ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
*****
TÊN HỌC VIÊN:
NGUYỄN ĐOÀN BẢO TUYỀN
LỚP CAO HỌC VĂN HÓA 2001-2004
BÁO CÁO KHOA HỌC
Tên đề tài:
THỬ ĐƯA RA CÁCH GIẢI THÍCH
VỀ SẮC THÁI RIÊNG TRONG MỘT SỐ
CÁCH XƯNG HÔ CỦA NGƯỜI VIỆT NAM BỘ
TP. HỒ CHÍ MINH 11 - 2013
- 1 -
The Summary
The Summary
of the Scientific Report
of the Scientific Report
Topic:
The suggesting explanation of the particular nuance in some ways of the
Southern Vietnamese people ‘s appellation
INTRODUCTION:
Introduce generally the basic specific characteristics in the field of Vietnamese
‘s communication.
The particular nuance of the Southern Vietnamese ‘s appellation in the
communicative field is an interesting subject which needs studying and researching
with the point of cultural views.
CONTENT:
Present some ways of the Southern Vietnamese’s appellation. Introduce the
explanation of its formation basis, existence and development .
1/ The personal pronouns relating to the mother.
2/ The personal pronouns relating to the father.
PHẦN KẾT LUẬN:
Từ những luận cứ được nêu trong phần nội dung, đi đến kết luận về những cơ
sở hình thành, tồn tại và phát triển các sắc thái riêng trong cách xưng hô của người
Việt Nam Bộ.
Đề nghị: Vấn đề được đặt ra trong bài báo cáo khoa học này và một số vấn đề
khác có liên quan về sắc thái riêng trong cách xưng hô của người Việt Nam Bộ cần
được giới khoa học trong ngành văn hóa học nghiên cứu bằng một công trình
nghiên cứu khoa học hoàn chỉnh.
- 3 -
PHẦN MỞ ĐẦU
PHẦN MỞ ĐẦU
Xét dưới góc độ cấu trúc của hệ thống văn hóa, giao tiếp là một vấn đề thuộc
tầm vi mô, liên quan đến cuộc sống của mỗi cá nhân trong cộng đồng. Giao tiếp
cùng với phong tục, tín ngưỡng và các loại hình nghệ thuật đều là những lĩnh vực
thuộc bộ phận tổ chức đời sống cá nhân trong thành tố văn hóa tổ chức cộng đồng –
một trong bốn thành tố của mỗi hệ thống văn hóa. Những lĩnh vực này có tác dụng
làm cho cuộc sống mỗi cá nhân được tổ chức quy củ hơn, đồng thời cũng phong
phú hơn, “người” hơn.
(1)
Trong đời sống sinh hoạt cộng đồng, các cá nhân đều có nhu cầu giao tiếp với
mọi người xung quanh, hình thức giao tiếp chủ yếu bằng ngôn từ. Bản chất con
người chỉ bộc lộ ra trong giao tiếp. Là cư dân nông nghiệp, cần sống phụ thuộc lẫn
nhau, nên người Việt Nam rất coi trọng việc gìn giữ các mối quan hệ tốt với mọi
thành viên trong cộng đồng. Chính tính cộng đồng đã khiến người Việt Nam đặc
biệt coi trọng việc giao tiếp nhằm tạo ra quan hệ, củng cố tình thân.
Về quan hệ giao tiếp, nguồn gốc văn hóa nông nghiệp với các đặc điểm trọng
tình: lấy tình cảm (lấy sự yêu sự ghét) làm nguyên tắc ứng xử. Trong cuộc sống,
người Việt Nam sống có lý có tình nhưng vẫn thiên về tình hơn. Người Việt Nam
luôn nhắc nhở nhau coi trọng tình cảm hơn mọi thứ trên đời, không riêng gì trong
gia đình mà cả ngoài xã hội.
người Việt Nam Bộ. Cách xưng hô của người Việt ở đây vẫn giữ được đầy đủ các
đặc điểm giao tiếp của người Việt Nam nói chung, nhưng đồng thời cũng biểu hiện
rõ nét sắc thái đặc thù của vùng đất mới.
Sắc thái riêng ở cách xưng hô trong lĩnh vực giao tiếp là một vấn đề rất hấp
dẫn nhưng cũng không kém phần phức tạp. Các nghiên cứu từ trước đến nay về văn
hóa Nam Bộ đã có nhiều công trình nghiên cứu, trong đó có đề cập đến phương ngữ
Nam Bộ. Tuy nhiên chưa có cách lý giải nào được đưa ra thật đầy đủ để làm sáng tỏ
vấn đề đáng quan tâm mà chúng tôi vừa nêu.
Trong bài báo cáo khoa học này, chúng tôi mạnh dạn đưa ra một số cách giải
thích. Luận cứ tập trung chủ yếu vào điều kiện môi trường xã hội – lịch sử đã hình
thành và vẫn đang tiếp tục tồn tại trong suốt hơn 300 năm qua trên vùng đất Nam
Bộ. Rất mong được sự góp ý, chỉ dẫn nhiệt tình của các nhà nghiên cứu khoa học và
những ai quan tâm đến văn hóa vùng đất Nam Bộ của chúng ta.
PHẦN NỘI DUNG
PHẦN NỘI DUNG
- 5 -
I/ CÁCH XƯNG HÔ CỦA NGƯỜI VIỆT NAM BỘ THIÊN VỀ NHỮNG TỪ
CHỈ QUAN HỆ BÊN MẸ:
Chúng ta có thể dễ dàng nhận ra trong cách xưng hô của người Việt Nam Bộ
khi muốn thể hiện tình thân mật và kính trọng đối với những người chưa quen hoặc
chưa rõ mối quan hệ nhưng có tuổi tác lớn hơn, thì thường thiên về những từ chỉ
quan hệ bên mẹ:
Đối với người phụ nữ lớn hơn mình một cấp thì thường gọi bằng dì và xưng
con hoặc tui. Nếu biết rõ thứ thì gọi đúng thứ. Nếu không biết rõ thứ thì
thường gọi bằng dì Hai để tăng thêm phần kính trọng. Với người phụ nữ
lớn hơn mình hai cấp thì gọi bằng bà, bà Hai hoặc gọi đúng thứ. Khi thể
hiện tình thân mật và kính trọng hơn nữa thì gọi là ngoại, bà ngoại và xưng
là con (không nên gọi thứ như bà Ba, bà Tư,… nếu không biết rõ thứ, ở
những trường hợp này không nên xưng tui vì như vậy là vô phép). Kiêng
gọi bà nội, vì gọi vậy là không kính trọng.
người nhỏ tuổi hơn mình bằng bác (là cách gọi thay cho con ở Bắc Bộ).
Trong các gia đình Nam Bộ, đối với con, cháu trong nhà đều gọi bằng con chứ
không phân biệt là gọi là con hay cháu. Có thể gọi bằng “thằng hoặc con + thứ”
(thằng Hai, con Tư,…) hay “thằng (con) + tên” (thằng Hiền, con Lành,…).
Ở bên ngoài gia đình, đối với người nhỏ tuổi hơn mình từ một cấp trở lên, khi
thật thân mật thì gọi bằng con, nếu gọi bằng cháu thì mức độ thân mật ít hơn một
chút. Và ngược lại, khi xưng hô với người lớn hơn mình từ một cấp trở lên, thật
thân mật thì xưng là con, nếu xưng là cháu thì mức độ thân mật cũng giảm đi.
Giải thích:
- Điều kiện môi trường sống của lưu dân thời mới khai phá và kể cả thời sau
này, người trôi dạt từ phương xa đến thường là nam giới. Gia chủ là người đã đến
khai phá trước, cơ ngơi thường có phần đã tạm ổn định.
Cha mẹ già có con trai, thì nhiều con trai của họ cũng đã tiếp tục ra đi chinh
phục những vùng đất mới gần xa để tự lập nghiệp (trên bước đường khai phá, người
lưu dân thường chọn nơi đất rộng người thưa, họ bỏ công khai phá càng nhiều đất
đai càng tốt); hoặc các con trai của họ, sau khi lập gia đình đã ra sinh sống làm ăn
riêng, chung quanh nhà cha mẹ mình. Thường thì trong nhà gia chủ còn lại những
người con trai chưa lập gia đình, hoặc đã lập gia đình nhưng chưa ra ở riêng, và các
con gái chưa gả chồng.
Trường hợp gia chủ không có con trai, hoặc có con trai, nhưng vì một lý do
nào đó nên những người con ấy đã ra đi sinh sống ở nơi khác (vì chống đối nhà cầm
quyền, vì chiến tranh, loạn lạc, trốn sưu thuế phải bỏ làng ra đi…) thì họ sống với
con gái của mình, nhiều khi họ tạm thời phải cưu mang cả gia đình con gái sau khi
đã gả chồng, vì chàng rể từ phương xa đến, không có họ hàng hoặc chưa đủ sức tự
tạo lập cơ ngơi riêng cho vợ con. Nhiều người chấp nhận cho vợ chồng con gái, con
rể cùng sống chung với mình để tiếp tay xây dựng, gìn giữ cơ ngơi trong lúc tuổi họ
đã về chiều.
Điều đáng để chúng ta lưu ý là môi trường lịch sử – xã hội của vùng đất Nam
Bộ thời khai hoang mở đất, tức hoàn cảnh sống mới, đã khơi dậy một cách tự nhiên
tinh thần tương thân tương ái, đùm bọc lẫn nhau trong bao lớp người lưu dân. Chính
nước ta. Khởi đầu từ hoàn cảnh một mình tha phương đi lập nghiệp của nhiều lớp
cha ông thuở trước, nên vùng đất này đã sản sinh ra quan niệm mới về vợ chồng,
khác với quan niệm “Thuyền theo lái gái theo chồng” (Xuất giá tùng phu) của Nho
giáo. Hẳn nhiều người không khỏi bất ngờ trước câu tục ngữ của vùng đất này:
Nước theo sông, chồng theo vợ.
Người con trai trên đất Nam Bộ luôn sẵn sàng theo về bên vợ, nên họ chẳng tỏ
ra gượng gạo, lấp lửng hay e dè chút nào khi buông lời tỏ tình hết sức thật thà, chân
chất:
Tàu Nam Vang chạy ngang cồn cát,
Xuồng câu tôm đậu sát mé nga
(4)
.
Thấy em có một mẹ già,
Muốn vô hoạn dưỡng có mà được không?
- Ở Nam Bộ, thường thì người con gái đã có chồng, sống riêng, nhưng khi sinh
con so thường được nuôi tại nhà bà ngoại, có khi đến thôi nôi hoặc sau đó nữa.
Con so nhà má, con rạ nhà chồng.
Cũng có không ít trường hợp, khi sinh con rạ rồi mà vẫn được nhà bà ngoại
nuôi dưỡng chăm sóc. Điều đó giải thích vì sao có câu tục ngữ trên và vì sao tình
cảm cũng như quan hệ giữa những đứa bé với bên ngoại (bà ngoại, ông ngoại, cậu,
dì) rất thân thiết.
Con chim se sẻ nó đẻ cột đình.
Bà ngoại đẻ má, má đẻ mình em ơi!
Những đứa trẻ sinh ra trên vùng đất này, ngay từ đầu đã gắn bó nhiều hơn, sâu
đậm hơn với gia đình, họ hàng bên ngoại. Còn bên nội, lắm lúc bọn trẻ chẳng biết
đâu mà lần, vì người cha không ít trường hợp là dân tứ chiếng chính gốc:
(
3)
Thạch Phương – Phần Tổng luận (trong Văn hóa dân gian người Việt Nam Bộ) – NXB
Khoa học xã hội – Hà Nội, 1992, tr. 249-262.
Tuy nhiên, không giống với người Việt ở những vùng khác trong lời ăn tiếng
nói, người Việt Nam Bộ thích diễn đạt cụ thể, với đường nét rõ ràng, không thích
dùng nhiều chữ nghĩa trừu tượng, không thích cách nói vòng vo, quanh co, úp úp
mở mở chứa ngầm ẩn ý bên trong. Phong cách diễn đạt Nam Bộ có gốc rễ từ cuộc
sống trong ngót 300 năm qua của cộng đồng người Việt trên vùng đất này. Dân tứ
chiếng gặp nhau, nói bằng thứ ngôn ngữ cụ thể không bị nguy cơ hiểu lầm, làm tổn
hại đến tình đoàn kết, thân ái. Người Việt Nam Bộ ít sử dụng thành ngữ, tục ngữ khi
chuyện trò so với người Việt ở miền Bắc và miền Trung. Đó cũng là lý do vì sao
thành ngữ, tục ngữ ở đây ít về số lượng và nếu có thì biểu thị toàn những điều cụ
thể về nội dung
(5)
. Chẳng hạn:
Aên như xáng múc, làm như lục bình trôi.
Aên như rồng cuốn, uống như rồng leo, làm như mèo mửa.
Tới đâu là nhà, ngả đâu là giường.
Môi trường sống của vùng đất mới đối với người lưu dân thật xa lạ nghiệt ngã.
Thực tế cuộc sống càng dạy cho họ sâu sắc tinh thần đoàn kết để đối phó với bao
thiên tai, địch họa. Muốn đoàn kết thì trước hết cần phải thật sự hiểu nhau, có hiểu
(
5)
Hồ Lê – Phương ngữ Nam Bộ (trong Văn hóa dân gian người Việt Nam Bộ) – NXB
Khoa học xã hội – Hà Nội, 1992, tr. 227-247.
- 9 -
rõ nhau mới có thể sống hết mình vì nhau, lo cho nhau, xả thân cứu giúp nhau, dám
hy sinh vì nghĩa lớn, chứ không phải chỉ biết sống cho riêng mình. Môi trường đầy
thử thách luôn luôn cần những hành động dũng cảm, kịp thời, cần làm nhiều hơn
nói, và hễ làm là làm thật sự, làm tới nơi tới chốn. “Nói một là một, hai là hai”,
“Nói như rựa chém xuống đất” là những điều mà người dân khai hoang thuộc nằm
lòng, là sự kinh tởm với những hành động bội phản
(6)
gọi chệch đi, hay gọi thay cho con mình… Vì những cách gọi giữ kẽ, khách sáo ấy
rất dễ bị hiểu lầm, lắm lúc bị cho là thiếu chân thật, tạo cảm giác xa cách, không
thân mật với người đối thoại.
(
6)
Hồ Lê – Phong tục tập quán của người Việt ở Nam Bộ (trong Văn hóa dân gian người
Việt Nam Bộ) – NXB Khoa học xã hội – Hà Nội, 1992, tr. 105.
(
7)
Nguyễn Kim Thản – Về tiếng nói vùng đồng bằng sông Cửu Long (trong Mấy đặc điểm
văn hóa đồng bằng sông Cửu Long) – Viện Văn hóa, 1984, tr. 142-155.
- 10 -
Đặc biệt, cách xưng hô này cũng được sử dụng khi gọi chung cho một cộng
đồng người khác: chú Ba Tàu, chú Chệch, anh Ba,… (khi nói đến cộng đồng người
Hoa), anh Bảy Chà (Chà tức gọi tắt của từ Chà Và (để chỉ đảo Java), khi nói đến
cộng đồng người Chăm Islam, người Ấn Độ), chú Huế (chỉ chung cho người Việt
miền Trung, miền Bắc),…
Giải thích:
Theo chúng tôi, ở đây không hẳn là việc hạ thấp người ngoài, cách gọi đó xuất
phát từ thực tiễn cuộc sống trên vùng đất Nam Bộ. Lớp người lưu dân đi khai hoang
mở đất đến sau hoặc những người làm “ruộng dạo” rày đây mai đó thường là lớp
trai trẻ, tráng niên, có sức khỏe, hiếm khi là người già cả. Vì vậy, so với người đến
trước họ thường nhỏ tuổi hơn, có khi ít kinh nghiệm hơn, nên trong quá trình giao
tiếp tiếp xúc với lớp trẻ ít tuổi hơn tại chỗ thì đa phần họ chỉ đáng bậc chú, cậu hay
anh mà thôi… Cách xưng hô được cho là rạch ròi, thẳng thắn lại không có gì phiền
phức như vậy, lâu ngày thành nếp quen của người Việt Nam Bộ khi tiếp xúc với
người ngoài, trừ những trường hợp đáng bậc trưởng thượng thì vẫn được gọi là ông,
là bác.
III/ NGƯỜI VIỆT NAM BỘ SỬ DỤNG NHIỀU TỪ XƯNG HÔ ĐỂ PHÂN
BIỆT RÕ QUAN HỆ BÊN CHA, QUAN HỆ BÊN MẸ:
hưởng mờ nhạt của các tín điều và quy phạm Nho giáo, tạo cơ sở tinh thần cho
những người lao động Việt đi vào lập nghiệp ở phương nam thêm can đảm xa rời
những giá trị Nho giáo cứng ngắc, và khẳng định những cách xử sự văn hóa thiết
thực so với hoàn cảnh mới, môi trường mới nơi họ sinh sống.
Trong khi ở Bắc Bộ, con trưởng là đại diện cho thế hệ các con, có quyền thừa
kế hương hỏa, có nhiệm vụ nuôi dưỡng cha mẹ và thờ cúng tổ tiên. Thì ở Nam Bộ,
con út có vai trò quan trọng hơn. Đương nhiên, cha mẹ già lựa chọn cuộc sống cuối
đời với con út và người con út có nhiệm vụ cúng giỗ cha mẹ. Nếu gia đình không có
con trai thì con gái thay thế. Việc thừa kế gia sản được chia đều cho các con cả nam
và nữ, có ưu tiên cho con út.
Ở Nam Bộ, người phụ nữ trong gia đình cũng là một trụ cột, cùng chồng con
bươn chảy, vượt hiểm thoát nguy, do đó không bị quá phụ thuộc và lép vế như ở
nhiều vùng khác. Tại Nam Bộ, câu “nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô” hầu như
không bám rễ sâu được trong dân dã, mà thay vào đó là câu:
Trai mà chi, gái mà chi,
Sanh ra có ngãi có nghì là hơn.
Trong gia đình người Việt Nam Bộ, thường thì cha mẹ đối với con cái cũng
dân chủ, bình đẳng hơn. Tìm trong hàng ngàn lời ca dân gian về chủ đề khát vọng
hạnh phúc và tình yêu trai gái, không kiếm được mấy câu mang giáo huấn khô cứng
của Nho giáo. Trên mảnh đất tình yêu, quyền lực của cha mẹ cũng rất hữu hạn nếu
không nói là mỏng manh, không dễ “cha mẹ đặt đâu” con đã chịu “ngồi đấy”, mà
mệnh lệnh đối với tình yêu phần lớn vẫn thuộc về trái tim của đôi trai gái. Nam Bộ
là nơi tệ tảo hôn ít nhất trong cả nước.
Mặc cho cha mẹ đánh treo,
Đứt dây rớt xuống cũng theo chung tình.
Sống ở dương gian không bắt được tay chàng,
Thác xuống âm phủ em giở nắp hàng
(8)
cho anh vô.
Cá trê nấu với ruột bầu,
với các mối quan hệ họ tộc chằng chịt và có phân biệt đẳng cấp về phương diện
quản lý như làng ở miền Bắc. Làng ở đây thường trải dài theo kinh rạch, có khi đến
7 - 8km, thành phần dân cư thường hay biến động. Người dân sẵn sàng dời đi nơi
khác, đến những vùng đất dễ làm ăn hơn. Thậm chí cha mẹ ở lại, nhưng con cháu đi
nơi khác sinh cơ lập nghiệp. Trong điều kiện như vậy nên ở Nam Bộ không phân
biệt người mới đến ở cũng như người cũ. Kiểu quần cư ở Nam Bộ cũng khiến cho
mối quan hệ giữa gia đình này với gia đình khác, giữa gia đình với làng không chặc
chẽ, các quan hệ ấy chủ yếu dựa trên các quan hệ cá nhân với nhau mà sinh sống.
Do sống trong môi trường xã hội là nơi họ hàng thì ít mà người dưng thì nhiều, nên
trong cách xưng hô người Việt Nam Bộ cần có sự phân biệt rạch ròi. Sự phân biệt
ấy không có nghĩa để phân chia ra đâu là họ nội, họ ngoại, đâu là người dưng nước
lã để rồi có những cách cư xử với mức độ chênh lệch khác nhau. Người Việt Nam
Bộ luôn có thói quen phân biệt mọi thứ cho thật rạch ròi, để mọi người có thể dễ
dàng hiểu đúng về nhau, có thể thông cảm với nhau hơn, vì cuộc sống luôn đòi hỏi
họ phải thường xuyên chung lưng đấu cật với láng giềng, với người ngoài trên bước
đường chinh phục vùng đất mới.
Các từ xưng hô phân biệt rõ quan hệ bên cha, quan hệ bên mẹ, theo người Việt
Nam Bộ, cũng tạo nên sự bình đẳng và sự kính trọng ngang nhau, vì như trên đã
nói, đối với người Việt Nam Bộ, tình cảm bên ngoại luôn thắm thiết. Bên cạnh đó,
do sống trong môi trường xã hội mà người trong các mối quan hệ thân tộc bên cha,
bên mẹ sống phân tán khắp nơi, ít có điều kiện gặp gỡ nhau thường xuyên, thì việc
nhận biết rõ ràng về các mối quan hệ cũng góp phần tạo nên sự hiểu biết, tạo nên
tình cảm cố kết. Việc gọi đúng từ xưng hô kể cả đối với những người có quan hệ
xóm giềng, cộng đồng nơi quê cha, quê mẹ mình sinh sống cũng là một cách thể
hiện sự hiểu biết đầy đủ của người gọi về các mối quan hệ huyết thống, gia tộc, xóm
giềng, cộng đồng của mình. Đồng thời, cũng đặt mỗi người vào đúng vị trí tôn ti thứ
bậc trong quan hệ giao tiếp, góp phần tăng thêm tình cảm gắn bó, thân thiết, luôn
được coi là một đặc điểm tiêu biểu của nếp sống văn hóa gia đình và văn hóa cộng
đồng xã hội của người Việt Nam.
(
Điều đáng lưu ý là, từ “tôi” sau khi được biến âm thành “tui”, về mặt ý nghĩa
nó vẫn là một đại từ nhân xưng, tuy nhiên nó không làm mất hẳn đi đặc điểm về
tính tôn ti. Chính do cách phát âm làm thu hẹp độ mở của âm chính đã tạo nên cảm
giác dịu nhẹ, “mềm” đi của âm thanh được phát ra. Vì vậy, từ tui vẫn giữ được sự
biểu thị giá trị ngang bằng về quan hệ xã hội, nhưng về mặt ý nghĩa đã có sự “giảm
nhẹ” hay tự “hạ thấp” khá nhiều việc khẳng định vị thế của người xưng hô. Ngoài
ra, tùy theo hoàn cảnh giao tiếp và tùy theo nét mặt, dáng điệu, ngữ điệu khi nói, mà
từ tui còn làm cho tính thân mật tăng lên đáng kể, trong khi tính tôn ti vẫn được coi
trọng trong cách xưng hô của người Việt Nam Bộ.
(
11)
Hữu Đạt – Văn hóa và ngôn ngữ giao tiếp của người Việt – NXB Văn hóa – Thông tin
– Hà Nội, 2000, tr. 123.
(
12)
Nguyễn Kim Thản – Về tiếng nói vùng đồng bằng sông Cửu Long (trong Mấy đặc điểm
văn hóa đồng bằng sông Cửu Long) – Viện Văn hóa, 1984, tr. 143.
- 14 -
PHẦN KẾT LUẬN
PHẦN KẾT LUẬN
Từ những luận cứ vừa trình bày, phần nào có thể cho chúng ta đi đến kết luận
rằng các đặc trưng trong cách xưng hô của người Việt Nam Bộ xuất phát từ hoàn
cảnh môi trường xã hội – lịch sử suốt 300 năm qua của vùng đất này. Trong đó,
kiểu cư trú, thực tế cuộc sống của những người lưu dân đi mở đất và quá trình giao
lưu, tiếp biến văn hóa giữa những người Việt từ nhiều nguồn gốc khác nhau tụ hội
về đây, giữa người Việt và những cộng đồng cư dân khác là yếu tố chính tạo nên nét
đặc thù trong lĩnh vực giao tiếp, trong cách xưng hô và từ ngữ xưng hô của người
Việt Nam Bộ.
Ngoài những đặc trưng vừa nêu, ở lĩnh vực giao tiếp, chúng ta còn có thể nhận
thấy những đặc trưng khác như cách gọi tên, một người sử dụng nhiều tên, xưng hô
10) Trần Ngọc Thêm – Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam – NXB Thành phố Hồ
Chí Minh – 2001.
11) Tạp chí Xưa và nay số 102, tháng 10-2001 – Hội Khoa học lịch sử Việt
Nam.
- 16 -