GIẢI PHẪU và SINH lý THỂ THỦY TINH - Pdf 23

1
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Thể thủy tinh (TTT) là một trong những môi trường trong suốt của mắt,
không có mạch máu, có nhiệm vụ dẫn truyền ánh sáng và điều tiết. Đó là một
thấu kính hai mắt lồi, mặt trước tiếp xúc với bờ tự do đồng tử, mặt sau áp sát
khối dịch kính (pha lê thể). TTT có vị trí cố định nhờ hệ thống dây treo vào
thể mi – gọi là dây chằng Zinn. TTT có những đặc điểm giải phẫu học và siêu
cấu trúc rất đặc biệt mà nhờ đó bảo đảm được các chức năng sinh lý quan
trọng của nó. Vì được hình thành rất sớm từ những tuần đầu tiên của bào thai
và phát triển liên tục rồi thoái triển đần ở tuổi già, cho nên việc nghiên cứu
giải phẫu và sinh lý của TTT là hết sức cần thiết cho chẩn đoán, tiên lượng,
dự phòng và điều trị các bệnh lý của TTT và các bệnh lý khác của mắt.
2. GIẢI PHẪU VÀ SINH LÝ THỂ THỦY TINH
2.1. Hình thể và cấu trúc
2.1.1. Hình thể
TTT có hình một thấu kính hai mặt lồi, mềm, độ cong hai mặt trước và
sau có thể thay đổi nhìn xa hay nhìn gần. Quang trục của TTT trùng với
quang trục của mắt. TTT không có thần kinh chi phối và được nuôi dưỡng
nhờ thấm thấu, trao đổi chất qua các màng lọc chứ không có mạch máu nuôi.
2.1.1.1. Kích thước
Lúc sinh ra TTT có đường kính là 6,4mm, bề dày (đường kính trước
sau) là 3,5mm. Ở người trưởng thành TTT có đường kính 9 mm và dày 4mm.
Trong trạng thái không điều tiết thì bán kính độ cong mặt trước là 10mm, mặt
sau là 6mm.
2
2.1.1.2. Cân nặng
Lúc mới sinh ra TTT cân nặng 90mg, mỗi năm tăng 3mg do các sợi
TTT mới được tạo ra, lúc lên 3 tuổi nặng hơn 93mg và có thể tích 90mm
3
. Ở
người trưởng thành nặng 225mg đến 258mg và có thể tích 239mm

đầu kéo dài. Do các túi bào này dài ra chúng dần dần bít kín túi thị giác.
Khoảng ngày thứ 40 của thời kỳ thai ghén, lòng túi thị giác hoàn toàn bị
lấp kín. Các tế bào kéo dài được gọi là các sợi TTT nguyên thủy (primary lens
fibers). Nhân của các sợi TTT nguyên thủy di chuyển bên trong các sợi từ vị
trí gần lá nền phía sau ra trước, rồi sau đó kết đặc lại khi các nội bào quan trở
nên không còn rõ ràng. Cuối cùng, các sợi TTT nguyên thủy sẽ chiếm phần
trung tâm TTT của người lớn và tạo nên nhân phôi. Mặc dù các tế bào của lớp
sau túi thị giác đã biệt hóa rõ rệt để tạo ra các sợi TTT nguyên thủy, các tế
bào của mặt trước túi TTT không biến đổi. Lớp tế bào hình khối này bất ngờ
được gọi là biểu mô TTT. Sự biệt hóa và phát triển tiếp sau đó của TTT xuất
phát từ biểu mô TTT.
5) Các sợi TTT thứ phát
Các tế bào biểu mô TTT ở vùng xích đạo nhanh chóng bắt đầu nhân lên
và kéo dài ra để hình thành các sợi TTT thứ phát vào khoảng tuần thứ 7 của
thời kỳ thai nghén. Mặc trước của mỗi sợi phát triển ra phía trước đến cực
trước, luồn dưới biểu mô TTT. Mặt sau của mỗi sợi phát triển về phía sau đến
cực sau TTT ở bên trong bao. Các sợi mới của TTT liên tục được hình thành
theo cách này, lớp nọ nằm trên lớp kia. Các sợi TTT thứ phát được hình
thành giữa tháng thứ hai và tháng thứ tám của thời kỳ thai nghén tạo ra
nhân bào thai.
4
6) Các đường khớp TTT (lens sutures) và nhân bào thai.
Do các sợi TTT phát triển ra phía trước và phía sau nên tại nơi các sợi
gặp nhau và đan xen vào nhau ở phần trước và phần sau TTT sẽ tạo ra một
hình gọi là các đường khớp. Có thể thấy các đường khớp hình chữ Y vào
khoảng tuần thứ 8 của thời kỳ thai nghén, bao gồm một đường khớp chữ Y
thuận ở phía trước và một đường khớp chữ Y ngược ở phá sau.
Các đường khớp chữ Y chỉ được tạo ra trong giai đoạn bào thai. Do các
sợi TTT tiếp tục hình thành và TTT không ngừng phát triển làm co hình dạng
của các đường khớp trở nên phức tạp.

bào trước chủ yếu chứa nhân, một ít các bào quan.
Trong thời kỳ bào thai, bao TTT gồm các tế bào hình trụ khối (cylindro -
cubiques) bao bọc quanh bọng TTT. Từ tuần lễ thứ 8 trở đi biểu mô TTT dưới
bao sau được chuyển dạng thành sợi và rồi biến mất đi sau khi lấp vào khoang
TTT chỉ còn lại biểu mô TTT dưới bao trước. Vì vậy sự tăng trưởng của TTT
được bảo đảm bởi những tế bào nằm ở xích đạo.
Trong quá trình phát triển của cơ thể các tế bào biểu mô TTT trước này
chuyển hóa tích cực và có khả năng tiến hành tất cả các hoạt động của tế bào
bình thường bao gồm sinh tổng hợp AND, ARN, protein và lipit.
Người ta chia tế bào biểu mô trước ra làm 4 vùng khác nhau từ trung tâm
đến xích đạo.
6
- Vùng biểu mô trung tâm: Gồm các tế bào hình khối có bề cao 7-8 µm,
rộng 15 µm, nhiều góc cạnh, hơi dẹt. Ở vùng này mật độ tế bào thấp và hiện
tượng gián phân rất yếu.
- Vùng biểu mô cạnh tâm: (còn gọi là vùng trung gian), ở đây mật độ tế
bào và hiện tượng gián phân hơi cao hơn vùng trung tâm.
- Vùng gián phân: (còn gọi là vùng mầm) tập trung rất nhiều tế bào và
hiện tượng gián phân mạnh nhất (tỷ lệ 66/100.000 tế bào). Các tế bào mới
sinh ra này sẽ di chuyển dần về phía xích đạo để đến vùng tiền sợi bắt đầu quá
trình biệt hóa thành tế bào sợi TTT.
- Vùng tiền sợi (protofibres): nằm ngay sát xích đạo, ở đây các tế bào
biểu mô xếp thẳng góc 90
0
với tế bào vùng trước, bắt đầu quá trình biêt hóa
cuối cùng để trở thành sợi TTT. Nghĩa là thay đổi mạnh về hình thái: tế bào
biểu mô kéo dài ra thành dạng sợi tế bào; đồng thời mất dần nhân, ti lạp thể
và ti thể. Việc mất đi các cấu trúc khiến ánh sáng xuyên qua được mà không
hề bị cản trở.
2.1.2.3. Lớp vỏ thể thủy tinh

mi, nằm giữa thể mi với lớp giới hạn trước của dịch kính, sau đó hướng về mặt
sau của TTT và tận dính vào bao sau phía trên dây chằng Weiger
(3) Các sợi vùng vòng thể mi – bao trước TTT: Phần lớn các sợi này
xuất phát từ chỗ nhô ra thêm vùng vòng thể mi, cách Ora serrata khoảng
8
1,5mm về phía trước. Chúng to và chắc hơn các sợi khác, đi chéo ra phía
trước rồi tận dính vào bao trước thể thủy tinh.
(4) Các sợi thể mi – bao sau: rất nhiều và rất mịn, các sợi này xuất phát
từ vùng phẳng của thể mi, bắt chéo các sợi đi từ vùng vòng thể mi – bao sao
tận hết bằng cách dính vào và sau phần phía sau xích đạo.
(5) Các sợi thể mi – xích đạo: Xuất phát từ đỉnh của các tua mi, đi về
phía xích đạo rồi dính vào các sợi rất thay đổi và tuổi càng già các sợi này
càng ít đi.
Mỗi một dây chằng bao gồm nhiều sợi nhỏ (100 Å) có vân. Ở chỗ dính
với biểu mô thể mi.
2.2. Đặc điểm sinh lý thể thủy tinh
Chuyển hóa của thể thủy tinh bình thường dường như phụ thuộc vào
một môi trường ion-thẩm thấu nội tại đặc hiệu. Sự duy trì cân bằng ion này
phụ thuộc vào sự liên lạc giữa các tế bào biểu mô và các sợi thể thủy tinh.
Nhờ các quá trình vận chuyện tích cực, natri nội tại được duy trì ở mức
khoảng 20 mM và ka li ở mức 120 mM, trong khi đó nồng độ ở trong thủy
dịch của natri và 150 mM và kali là 5 mM. Do sự cân bằng này dễ bị phá vỡ
bởi chất ouabain ức chế men ATP aza đặc hiệu, một phần quan trọng của
gradie cần được duy trì bởi các men ATP aza độc lập (có nồng độ cao nhất
trong biểu mô). Các cơ chế vận chuyển tích cực bị mất đi khi chỉ loại bỏ lớp
bao nhân phân hủy bằng men colagenaza. Những phát hiện này đã chứng
minh giả thuyết cho rằng vị trí đầu tiên của những vận chuyên tích cực trong
thể thủy tinh nằm ở bên trong biểu mô.
Theo thuyết "bơm-thấm" (pump-leak), kali và nhiều phân tử khác
(chẳng hạn các axit amin) được vận chuyển tích cực qua biểu mô vào mặt

thuộc vào oxy được chứng minh bằng khả năng của thể thủy tinh có thể duy
trì chuyển hóa bình thường trong một môi trường nitơ. Khi được cung cấp đầy
đủ glucoza, thể thủy tinh bị thiếu oxy trong thực nhiệm vẫn hoàn toàn trong suốt,
có các mức ATP bình thường, và duy trì được các hoạt động bơm ion và axit
amin. Mặt khác, nếu không được cung cấp glucoza (mặc dù có oxy), thể thủy
tinh không duy trì được các chức năng này và trở nên mờ đục sau vài giờ.
Có một con đường khác để sử dụng G-6-P trong thể thủy tinh một cách
kém tích cực hơn đó là đường pentoza photphat hoặc đường phụ hexora
monophotphat (HMP shunt). Khoảng 5% glucoza của thể thủy tinh được
chuyển hóa theo đường này, mặc dù đường này được kích thích bởi các mức
glucoza cao. Hoạt động của đường phụ HMP ở thể thủy tinh mạnh hơn ở hầu
hết các mô khác, nhưng vai trò của nó vẫn còn chưa được xác định. Cũng như
đối với các mô khác, nó có thể cung cấp NADPH cho sinh tổng hợp axit béo
và riboza cho sinh tổng hợp nucleotit. Nó còn cung cấp NADPH cần thiết cho
các hoạt động của glutathion reductaza và aldoza reductaza trong thể thủy
tinh. Các sản phẩm hydrat cacbon của đường phụ HMP đi vào con đường
glycol phân và được chuyển hóa thành lactat.
Aldoza reductaza lại là một enzym chủ yếu trong một con đường khác
của chuyển hóa đường ở thể thủy tinh, đó là con đường sorbitol. Người ta
thấy enzym này đóng vai trò chủ chốt trong sự xuất hiện các đục thể thủy tinh
"do đường". Do ái lực của enzym này gấp khoảng 700 lần ái lực của
hexokinaza nên bình thường chỉ có không quá 4% glucoza của thể thủy tinh
được chuyển thành sorbitol.
Như đã nêu ở trên, phản ứng hexokinaza bị hạn chế tốc độ khi
photphoryl hóa glucoza trong thể thủy tinh và nó bị ức chế bởi cơ chế hồi tiếp
do các sản phẩm của glycol phân. Do đó, khi glucoza tăng trong thể thủy tinh
11
con đường sorbitol được hoạt hóa tương đối nhiều hơn glycol phân, và
sorbitol được tích lại. Sorbitol được chuyển hóa thành fructoza nhờ enzym
poyol dehydrogenaza. Đáng tiếc là enzym này có ái lực tương đối thấp nghĩa

galactinol khác. Cũng có thể gây đục thể thủy tinh galactoza trên thực nghiệm
bằng cách duy trì các con vật ở chế độ ăn giàu galactoza. Vai trò chủ yếu của
aldoza reductaza trong việc gây ra đục thể thủy tinh ở động vật được thể hiện
trong các nghiên cứu sự xuất hiện đục thể thủy tinh do đường ở nhiều loại
động vật khác nhau. Những loài động vật hoạt động aldoza reductaza cao sẽ
xuất hiện đục thể thủy tinh, trong khi các loài không có aldoza reductaza thì
không bị đục thể thủy tinh. Ngoài ra, các chất ức chế đặc hiệu hoạt động
enzym này, đưa vào theo đường toàn thân hoặc tại chỗ ở một mắt, làm giảm
tỷ lệ xuất hiện và mức độ nặng của các đục thể thủy tinh "do đường" trong
các nghiên cứu thực nghiệm.
2.2.2 Tổn hại oxy hóa và các cơ chế bảo vệ
Cái gố tự do dễ sinh ra trong các quá trình hoạt động chuyển hóa và
cũng có thể được sinh ra bởi các tác nhân bên ngoài, chẳng hạn năng lượng
bức xạ. Các gốc tự do có hoạt tính cao có thể gây tổn hại các sợi thể thủy tinh.
Người ta đã đưa ra giả thuyết là sự peroxit hóa các lipit của sinh chất hoặc
màng sinh chất của các sợi thể thủy tinh là một yếu tố góp phần vào đục thể
thủy tinh. Trong quá trình peroxit hóa lipit, tác nhân oxy hóa lấy mất một
nguyên tử hydro của axit béo không bão hòa, tạo ra một gốc axit béo. Gốc này
lại tác động vào oxy phân tử tạo nên một gốc peroxit lipit. Gốc này có thể sản
sinh thêm chuỗi dẫn đến hình thành peroxit lipit (LOOH), chất này có thể tiếp
tục phản ứng để tạo ra malondialdehyt (MDA) là một chất có liên kết ngang
mạnh. Người ta cho rằng MDA phản ứng chéo với các lipit và protein của
màng làm cho chúng không thể thực hiện được những chức năng bình thường.
13
Áp lực oxy trong thể thủy tinh thấp, do đó các phản ứng của gốc tự do
có thể không đòi hỏi oxy phân tử mà phản ứng trực tiếp với các phân tử. ADN
dễ bị tổn hại bởi các gốc tự do. Một số tổn hại có thể được sửa chữa, nhưng
cũng có thể có những tổn hại vĩnh viễn của thể thủy tinh. Các gốc tự do cũng
có thể tác động vào các protein hoặc các lipit của màng ở lớp vỏ. Người ta
chưa thấy có cơ chế sửa chữa nào để cải thiện tổn hại này (tổn hại tăng lên

Glutathion disulfua (GSSG) sau đó lại được glutathion reductaza
chuyển hóa thành glutathion (GSH), trong đó sử dụng chất khử là pyrimidin
nucleotit NADPH do đường phụ HMP cung cấp: GSSH + NADPH + H
+

PGSH + NADP
+
. Do đó, glutathion tác dụng gián tiếp như một chất chủ yếu
dọn sạch gỗ tự do trong thể thủy tinh. Cả vitamin E và axit ascorbic đều có
mặt trong thể thủy tinh và cũng bảo vệ thể thủy tinh khỏi tổn hại oxy hóa, vì
mỗi chất này đều có khả năng tác động như một chất dọn sạch gốc tự do.
14
2.2.3 Sự điều tiết
Cơ chế mắt thay đổi tiêu điểm từ hình ảnh ở xa đến hình ảnh ở gần
được gọi điều tiết. Điều tiết xảy ra khi có các biến đổi hình dạng ở thể thủy
tinh do tác động của cơ thể mi lên các dợi dây Zinn. Chất thể thủy tinh mềm
dẻo nhất ở trẻ em và người trẻ, nó mất dân khả năng biến đổi hình dạng khi
tuổi tăng lên. Sau khoảng 40 tuổi, độ cứng của nhân thể thủy tinh gây ra giảm
điều tiết trên lâm sàng. Hình dạng thể thủy tinh phần lớn biến đổi gần trung
tâm của mặt trước. Bao trước ở trung tâm mỏng hơn ở ngoại vi, và các sợi
dây Zinn ở mặt trước bám gần trục thị giác hơn là các sợi dây Zinn ở mặt sau,
do đó phần trung tâm trở nên lồi ra khi có điều tiết. Độ cong mặt sau của thể
thủy tinh thay đổi rất ít khi điều tiết. Phần trung tâm bao sau là vùng mỏng
nhất và có xu hướng phình ra sau với mức độ giống như của bao trước mà
không phụ thuộc vào sức căng của các sợi dây Zinn.
Cơ thể mi là một cấu trúc vòng mà khi co nó không gây tác dụng giống
như là một cơ vòng. Khi một cơ vòng co, nó luôn thắt chặt lại. Tuy nhiên khi
cơ thể mi co, đường kính của vòng cơ giảm đi, do đó làm cho các sợi dây
Zinn chùng lại và cho phép thể thủy tinh trở nên tròn hơn. Vì vậy, khi cơ thể
mi co, độ dày của thể thủy tinh tăng lên, đường kính giảm đi, và công suất

Tăng
Tăng
Dẹt hơn
Tăng
Giảm
Dẹt xuống
Biến đổi rất ít
Giảm
Biên độ điều tiết là mức độ biến đổi công suất khúc xạ của mắt do điều
tiết gây ra. Biên độ điều tiết giảm khi tuổi tăng và có thể bị ảnh hưởng đến
một số thuốc và bệnh tật. Thanh niên thường có điều tiết là 12-16 điốp, người
ở tuổi 40 có điều tiết là 4-8 điốp, và ngoài 50 tuổi thì điều tiết giảm xuống
dưới 2 điốp. Nguyên nhân chính của sự giảm điều tiết này là do thể thủy tinh
bị xơ cứng, người ta gọi hiện tượng đó là lão thị.
2.2.4 Sự thay đổi thể thủy tinh theo tuổi
Cũng như các bộ phận khác của cơ thể, TTT trải qua quá trình phát
triển trưởng thành rồi lão hóa. Nếu không có những ảnh hưởng do bệnh lý,
chấn thương hoặc do thuốc thì thông thường TTT lão hóa sớm hơn tuổi
đời, đó là do đục TTT do tuổi chiếm một tỷ lệ cao nhất (50-70%) trong các
đục TTT.
16
+ Đục TTT tuổi già: Bệnh sinh của quá trình đục TTT tuổi già hiện vẫn
chứa được biết rõ ràng nhưng người ra nghĩ rằng nguyên nhân đa yếu tố.
Chất protein trải qua quá trình biến đổi hóa hoặc phức tạp và sự tụ tập protein
phân tử cao. Những kết tụ protein này sẽ gây ra những biến đổi chất suất của
TTT gây ra hiện tượng tán xạ ánh sáng và giảm độ trong suốt. Biến đổi hóa
học của protein nhân TTT cũng gây ra tăng đậm độ màu sắc ngày nhiều: màu
nâu dần theo tuổi.
Đục TTT tuổi già bao gồm 3 loại chính:
- Đục nhân TTT: Khi nhân xơ cứng và ngả màu vàng mức độ nhẹ vẫn

sau. Trong môi trường ánh sang cường độ thấp bệnh nhân thấy dễ chịu, ngược
lại cường độ ánh sáng lớn hơn sẽ gây ra khó chịu và giảm thị lực cho bệnh
nhân vì đục che lấp diện đồng tử đã co nhỏ. Trong dạng đục này những tế bào
biểu mô dưới bao sau to lên bất thường được gọi là Wedl hoặc tế bào bọng.
+ Về khả năng điều tiết: Trẻ con có thể điều tiết 15-20 dilop, tuổi thanh
niên 12-16 dilop. Ở tuổi 40 chỉ điều tiếu được 4-8 diop và trên 50 tuổi chỉ có
thể điều tiết dưới 2 diop. Nguyên nhân chính của sự giảm dần khả năng điều
tiết này do sự xơ cứng TTT theo tuổi, gọi là lão thị.
2.3. Sinh hóa thể thủy tinh
Thể thủy tinh của người có nồng độ protein chiếm 33% trọng lượng ướt
của nó, gấp hai lần nồng độ protein của hầu hết các mô khác. Phần lớn các
protein này là những protein cấu trúc của các sợi thể thủy tinh, là cấu tạo chủ
yếu của thể thủy tinh. Các protein sợi này tồn tại dưới hai dạng chủ yếu: tan
trong nước và không tan trong nước. Nhóm tan trong nước phần lớn là tinh
18
thể, và nhóm không tan trong nước được gọi là "phần không tan trong nước".
Các tinh thể chiếm khoảng 86% tổng lượng protein của thể thủy tinh và có thể
chia thành 3 nhóm chính: các tinh thể alpha, beeta và gama. Sắc kí gel cho
phép nhân nhóm beeta và gama thuộc cùng một họ và hiện nay thường được
gọi là những tinh thể beeta-gama.
Tinh thể alpha lớn nhất, có trọng lượng phân tử từ 600 đến 4000 kinh
doanh, tùy theo xu hướng kết tụ ở mức độ nhiều hay ít của các phân đơn vị.
Chúng chiếm 32% các protein của thể thủy tinh. Tinh thể alpha không phải là
một protein rời rạc mà là một hỗn hợp gồm nhiều kết tập phna tử lớn có kích
thước khác nhau, từ 4 phân đơn vị lớn và lên đến 9 phân đơn vị nhỏ. Trong
quá trình phát triển, có một sự bảo tồn rõ ràng trật tự chuỗi polypetit. Mỗi
phân đơn vị polypeptit có một trọng lượng phân tử khoảng 20000 dalton và
các chuỗi này được gắn với nhau bởi các liên kết hydro và các tương tác kị
nước. Tinh thể alpha hình như là protein đặc biệt liên quan với sự biến đổi tế
bào biểu mô thành sợi thể thủy tinh. Tốc độ tổng hợp tinh thể alpha trong tế

trong các màng sinh chất của tế bào sợi và tế bào biểu mô thể thủy tinh. Các
màng sinh chất của thể thủy tinh giống các màng của hồng cầu về nhiều mặt.
Các protein thể thủy tinh không tan trong nước có thể được chia thành hai
phần nhỏ, một phần tan và một phần không tan trong 8 ure mo (molar urea).
Chính phần không tan trong ure chứa các màng sinh chất của sợi thể thủy
tinh, màng này gắn với một số protein. Một protein trong số này tạo nên
khoảng 50% protein màng và được coi là polypeptit nội tại chủ yếu (MIP).
Khi tuổi tăng, protein này (có trọng lượng phân tử là 2800 dalton) sẽ phân ra
thành một protein 22000 đalton. Tỉ lệ của hai protein này trở thành gần cân
bằng ở tuổi 20-30. Protein 22000 dalton chiếm ưu thế ở nhân thể thủy tinh.
20
MIP đầu tiên xuất hiện trong thể thủy tinh khi các sợi bắt đầu kéo dài và có
thể tìm thấy ở trong màng, ở toàn bộ chất thể thủy tinh. Tuy nhiên, nó hoàn
toàn không thấy ở ở tế bào biểu mô và do đó dường như là nó gắn với sự biệt
hóa các tế bào sợi từ các tế bào biểu mô. MIP tập trung ở các liên kết hổng
(gap-junctions), đó là protein chủ yếu của các protein màng có nhiều liên kết.
Nó chắc chắn là một phần thuộc về màng mà người ta đã xác định được vị trí
của nó ở màng bằng phương pháp miễn dịch huỳnh quang. Đã có giả thuyết
cho rằng các protein thể thủy tinh trở nên không tan trong nước và két tụ
thành những hạt rất lớn, các hạt này tán xạ ánh sáng và gây ra đục thể thủy
tinh. Nhiều nhà nghiên cứu đã cố gắng cho thấy sự tương quan giữa mức
tăng tỷ lệ protein không tan trong nước với mức độ đục thể thủy tinh,
nhưng giả thuyết này vẫn còn chưa được thống nhất. Cần lưu ý rằng phần
protein không tan trong nước tăng lên theo tuổi, ngay cả khi thể thủy tinh
vẫn còn trong. Điều này cho thấy sự biến đổi từ các protein hòa tan thành
các protein không tan trong nước là một quá trình tự nhiên của sự trưởng
thành các sợi thể thủy tinh, nhưng có có thể gia tăng hoặc xảy ra quá mức ở
một số thể thủy tinh đục.
Trong những trường hợp đục thể thủy tinh mà nhân có màu nâu sẫm,
mức độ tăng protein không tan tường xứng với mức độ đục và tới 90%

thoái hóa các sợi TTT gây nên đục TTT trong đó bao TTT hầu như vẫn giữ
nguyên tính chất trong suốt. Nhờ đó một thấu kính nhân tạo thích hợp được
thay thế vào vị trí TTT nhằm phục hồi thị lực nhưng khả năng điều tiết của
mắt sẽ không còn nữa. Tính chất giải phẫu và sinh lý đặc thù đó giúp nghiên
cứu các bệnh lý, chỉ định điều trị thích hợp và các biện pháp dự phòng ngày
càng tốt hơn.
22
4. TÀI LIỆU THAM KHẢO
Tiếng Việt
[1] Nguyễn Xuân Nguyễn, Phan Dẫn, Thái Thọ, Giải phẫu mắt và sinh lý
thị giác, Nhà xuất bản Y học – 1996.
[2] Bộ môn mắt Đại học Y Hà Nội, thực hành nhãn khoa, nhà xuất bản U
học 2001, 90 – 131.
[3] Nguyễn Xuân Nguyên, Tôn Thất Hoạt, Nhãn khoa tập I, Nhà xuất bản y
học Hà Nội – 1972.
[4] Bộ môn sinh lý học chuyên đề sinh học – tài liệu dùng cho đối tượng sau
đại học, Đại học Y Hà Nội – 2001.
[5] Trịnh Văn Minh, Bộ môn giải phẫu, người (tập 1) phần IV: giải phẫu
đầu mặt cổ, Nhà xuất bản y học – 2001.
[6] Bộ môn vật lý – lý sinh , lý sinh y học, nhà xuất bản y học Hà Nội 1998.
[7] Lê Anh Triết, Lê Thị Kim Châu, Quang học lâm sàng và khúc xạ mắt,
nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh 1997.
Tiếng Anh
[8] American Academy of Ophthamology, Basic and Clinical Science
Course, Lens and cataract – section 11, USA – 2000.
[9] Hugh Davson, The EYe – Vol, l: Vegetative, physiology and
biochmistry, Physiology Department, Uinversity College london
England – 1989.
[10] Douglas J Rhee and Mark F Pyfer, The Will Eye Manual, third,
Editionm Wolter Kluwer, USA – 1999.

2.2.3 Sự điều tiết 14
2.2.4 Sự thay đổi thể thủy tinh theo tuổi 15
2.3. Sinh hóa thể thủy tinh 17
3. KẾT LUẬN 21
4. TÀI LIỆU THAM KHẢO 22
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
VŨ MẠNH HÀ
CHUYÊN ĐỀ 1:
GIẢI PHẪU VÀ SINH LÝ THỂ THỦY TINH
CHUYÊN NGÀNH: NHÃN KHOA
MÃ SỐ: 62.72.56.01


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status