược điểm rất lớn, đó là tác dụng lên cả các cơ
quan bình thường xung quanh (non-targeted effect). Mặt khác, các phương pháp này
đa phần chỉ áp dụng đối với trường hợp các khối u đã phát triển và ở giai đoạn muộn
nên có hiệu quả điều trị thấp. Những nghiên cứu gần đây về các chỉ thị sinh học trong
ung thư vú đã mở ra một hướng điều trị mới, thông minh và đầy triển vọng, liệu pháp
điều trị tấn công đích (targeted therapy), có thể loại bỏ gần như hoàn toàn nhược điểm
của các liệu pháp truyền thống. Một trong số thuốc có bản chất kháng thể đặc hiệu
HER2 đã được FDA chấp thuận để điều trị cho các bệnh nhân ung thư vú dương tính
với HER2 ở giai đoạn cuối là Herceptin.
Để góp phần nghiên cứu nhằm tạo các bộ kít chẩn đoán và các loại thuốc có
Ung thư xảy ra như kết quả của các đột biến hay những thay đổi bất thường
trong các gen chịu trách nhiệm cho việc điều hòa sự phát triển của các tế bào và giữ
cho các tế bào luôn khỏe mạnh.
Ung thư là nguyên nhân gây tử vong đứng hàng thứ 3 sau bệnh tim mạch và đột
quỵ ở các nước phát triển và là nguyên nhân gây tử vong đứng hàng thứ 2 sau bệnh
tim mạch ở Mỹ (). Những nghiên cứu đã thống kê là có khoảng 10
triệu ca mắc mới, 6 triệu ca tử vong và 22 triệu người chung sống với ung thư trên
khắp thế giới năm 2000. Những con số này tương ứng với việc tăng tỷ lệ mắc và tử
vong lên khoảng 22% so với những tỷ lệ này của năm 1990. Người ta ước lượng rằng
con số các ca mắc ung thư mới trên khắp thế giới sẽ là 12.3 và 15.4 triệu người vào
năm 2010 và 2020 theo thứ tự . Năm 2008, ước tính ở Mỹ có tổng số 1.437.180 ca ung
thư mới và 565.650 ca tử vong.
Ung thƣ vú
Là một khối u ác tính được phát triển từ các tế bào vú. Thông thường UTV
hoặc là khởi phát trong các tế bào có khả năng sản sinh sữa của tiểu thùy tuyến vú,
hoặc là trong các ống dẫn sữa từ các tiểu thùy ra núm vú. Ít phổ biến hơn, UTV có thể
khởi phát trong các mô đỡ nơi chứa các mô liên kết dạng sợi và các mô mỡ của vú.
1.2. Tình hình UTV trên thế giới và Việt Nam
UTV trên thế giới
UTV là một trong những ung thư thường thấy nhất ở nữ giới và là nguyên nhân
gây tử vong đứng hàng thứ hai sau ung thư phổi. Ở các nước, tỷ lệ phụ nữ mắc UTV
gia tăng đều đặn hằng năm, tính chung trên toàn thế giới UTV ở phái nữ được xếp vào
hạng nguy cơ hàng đầu. Theo thống kê, tỉ lệ tử vong do UTV ở phụ nữ tại Nhật Bản,
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 4
đổi ở tuyến vú. Thường gặp nhất là một khối bướu hay một chỗ dày cứng lên không
đau ở vú.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 5
Ở giai đoạn sớm, bệnh thường không có các biểu hiện rõ rệt và không gây đau
đớn cho người bệnh. Khi khối u tiến triển, người bệnh sẽ thấy có các triệu chứng sau:
khối u cứng, không đau, không đồng nhất, bờ không rõ, dính vào thành ngực hoặc da
trên vú, khó di động; vú to ra hoặc có thay đổi hình dáng của vú, núm vú bị lún hoặc
xù xì, chảy máu; da vùng vú dày lên hoặc thay đổi màu sắc, sần sùi như vỏ quả cam
Bệnh sinh
Các yếu tố nguy cơ của UTV bao gồm cả những tác nhân không thể thay đổi
như di truyền hay tuổi tác và có những tác nhân có thể thay đổi như cách sống
Tuổi: Tuổi càng cao nguy cơ mắc UTV càng tăng. Người ta ước tính có khoảng
77% phụ nữ mắc UTV được chẩn đoán khi đã ở độ tuổi trên 50. Những phụ nữ trong
độ tuổi từ 20 đến 29 chỉ chiếm khoảng 0.3% trong tổng số các ca UTV.
Bảng 1. Thống kê nguy cơ mắc UTV theo độ tuổi ở phụ nữ Mỹ
Nguy cơ mắc UTV ở phụ nữ tăng lên theo độ tuổi
Từ tuổi 30 đến 39
0.44% (1/227)
Từ tuổi 40 đến 49
1.49% (1/67)
Từ tuổi 50 đến 59
2.79% (1/36)
Tiền sử cá nhân: Những phụ nữ đã từng bị ung thư ở 1 bên vú có nguy cơ mắc
UTV ở bên vú còn lại cao hơn gấp 3-4 lần so với những người chưa từng mắc bệnh.
Tiền sử gia đình: Nếu trong gia đình có người đã bị UTV thì người đó sẽ có
nguy cơ mắc UTV cao hơn.
Chu kì kinh nguyệt: Phụ nữ bắt đầu có kinh sớm (trước 12 tuổi) hay mãn kinh
muộn (sau 55 tuổi) có nguy cơ mắc UTV cao hơn.
Rƣợu: Các nhà nghiên cứu đã thống nhất quan điểm uống rượu có thể làm tăng
nguy cơ mắc UTV. Trong nghiên cứu thực hiện năm 2002, các nhà nghiên cứu đã
phân tích chế độ ăn và thói quen uống rượu bia của trên 60.000 phụ nữ và đã rút ra kết
luận là những phụ nữ nghiện rượu có nguy cơ mắc UTV cao hơn 30% so với những
phụ nữ không uống rượu.
Thuốc lá: Hút thuốc lá làm tăng nguy cơ mắc 1 vài loại ung thư trong đó có
ung thư vú.
Chế độ ăn: Tỷ lệ mắc UTV ở các vùng có chế độ ăn giàu chất béo (như Mỹ)
cao hơn những vùng có chế độ ăn ít chất béo (như Nhật). Tuy nhiên, mối tương quan
giữa chế độ ăn và nguy cơ mắc UTV là rất phức tạp và phụ thuộc vào loại chất béo có
trong chế độ ăn của họ. Các chất béo không bão hòa đơn, như dầu chiết xuất từ cây cải
dầu hay dầu oliu có liên quan đến nguy cơ mắc UTV thấp hơn trong khi chế độ ăn cao
các chất béo không bão hòa đa (polyunsaturated fats) như dầu ngô, bơ thực vật, và các
chất béo bão hòa trong thịt có liên quan đến nguy cơ mắc UTV cao hơn.
1.4. Phân loại UTV
UTV có thể được phân loại bằng nhiều cách phụ thuộc vào các đặc tính, giai
đoạn phát triển của bệnh. Cụ thể như sau:
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 7
Tổ chức Y tế thế giới WHO. Hệ thống này phân loại UTV thành 4 kiểu chính (hình 1):
(1) Ung thư không xâm lấn (tại chỗ) gồm có ung thư ống tuyến tại chỗ và ung thư tiểu
thùy tại chỗ; (2) Ung thư thâm nhiễm gồm có ung thư ống tuyến thâm nhiễm và ung
thư tiểu thùy thâm nhiễm; (3) Ung thư viêm nhiễm; (4) Bệnh paget núm vú.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 8
Hình 1. Các dạng ung thư vú thường gặp
I-ung thư ống tuyến tại chỗ; II- ung thư tiểu thùy tại chỗ; III- ung thư ống tuyến thâm
nhiễm; IV- ung thư tiểu thùy thâm nhiễm. Trong đó, ở hình ảnh tuyến vú: A: ống tuyến; B:
tiểu thuỳ; C: vùng giãn nở của ống tuyến để giữ sữa; D: núm vú; E: mô mỡ; F: cơ ngực; G:
thành ngực, ở hình phóng to: A: tế bào ống/tiểu thuỳ bình thường; B: tế bào ống/tiểu thuỳ ung
thư; C: màng rìa; D: lõi ống
1.5. Điều trị
Có nhiều phương pháp điều trị UTV, nhưng đối với những giai đoạn trễ mặc dù
đã có nhiều tiến bộ (phẫu trị, hóa trị, xạ trị, nội tiết) tỷ lệ tử vong vẫn còn rất cao.
- Phẫu trị: bao gồm phẫu thuật bảo tồn như cắt khối u, nạo hạch nách sau đó xạ
trị đối với các khối u < 3cm, hai ổ, ung thư tại chỗ lan tỏa.
- Xạ trị: có tác dụng điều trị bổ túc, xạ trị có hệ thống sau phẫu thuật tận gốc để
làm giảm nguy cơ tái phát.
- Hóa trị: là dùng thuốc kháng ung thư có tác dụng điều trị toàn thân được sử
dụng khi có các yếu tố nguy cơ tái phát, là phương pháp điều trị hỗ trợ rất cần thiết
nhưng có nhiều tác dụng phụ và rất tốn kém.
Liệu pháp đích
HER2 là một gen chỉ thị đặc trưng được nhiều nhà khoa học quan tâm do nó có tính ổn
định cao và số bản lặp lại trong hệ gen thấp thuận tiện cho việc tách và nghiên cứu
[20,23,49].
Các nhà khoa học sử dụng các đầu dò có đánh dấu huỳnh quang đã phát hiện vị
trí của HER2 gần tâm động của nhiễm sắc thể 17 và ở vị trí q11.2-q12.0. Đối với
phương pháp lai phân tử, từ tần xuất có phát màu có thể tính được số bản sao của gen.
Ngoài ra có thể quan sát trực tiếp sự biểu hiện của HER2 trên bề mặt các tế bào ung
thư khi sử dụng phương pháp lai miễn dịch huỳnh quang, đây cũng chính là phương
pháp sử dụng để phát hiện UTV dựa trên cơ sở miễn dịch phân tử. Quá trình nhân bản
gen HER2 đã được tiến hành thành công và trình tự toàn bộ của gen này đã được đăng
ký trong ngân hàng gen quốc tế [45,60,61].
2.2. Cấu trúc của HER2
2.2.1. Cấu trúc gen HER2
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 10
Gen HER2 được nghiên cứu phát hiện ra với tên HER-2 và c-erbB-eerG bởi hai
nhóm nghiên cứu độc lập vào năm 1985. Tuy nhiên các nghiên cứu sau đó cho thấy
hai gen này hoàn toàn giống nhau và thống nhất đặt tên gọi HER-2/neu. HER2 thuộc
họ gen mã hóa các thụ thể sinh trưởng của các tế bào biểu mô HER (Human Epidermal
Growth Factor Receptor). Nó còn có các tên gọi khác như v-erb-b2, Neu, TKR1, NGL,
HER2, nằm ở nhiễm sắc thể số 17, gần với tâm động, ở vị trí q11.2 q12.0. HER2 là
một gen tiền ung thư (proto-oncogen) có chiều dài 30528 bp chứa 27 exon, tổng chiều
dài các exon là 4477 bp trong đó exon dài nhất có 969 bp, exon ngắn nhất có chiều dài
48 bp, gen này có 3 bản sao tương đồng tương ứng với 3 allele B1( Ile-654/Ile655);
+ Vùng nội bào có chứa đuôi C có mang các gốc tyrosine được phosphoryl hóa
chịu trách nhiệm cho hoạt tính tyrosine kinase của thụ thể.
Hình 2. Cấu trúc của protein HER2
Cấu trúc của HER2/neu: (1): Vùng ngoại bào gồm có 2 vùng liên kết với chất cảm
ứng LD1, LD2 (Ligand binding regions); (2): Hai vùng giàu Cystein (CR1 và CR2); (3): Một
vùng xuyên màng (TM – transmembrane); (4): Một vùng có hoạt tính tyrosine kinase (TK);
(5): Một đuôi Cacboxyl (CT – Carboxyl terminal)
Thụ thể HER2 bao gồm phần ngoại bào khoảng 632 aa, vùng chuyển màng đơn
chuỗi dài 22 aa và vùng tyrosine kinase nội bào được cấu trúc từ 580 aa. Vùng ngoại
bào của HER2 gồm 4 tiểu vùng: Tiểu vùng I bao gồm các gốc aa từ vị trí số 1 đến vị
trí 195 (SEQ1); tiểu vùng II từ 196 - 319 (SEQ2); tiểu vùng III từ 320 - 488 (SEQ3);
tiểu vùng IV từ 489 -630 (SEQ4). Thụ thể HER bình thường tồn tại ở trạng thái đơn
phân bất hoạt. Sự hoạt hóa thụ thể xảy ra khi có ligand bám vào và làm hoạt hóa một
dãy các quá trình dẫn đến sự nhị hợp giữa các thụ thể, và cuối cùng làm trung gian cho
các quá trình sinh học như sự tăng trưởng và biệt hóa tế bào [11,18,19,57].
Hình 3. Các thành viên của họ thụ thể HER (Cho.
et.al)
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 12
Thụ thể HER2 không cần có các chất liên kết để hoạt hóa mà cấu trúc của nó
luôn luôn trong trạng thái “mở”, bắt chước trạng thái liên kết với ligand, làm cho nó có
AKT
GSK-3
P
P
Gene transcription
MAPK
K
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 13
2.3. Mô hình cơ chế gây UTV của HER2
Sự biểu hiện quá mức của HER2 là tác nhân làm tăng dimer hóa giữa HER2 với
chính nó và các thụ thể khác (HER1, HER3). Đó cũng là những tín hiệu khởi đầu cho
các con đường sinh ung thư khác nhau. Tuy nhiên mối liên quan giữa các con đường
đó là rất khó để có thể xác định. Dưới đây là một đề xuất của Moasser về con đường
sinh ung thư do sự biểu hiện quá mức của HER2.
Sự biểu hiện quá mức của HER2 là nguyên nhân của sự tăng dimer hóa. Tăng
dimer HER2-EGFR dẫn tới sự tăng sinh và sự xâm lấn của tế bào. Sự tăng dimer hóa
đồng hình HER2 làm mất tính phân cực của tế bào. Sự tăng dimer HER2-HER3 có
ảnh hưởng tới sự tăng sinh, khả năng tồn tại, tính xâm lấn và chức năng trao đổi chất
của tế bào. Tăng sự biểu hiện quá mức của HER2 làm tăng isoform hiếm
HER2 dẫn
nhân dẫn tới quá trình hình thành ung thư [21,24]. Ở động vật có vú, thụ thể HER2 có vai trò quan trọng trong sự phát triển của
tim và thần kinh, các thí nghiệm với chuột bị bất hoạt cả hai allene cho thấy các mô
tim và thần kinh phát triển. Oncogen HER2 có thể bị kích hoạt bởi các đột biến điểm
làm gen này được khuếch đại và được biểu hiện mạnh.
2.4. Các nghiên cứu về đột biến trên HER2
Trong khi gen neu ở loài gặm nhấm đòi hỏi cần có đột biến để hoạt hóa sự hình
thành ung thư thì gen HER2 lại được xem như gen có khả năng sinh ung thư chỉ thông
qua sự biểu hiện quá mức của protein. Bằng kỹ thuật di truyền các đột biến điểm được
tạo ra tại các vị trí khác nhau trên cả 3 vùng (minh họa ở hình 7). Trong đó hầu hết
chúng đều làm thay đổi hoạt tính tyrosine kinase và ảnh hưởng tới sự hình thành khối
u. Đồng thời một số đột biến cũng được phát hiện trên mô hình nghiên cứu UTV trên
chuột hay được tìm thấy trong tự nhiên (tóm tắt ở bảng 2) [28,36,56]. Hình 6. Cơ chế gây ung thư của HER2
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 15
Hình 7. Cấu trúc protein HER2 và các vị trí đột biến được nghiên cứu. Các ký
tự phía bên trái gồm 2 vùng gắn ligand là LD1 và LD2, 2 vùng giàu cysteine (CR1 và
CR2), đoạn protein xuyên màng (TM), vùng xúc tác tyrosine kinase (TK), các đuôi
chuột
neu8142, neu8342
Vùng ngoại bào được
gây đột biến từ chuột
A
Ung thư của chuột
chuyển gen MMTV-
c-neu
HER2, ErbB2, c-
ErbB2
Tế bào HER2 của
người
-
Tế bào người
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 16
HER2V659E
Đột biến gây biến dạng
HER2 từ người, tương
đồng với neu T
C
Không thấy trong tự
nhiên
HER2
biểu hiện của gen HER2 trên bề mặt tế bào ung thư [52,59,60,61].
Ở tế bào bình thường, gen HER2 chỉ tồn tại hai bản sao, còn ở tế bào UTV có
thể có tới 25 - 30 bản sao của gen HER2 và làm tăng 40 - 100 lần sự biểu hiện của
protein HER2 (lên đến hơn 2 triệu thụ thể trên bề mặt tế bào khối u), từ đó qua các con
đường dẫn truyền khác nhau, tín hiệu được truyền vào bên trong tế bào đến nhân và
Hình 8. Tỷ lệ UTV dương tính với HER2
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 17
kích hoạt gen đích hoạt động, phiên mã và dịch mã mà tế bào không kiểm soát được
[49,60].
3. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ KHÁNG THỂ - KHÁNG THỂ ĐƠN DÒNG
3.1. Cấu tạo chung của kháng thể (Immunoglobulin)
Kháng thể là các immunoglobulin (có bản chất glycoprotein), do các tế bào
lympho B, các tương bào (biệt hóa từ lympho B) tổng hợp và tiết ra giúp hệ miễn dịch
nhận biết và vô hiệu hóa các tác nhân lạ, chẳng hạn các vi khuẩn hoặc virus.
Các kháng thể có cấu tạo hình chữ Y, có hai bộ “cành” gắn vào một “thân”. Các
đầu của Y (Fab) được gọi là các vùng biến đổi, ở phía đầu các cành chứa các vùng gắn
kết kháng nguyên (vùng quyết định bổ trợ, CDR) và thân (Fc) là một vùng hằng định.
Kháng thể gồm 4 chuỗi polypeptide, 2 chuỗi nặng và 2 chuỗi nhẹ. Chuỗi nặng và
chuỗi nhẹ được nối với nhau bằng 1 cầu disulfide, hai chuỗi nặng được nối với nhau
bởi 2 cầu disulfide. Kiểu của chuỗi nặng quyết định phụ dạng của Ig (IgA, IgD, IgG,
IgM và IgE). Mỗi chuỗi có vùng biến đổi và vùng hằng định (vùng không biến đổi).
Vùng biến đổi nằm ở đầu amino (NH
2
C
L
Vùng gắn kết với kháng nguyên
C
H 2
C
H 3
μ, γ, δ, α hoặc ε
Gắn đại thực bào
Hoạt hoá bổ thể
COO-
COO-
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 18
hợp các kháng thể đồng nhất cùng nhận biết và gắn kết với một epitope. Ngược lại,
các kháng thể đa dòng là tập hợp nhiều loại kháng thể không đồng nhất và nhận biết
các epitope khác nhau.
3.3. Kháng thể đơn chuỗi – Mảnh kháng thể
Mảnh kháng thể đơn chuỗi (scFv) là một protein dung hợp của các vùng biến
đổi của chuỗi nặng (V
và biểu hiện mạnh HER2 chủ yếu là phương pháp trị liệu, phẫu thuật và xạ trị. Tuy
nhiên, các phương pháp này đa phần chỉ áp dụng đối với các trường hợp khối u đã
phát triển và ở giai đoạn muộn nên có hiệu quả thấp. Các nhà khoa học của Genetech