1
2
LỜI MỞ ĐẦU
Nguồn vốn có vị trí hết sức quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của ngân
hàng, bởi nguồn vốn chính là cơ sở để ngân hàng thực hiện các chính sách và hoạt
động kinh doanh của mình. Nhìn vào nguồn vốn của một ngân hàng, ta có thể đánh
giá được phần nào uy tín cũng như năng lực cạnh tranh của ngân hàng đó.
Hiện nay, hệ thống ngân hàng Việt Nam có hàng trăm ngân hàng lớn bé khác
nhau, họ đang không ngừng cạnh tranh quyết liệt để giữ chân cũng như thu hút
nguồn vốn về phía mình. Cũng lãi suất như vậy, cũng dịch vụ như thế, các cá nhân
và tổ chức rất khó có thể ra quyết định. Đấy vừa là cơ hội, vừa là thách thức không
hề nhỏ đối với các ngân hàng. Câu hỏi được đặt ra ở đây là:
Làm thế nào để khách hàng lựa chọn mình để gửi tiền ?
Tại sao khách hàng lại rời bỏ mình để lựa chọn một ngân hàng khác?
Việc tìm kiếm nguồn vốn mới đã khó, làm thế nào để giữ chân được các nguồn
vốn cũ lại càng khó hơn. Một nghiên cứu đã chỉ ra rằng: chỉ mất 1 đồng để giữ chân
một khách hàng, nhưng nếu ta mất khách hàng đó thì sẽ phải bỏ ra đến 6 đồng để
tìm kiếm một khách hàng mới. Điều đó cho thấy việc duy trì khách hàng hiện tại
của ngân hàng là một việc vô cùng quan trọng. Vậy làm thế nào để giữ chân được
khách hàng trước những lời mời chào vô cùng hấp dẫn từ các đối thủ cạnh tranh?
Trên cơ sở lý luận thu được ở khi học ở trường và kinh nghiệm thu được khi
thực tập tại ngân hàng Ngoại thương Việt Nam chi nhánh Thanh Hóa, em đã quyết
định lựa chọn đề tài: “Thực trạng và giải pháp đối với vấn đề huy động vốn dân
cư tại ngân hàng Vietcombank Chi Nhánh Thanh Hóa”. Chuyên đề đi sâu vào
phân tích thực trạng huy động vốn dân cư của ngân hàng, chỉ ra những đạt được và
hạn chế từ đó đưa ra một số giải pháp nhằm cải thiện vấn đề huy động vốn từ dân
cư tại Chi nhánh Thanh Hóa.
Kết cấu của đề tài bao gồm 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề về huy động vốn từ dân cư của ngân hàng thương mại.
Chương 2: Thực trạng huy động vốn dân cư tại Vietcombank Thanh Hóa.
Chương 3: Giải pháp tăng cường huy động vốn dân cư tại Chi nhánh.
+ Vốn điều lệ: Đây là số vốn ban đầu của một Ngân hàng thương mại, là tiêu
chuẩn được thành lập và đi vào hoạt động của NHTM. Về mặt quy mô thì vốn điều
lệ lớn hơn hoặc bằng vốn pháp định.
4
Vốn điều lệ có thể do ngân sách Nhà nước cấp (đối với vốn NHTM quốc
doanh), có thể do các thành viên đóng góp dưới hình thức mua cổ phiếu (đối với
NHTM cổ phần) hoặc vốn điều lệ có thể do cá nhân tự bỏ vốn ra (đối với Ngân
hàng tư nhân).
Loại vốn này nói lên quy mô hoạt động và khat năng cạnh tranh ban đầu của
Ngân hàng. Các Ngân hàng thương mại có trách nhiệm bảo toàn và phát triển vốn
này (đối với NHTM quốc doanh).
+ Vốn tích lũy: Vốn này được hình thành trong quá trình hoạt động của Ngân
hàng thông qua việc trích nộp các quỹ. Cứ mỗi Ngân hàng căn cứ vào kết quả hoạt
động của mình mà trích một phần lợi nhuận nhằm bổ xung vào vồn tự có của Ngân
hàng. Tuy nhiên, tỷ lệ này lại tuỳ thuộc vào quy định của từng nước.
* Vốn dự trữ :
Theo quy định chung của các NHTM đều phải mở tài khoản tại các Ngân
hàng trung ương và nộp vào đó các khoản dự trữ bao gồm :
- Dự trữ tối thiểu pháp định.
- Dự trữ để đảm bảo các hoạt động của Ngân hàng.
- Các khoản dự trữ đặc biệt được pháp luật qui định.
* Nguồn vốn điều hoà trong hệ thống.
Vì các NHTM hoạt động trên các địa bàn khác nhau nên luôn luôn xuất hiện
tình trạng ở Ngân hàng này có hiện tượng thừa vốn do huy động nhiều nhưng không
sử dụng hết, trong khi đó Ngân hàng kia lại thiếu vốn. Sở dĩ có tình trạng này là do :
Về phía Ngân hàng thừa vốn có thể do sự biến động lớn ở thị trường đầu ra dẫn đến
việc không mở rộng được hoạt động trong khi vẫn phải duy trì việc huy động vốn vì
mục đích giữ khách hàng. Còn về phía bên Ngân hàng thiếu vốn do thị trường đầu
ra mở rộng trong khi thị trường đầu vào không thể mở rộng được hơn nữa, dẫn đến
tình trạng thiếu vốn. Chính lúc này Ngân hàng trung ương hoặc các hội sở chính sẽ
Nguồn vốn là một trong những cơ sở quan trọng nhất cho hoạt động kinh
doanh của ngân hàng thương mại đặc biệt là nguồn vốn huy động được vì nó chiếm
tỷ trọng rất lớn trong cơ cấu nguồn vốn ở các ngân hàng. Các nguồn vốn huy động
được sẽ quyết định quy mô cũng như định hướng hoạt động của ngân hàng. Nếu
nguồn vốn được coi là yếu tố đầu vào trong quá trình kinh doanh của một NHTM
thì nguồn vốn huy động được coi là yếu tố đầu vào thường xuyên, chủ yếu nhất của
ngân hàng. Ngân hàng thực hiện các nghiệp vụ tín dụng, đầu tư chủ yếu dựa vào
nguồn này.
Nguồn vốn huy động có ảnh hưởng lớn tới kết quả hoạt động kinh doanh của
NHTM. Cụ thể, nếu ngân hàng huy động được nguồn vốn dồi dào với chi phí thấp
nó có thể mở rộng được tín dụng đầu tư và thu được lợi nhuận cao. Ngược lại, với
quy mô hạn chế và chi phí cao thì ngân hàng có thể gặp khó khăn trong hoạt động
kinh doanh của mình. Chi phí huy động vốn của ngân hàng liên quan chặt chẽ với
Vốn đi vay của tài chính n dụng
Tiền gửi của
khách hàng
Vốn phát hành
Nguồn vốn huy động của
Ngân hàng thương mại
Tiền ết kiệmTiền ký gửi
Phát hành trái phiếu
Phát hành kỳ phiếu
Ký gửi có
kỳ hạn
Ký gửi không kỳ hạn
Gửi rút ra phải báo trước
Gửi để dành có hạn
6
lãi suất tiền gửi các loại, lãi suất tiền gửi tiết kiệm các loại và lãi suất các công cụ
nợ do ngân hàng phát hành. Nguồn vốn huy động không những giúp cho ngân hàng
quản tiền vàng. Đây là hình thức ban đầu của nghiệp vụ ký gửi. Hiện nay có rất
nhiều loại tiền ký gửi. Đó là nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi trong tài khoản của các cơ
quan xí nghiệp. Để có được tuận lợi trong sản xuất kinh doanh các cơ sở kinh tế có
thể lựa chọn một hay nhiều Ngân hàng thương mại để giao dịch nhằm giải quyết
việc thu chi chuyển tiền thanh toán và các dịch vụ tài chính khác.
8
Xét về mặt nghiệp vụ Ngân hàng thì tiền ký gửi có thể phân thành hai loại
chính đó là :
Tiền gửi không kỳ hạn : Đây là số tiền nằm trong tài khoản vãng lai hoặc
tài khoản thanh toán và có thể rút ra vào kỳ lúc nào. Pháp luật một số nước không
cho phép tính lãi đối với tiền tạm thời nhãn rỗi trong tài khoản cơ quan xn. Tuy
nhiên, cũng có nước cho phép tính lãi nhưng rất thấp.
Tiền gửi không kỳ hạn trước hết được dùng để thanh toán vãng lai, vịec
thanh toán vãng lai này có thể tiến hành dưới dạng tiền mặt, séc hoặc uỷ nhiệm chi.
Sau khi mở tài khoản thanh toán tại Ngân hàng, chủ tài khoản phải giao cho Ngân
hàng quyền ghi chép, theo dõi các nghiệp vụ phát dinh trên tài khoản của họ ở Ngân
hàng. Chi phí hoạt động này của Ngân hàng khá lớn nhưng trên thực tế Ngân hàng
có thể bù đắp được khoản chi phí này qua việc sử dụng số dư các tài khoản này để
cho vay lại, và đây chính là nguồn mang lại lợi nhuận lớn cho Ngân hàng.
Tiền gửi không kỳ hạn có thể để ở tài khoản vãng lai hay tài khoản tiền gửi.
Hai loại tài khoản này khác nhau ở chỗ nếu để ở tài khoản tiền gửi thì chủ tài khoản
được sử dụng số thực của mình nghĩa là tài khoản khách hàng phải luôn luôn dư có.
Loại tài khoản này thuận lợi, an toàn, tuy có lãi suất thấp, thuận tiện trong thanh
toán (có thể chuyển đổi thành tiền mặt 100%) nên đây là loại tài khoản rất hấp dẫn
khách hàng, tạo ra một lượng vốn lớn phục vụ hoạt động tín dụng của Ngân hàng.
Nếu ở tài khoản vãng lai thì chủ tài khoản có thể rút tài khoản ra bất cứ lúc nào
hoặc tạm vay trong thời hạn nhất định vì tài khoản có thể dư nợ hoặc dư có. Nhưng
trên thực tế hiện này trong các tài khoản tiền gửi cũng có thể dư nợ nếu có sự thoả
thuận trước giữa khách hàng và Ngân hàng.
Đối với tài khoản vãng lai có hai loại lãi suất được áp dụng đồng thời: lãi
về thời hạn hoàn trả tiền ký gửi cho khách hàng, vì vậy đấy là một nguồn rất quan
trọng, có độ ổn định cao của Ngân hàng.
b) Tiền gửi tiết kiệm:
Ở các nước trên thế giới, nhất là các nước công nghiệp hoá phát triển tiền tiết
kiệm là loại tiền có số lượng lớn thứ hai trong số các loại tiền gửi vào Ngân hàng.
Đặc điểm của loại tiền gửi này là người gửi tiền được giao cầm sổ tiết kiệm, sổ này
được coi như là giấy chứng nhận việc gửi tiền vào Ngân hàng của khách hàng. Gửi
10
tiết kiệm là những người có được một số tiền tích luỹ bằng ngoại tệ hay nội tệ nhất
định và muốn tích luỹ số tiền này theo kiểu “tích tiểu thành đại”, Hoặc do số tiền
của họ không đủ lớn để đầu tư sản xuất kinh doanh, hoặc người chủ không có khả
năng hoặc không thích kinh doanh, khi đó họ sẽ đến Ngân hàng để gửi tiền.
Tiền gửi tiết kiệm chia làm 2 loại :
- Gửi tiền có kỳ hạn.
- Gửi tiền không kỳ hạn.
Gửi tiền có kỳ hạn : nghĩa là gửi tiền theo một thời gian nhất định đến một ngày
mới trả lại cho người gửi tiền. Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn 3 tháng, 6 tháng, 9
tháng, 12 tháng Với loại tiền gửi này tuỳ theo pháp luật của từng nứoc mà sẽ có
những quy định cụ thể khác nhau về việc rút tiền. Đối với loại gửi tiền này thì người
gửi tiền và quỹ tiết kiệm không phải thoả thuận trước về thời hạn rút tiền mà cả hai
bên đều phải tuân thủ những quy định của pháp luật. Ví dụ như : trong một thời hạn
nhất định người gửi tiền chỉ được rút ra một số tiền nhất định, muốn rút số tiền lớn
hơn phải báo trước cho Ngân hàng trong một khoảng thời gian nhất định được quy
định.
Gửi tiền không kỳ hạn: đây là hình thức gửi tiền mà thời hạn rút do bên người gửi
và Ngân hàng tự thoả thuận. Đối với tiền gửi này các Ngân hàng thuộc cấc thành
phần như nhân dân lao động, công nhân viên chức, học sinh, các khoản tiền này chủ
yếu là để dành dụm nhằm trang trải chi tiêu cần thiết, đồng thời có một khoản tiền
lãi bù đắp co sịnh hoạt hàng ngày. Trong trường hợp đa số thời hạn báo trước là một
vài ngày kể từ sau thời hạn thoả thuận rút tiền ban đầu.
tiền tiết kiệm nhứng thay vì được phát một quyển sổ tiết kiệm người mở tài khoản
sẽ được cấp một tập séc. Mọi khoản thanh toán của họ có thể thực hiện dưới hình
thức phát séc.
• Vốn đi vay của các tổ chức tín dụng :
Trong thực tế , các Ngân hàng thương mại luôn có sự không cân đối giữa
nguồn vốn huy động và nguồn vốn sử dụng, vì vậy khi thiếu vồn đột xuất Ngân
12
hàng thương mại có thể vay của các tổ chức tín dụng khác thông qua thị trường liên
Ngân hàng.
Thị trường này giúp cho Ngân hàng thương mại bổ sung nguồn vốn cho
nhau, giải quyết nhanh nhu cầu thiếu hụt trong thanh toán vủa nền kinh tế. Hoạt
động của thị trường này nhằm tận dụng đến mức cao nhất các khả năng sẵn có một
cách triệt để trước khi cần yêu cầu đến tiền trung ương.
Tỷ trọng của nguồn này trong tổng nguồn vốn phản ánh quan hệ của Ngân
hàng với các tổ chức tài chính khác và chất lượng công tác thanh toán của Ngân
hàng bởi nếu tỷ trọng của nguồn này lớn, chứng tỏ rằng Ngân hàng rất có uy tín
trong quan hệ thanh toán cả đối với khách hàng và đối với các tổ chức tín dụng
khác.
Ở nước ta hoạt động của thị trường liên Ngân hàng còn hạn chế về quy mô
hoạt động , do đó khó khăn chung về nguồn vốn vủa cả hệ thống và thiều các định
chế thích hợp.
• Vốn phát hành:
Vốn phát hành của Ngân hàng thuộc loại : “ chủ động thu gom” đây là hình
thức huy động thông qua phát hành kỳ phiếu, trái phiếu. Những hình thức huy động
vốn ở trên đựoc xếp vào loại “bị động thu gom”. Xét về bản chất thì hai loại này
không khác nhau nhiều, tuy nhiên nó khác nhau ở chỗ :
1* Lãi suất “vốn chủ động đi vay” cao hơn lãi suất tiền gửi tiết kiệm.
2* “vốn chủ động đi vay” được huy động theo sáng kiến của từng Ngân
hàng, đây là khoản tiền nhận gửi có bảo đảm ché không phải tiền gửi đơn thuần.
Vốn này cũng thuộc loại tín dụng dài hạn, trung hạn, ngắn hạn.
lệ dự trữ và tỷ lệ cho vay ,vốn huy động từ các tổ chức tín dụng khác và của các tổ
chức kinh tế xã hội thường không ổn định do sự di chuyển liên tục của dòng tiền
trong nền kinh tế, còn vốn chủ sở hữu có chi phí sở hữu rất lớn nên không cho hiệu
quả cao khi cho vay. Trong khi đó, vốn huy động từ dân cư có được tính chất ổn
định cho người dân khi gửi tiền vào NHTM thường do mục địch tích lũy để tiêu
14
dùng những việc lớn hơn trong tương lại, nên NH có kế hoạch và có thể dự báo
được thời điểm tăng giảm của nó.
Vốn huy động từ dân cư là nguồn vốn có thời hạn tương đối dài, là tiền đề để
NHTM cho vay trung và dài hạn, điều nay được quy định bởi hành vi tích lũy của
người dân khi gửi tiền hay cho NHTM vay, các nguồn khác như vay từ NHNN và
các tổ chức kinh tế xã hội thì thời hạn là rất ngắn hoặc không có kỳ hạn do việc sử
dụng thường xuyên vốn của các tổ chức này.
1.2.1. Vai trò của huy động vốn từ dân cư:
Vai trò đối với Xã Hội: huy động tiền gửi dân cư tăng cường tiết kiệm và
giảm chi tiêu, tạo công ăn việc làm cho người lao động , tăng cường sản xuất
kinh doanh, tiết kiệm chi phí phát hành và lưu thông tiền mặt cho xã hội.
Vai trò đối với người dân: Tăng thêm thu nhập cho người dân thông qua
khoản thu nhập từ lãi, chênh lệch mua bán các loại chứng từ có giá, thu nhập
từ quà tặng của hình thức tiết kiệm dự thưởng
Vai trò đối với NHTM: giúp tăng cường nguồn vốn của NHTM, là tấm đệm
cho hoạt động kinh doanh của NH, dân cư không chỉ là đối tượng hoạt động
của NHTM mà còn là khách hàng của NHTM từ đó giúp cho hoạt động kinh
doanh của NH trở nên có hiệu quả.
1.2.3. Các hình thức huy động vốn dân cư của NHTM:
• Huy động vốn dưới hình thức chứng chỉ tiền gửi
• Huy động vốn dưới hình thức phát hành kỳ phiếu và trái phiếu
Kỳ phiếu: đây là hình thức huy động nợ ngắn hạn với khối lượng lớn của NH,
lãi suất thông thường của kỳ phiếu cao hơn lãi suất tiền gửi tiết kiệm, trả lãi trước
và sau kỳ phiếu có thời gian ngăn hơn, tính lỏng cao hơn trái phiếu nên được thị
ngân hàng sẽ giảm.
Cơ chế chính sách của Nhà Nước
Hoạt động huy động tiền gửi từ dân cư chịu ảnh hưởng rất lớn bởi cơ chế của
Nhà nước, trước hết là hành lang pháp lý có ảnh hưởng đến tất cả mọi hoạt động
của NH trong đó có hoạt động huy động vốn tiền gửi từ dân cư như luật tổ chức tín
dụng, luật NHNN…
16
VD các luật đó quy định hệ số an toàn vốn tối thiểu của một NHTM bé hơn bằng
8%, hoặc đối với tiền gửi thì các NHTM phải thành lập dự trữ. Ngoài ra hoạt động
huy động vốn từ dân cư còn chịu ảnh hưởng của chính sách tiền tệ qua hai công cụ
chủ yếu là lãi suất chiết khấu và tỷ lệ dự trữ bắt buộc: Chính sách tiền tệ gián tiếp
điều chỉnh lãi suất huy động vốn từ dân cư của NHTM, nếu chính sách tiền tệ nhằm
chống lại lạm phát thì NHNN cung ứng tiền ra lưu thông với lãi suất tái chiết khấu
làm hạn chế việc đi vay của NHTM, dẫn đến các NHTM tích cực hơn trong việc
huy động vốn từ dân cư, do đó có thể làm lãi suất huy động vốn từ dân cư tăng và
ngược lại. Khi NHNN điều chỉnh tỷ lệ dự trữ bắt buộc sẽ làm thắt chặt hoặc nới
lỏng khả năng tạo tiền của các NHTM do đó ảnh hưởng đến lãi suất huy động vốn
từ dân cư. Hơn nữa mục tiêu của các chính sách tiền tệ là kiểm soát lạm phát bình
ổn giá cả, tăng trưởng kinh tế, tạo công ăn việc làm , chính sách tiền tệ làm tăng
thêm thu nhập cho người dân, từ đó dân cư có thêm khoản tiền nhàn rỗi để gửi vào
NH nhằm mục đích sinh lời.
Thói quen tập quán và thu nhập của dân cư
Ngân hàng là nơi mà khách hàng rất tin tưởng nên khách hàng giao túi tiền của
mình cho NH nhằm thực hiện các mục đích khác nhau như, đảm bảo an toàn chi
tiền bạc của mình hoặc nhằm sinh lãi, hoặc hưởng các dịch vụ của NH … Cho nên
ta thường ví NH như người nắm túi tiền của nền kinh tế. Nếu NH không được người
dân tin tưởng thì NH không thể thực hiện được vai trò là trung gian tài chính và
chắc chắn là sẽ không phát triển
Thói quen tiêu dùng của người dân ảnh hưởng rất lớn đến công tác huy đông
vốn của các NH, đặc biệt là tập quán sử dụng tiền tệ. Nếu người dân có thói quên sử
phong phú, chất lượng hoạt động dịch vụ chưa cao, hệ thống màng lưới còn ít, chưa
thuận lợi cho khách hàng trong việc giao dịch với ngân hàng, thì nó sẽ ảnh hưởng
không tốt tới huy động vốn của ngân hàng .
Hiện nay với sự đổi mới sâu sắc của ngành ngân hàng, các ngân hàng thương
mại không ngừng đổi mới về khoa học, công nghệ, về phong cách giao dịch, mở
rộng các hoạt động dịch vụ phục vụ khách hàng, phát triển thêm mạng lưới hoạt
động từ chi nhánh cấp 3, cấp 4, các ngân hàng lưu động, và các ngân hàng hoạt
động trong các lĩnh vực công nghiệp, nông nghiệp, kinh doanh dịch vụ
Chất lượng hoạt động tín dụng
18
Hoạt động tín dụng ngân hàng đóng vai trò quan trọng trong việc huy động tiền
gửi vào hệ thống ngân hàng, nghiệp vụ huy động vốn làm nhiệm vụ khơi tăng các
nguồn vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế, thì nghiệp vụ sử dụng vốn thực hiện sử dụng
các nguồn vốn đó vào sản xuất, kinh doanh, dịch vụ để đem lại khả năng sinh lời,
thu lợi nhuận về cho ngân hàng .Do vậy nếu nghiệp vụ sử dụng vốn không hiệu quả
tất yếu dẫn đến việc huy động vốn bị thu hẹp lại . Khi sử dụng vốn kém hiệu quả,
làm thất thoát vốn nhiều dẫn đến lòng tin của dân chúng vào ngân hàng bị giảm đi .
Từ đó sẽ rất khó khăn cho các hình thức huy động các nguồn vốn nhàn rỗi . Mặt
khác hoạt động tín dụng hiệu quả tạo cho các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế
kinh doanh có hiệu quả, thu nhập xã hội ngày càng tăng, tỷ lệ thất nghiệp giảm, đời
sống của dân cư ngày càng nâng cao, nguồn vốn nhàn rỗi ngày càng tăng, tạo cho
nguồn vốn ngân hàng huy động ngày càng tăng trưởng để thực hiện đầu tư cho các
chu kỳ sản xuất tiếp theo .
Uy tín của ngân hàng.
Có thể gọi đây chính là tài sản vô hình của ngân hàng. Uy tín bao gồm uy tín của
ngân hàng trong toàn hệ thống, của các thành viên trong hội đồng quản trị, ban giám
đốc. Sự nổi tiếng của ngân hàng là tài sản quý trong công tác huy động vốn vì trong
lòng thị trường ngân hàng đã tạo một hình ảnh riêng, khi đó khách hàng sẽ tin tưởng
vào ngân hàng, giúp ngân hàng có khả năng ổn định khối lượng vốn huy động, tiết
kiệm chi phí huy động (thực tế khi ngân hàng có tiếng tăm, họ dễ dàng thu hút vốn
việc của cán bộ ngân hàng tốt, nhiệt tình, cởi mở, tạo thuận lợi cho khách hàng sẽ
gây được ấn tượng tốt đối với khách hàng, thu hút được nhiều khách hàng hơn. Thái
độ phục vụ của cán bộ ngân hàng đối với khách hàng có ảnh hưởng lớn đến việc
huy động vốn cho ngân hàng. Do đó, để thu hút khách hàng gửi tiền, đi đôi với việc
trau dồi kiến thức, nghiệp vụ, cán bộ ngân hàng phải thường xuyên chú ý đến thái
độ phục vụ của mình sao cho vừa lòng khách hàng .
Công tác quảng cáo , khuyến mãi…
Các ngân hàng thương mại hiện nay đã từng bước học tập và ứng dụng nghệ
thuật thông tin quảng cáo, các hình thức khuyến mãi…Tuy việc đầu tư cho công tác
20
này còn hạn chế, nhưng có thể nói đây cũng là mặt mạnh của ngành ngân hàng
trong việc cạnh tranh để huy động tiền gửi. Thông tin quảng cáo, tiếp thị khuyến
mại, các dịch vụ hậu mãi rõ ràng sẽ phát triển mạnh mẽ trong cơ chế thị trường. Và
tuỳ vào chu kỳ sống của sản phẩm dịch vụ mà ngân hàng cung cấp để các nhà quản
trị ngân hàng chọn thời điểm, thời gian sử dụng, chiến lược quảng cáo khuyến mãi
cũng như hậu mãi phù hợp làm giảm hiệu quả hoạt động huy động vốn của ngân
hàng.
Chương 2: Thực trạng huy động vốn dân cư tại ngân hàng Vietcombank
Thanh Hóa
2.1 Khái quát chung về Vietcombank Thanh Hóa
2.1.1.Quá trình phát triển và Bộ máy tổ chức hiện nay
Ngày 26/02/2010, chi nhánh Ngân hàng TMCP Ngoại thương Thanh Hóa
được thành lập theo quyết định số 88/HĐQT - TCCBĐT của Chủ tịch HĐQT Ngân
hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam.
Cùng với những tín hiệu khởi sắc của nền kinh tế Việt Nam trong thời kỳ đổi
mới, hoạt động kinh doanh của VCB Thanh Hóa đã có những bước phát triển khả
quan, đã thực hiện đạt và vượt các chỉ tiêu kế hoạch về tín dụng, huy động vốn, lợi
nhuận, trích lập dự phòng rủi ro. Với 2 năm xây dựng và trưởng thành, VCB Thanh
Hóa đã vượt qua nhiều khó khăn, thử thách, đi tiên phong trong cơ chế thị trường,
phục vụ và góp phần tích cực thực hiện đường lối, chính sách đổi mới của Đảng và
Thanh toán uỷ nhiệm thu, uỷ nhiệm chi, séc.
Chi trả lương cho doanh nghiệp qua tài khoản, qua ATM
Chi trả Kiều hối…
Ngân quỹ:
Mua, bán ngoại tệ (Spot, Forward, Swap…)
22
Mua, bán các chứng từ có giá (trái phiếu chính phủ, tín phiếu kho bạc, thương
phiếu…)
Thu, chi hộ tiền mặt VNĐ và ngoại tệ
Cho thuê két sắt; cất giữ bảo quản vàng, bạc, đá quý, giấy tờ có giá, bằng phát minh
sáng chế.
Thẻ và ngân hàng điện tử:
Phát hành và thanh toán thẻ tín dụng nội địa, thẻ tín dụng quốc tế (VISA, MASTER
CARD…)
Dịch vụ thẻ ATM.
Internet Banking, Phone Banking, SMS Banking.
Hoạt động khác:
Khai thác bảo hiểm nhân thọ
Tư vấn đầu tư và tài chính
Cho thuê tài chính
Môi giới, bảo lãnh phát hành, quản lý danh mục đầu tư, tư vấn, lưu ký chứng khoán
Để hoàn thiện các dịch vụ liên quan hiện có nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao
của khách hàng, đồng thời tạo đà cho sự phát triển và hội nhập với các nước trong
khu vực và quốc tế, VCB Thanh Hóa đã đưa ra tầm nhìn chiến lược trong đầu tư và
phát triển, tập trung ở 3 lĩnh vực:
• Phát triển nguồn nhân lực
• Phát triển công nghệ
• Phát triển kênh phân phối
Bộ máy tổ chức của Vietcombank Thanh Hóa:
• Tổng số lao động của chi nhánh là 43 lao động.
o Tác nghiệp Kế toán – Thanh toán: 03 nhân viên, trình độ chuyên môn:
Đại học.
o Nhóm tác nghiệp tín dụng: 02 nhân viên, trình độ chuyên môn: Đại
học.
2.1.2. Tình hình hoạt động kinh doanh:
• Tình hình chung:
Là chi nhánh mới được thành lập, ban đầu hoạt động của Vietcombank Thanh Hóa
còn gặp nhiều khó khăn về cơ sở vật chất, số lượng CBNV còn ít và chưa có nhiều
kinh nghiệm. Với sự quyết tâm, nỗ lực của toàn thể cán bộ, nhân viên, hoạt động
của chi nhánh đã nhanh chóng đi vào ổn định và đạt được nhiều kết quả khả quan.
Một số chỉ tiêu đạt được tính đến ngày 31/12/2012:
Dư nợ tín dụng đạt: 671,8 tỷ VNĐ (tỷ giá quy đổi: 1 USD = 20.803 VNĐ)
Huy động vốn đạt: 245 tỷ VNĐ.
Thanh toán xuất nhập khẩu đạt: 4.377.661 USD
Trong đó: + Doanh số thanh toán xuất nhập khẩu: 5.074.454 USD
+ Doanh số chuyển tiền: 403.207 USD.
24
Hoạt động thẻ:
+ Số thẻ phát hành: 4.493 thẻ.
+ Doanh số thanh toán:
Quốc tế: 22.839 USD, 1.887.959.818 VNĐ
Nội địa: 28.985.018 VNĐ.
Tổng số máy ATM: 09 máy.
Tổng thu nhập: 78.692.082.584 VNĐ
Tổng chi phí: 74.940.591.611 VNĐ
Lợi nhuận: 3.751.490.973 VNĐ.
Thông qua việc phân tích 3 chỉ tiêu: thu nhập, chi phí, lợi nhuận, ta sẽ thấy được
một cách khái quát tình hình hoạt động kinh doanh của VCB Thanh Hóa từ năm
2010 đến nay.
Bảng 2: Thu nhập, chi phí, lợi nhuận của VCB Thanh Hóa năm 2010, 2011
nghiệp bị đình trệ, thị trường tài chính – tiền tệ bất ổn… Năm 2011 cùng là một
năm ngành ngân hàng phải đối mặt với nhiều khó khăn, thử thách lớn như: nợ xấu
tăng cao, thanh khoản căng thẳng ở một số ngân hàng, lãi suất, tỷ giá và giá vàng
biến động phức tạp. Đây cũng là năm tiền đề để cải cách hệ thống ngân hàng. Tuy
nhiên, với sự đồng tâm hiệp lực, nỗ lực hết mình của Ban lãnh đạo cũng như CBNV
Vietcombank Thanh Hóa, cùng với đó là sự hỗ trợ nhiệt tình của Vietcombank
(HSC), hoạt động của Chi nhánh đã dần đi vào ổn định, tạo được hình ảnh và sự tin
tưởng đối với không ít khách hàng.
VCB Thanh Hóa đã đạt được những kết quả kinh doanh khả quan: thu nhập của
VCB Thanh Hóa tăng lên con số 78.692,08 triệu đồng, tăng 69.290,37 triệu đồng
(tương đương 737%) so với năm 2010; trong đó Thu nhập từ lãi và các khoản thu
nhập tương tự đã là 76.986,98 triệu đồng, chiếm đến 97,83% tổng thu nhập của Chi
nhánh, phần còn lại là Thu nhập từ hoạt động dịch vụ, hoạt động kinh doanh ngoại
hối và các hoạt động khác. Tỷ trọng các khoản thu nhập này là hợp lý khi mà hoạt
động tín dụng, huy động vốn là hoạt động chủ yếu đối với một ngân hàng thương
mại như Vietcombank Thanh Hóa.
Tổng chi phí của Chi nhánh năm 2011 là 74.940,59 triệu đồng, tăng 62.416,28 triệu
đồng, tương đương với tăng 498,36% so với năm 2010, điều này là hoàn toàn hợp
lý khi mà hoạt động kinh doanh của VCB Thanh Hóa đã có nhiều chuyển biến tích
cực, doanh số huy động vốn tăng, hoạt động kinh doanh ngoại tệ và các hoạt động
khác cũng phát triển hơn. Nhìn vào Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của VCB
Thanh Hóa, ta có thể thấy chi phí tăng chủ yếu do sự tăng lên đáng kể của khoản
mục Chi phí lãi và các chi phí tương tự (54.799,11 triệu đồng). Nếu như năm 2010,
chi phí này chỉ là 5.149,71 triệu đồng, thì năm 2011, nó đã tăng thêm 49.649,4 triệu
đồng, đây cũng là khoản mục chiếm đến 73,12% tổng chi phí của ngân hàng trong