Vai trò của công ty cổ phần trên thị trường chứng khoán - Pdf 23

Lời nói đầu
Nền kinh tế Việt Nam đang trên đà phát triển mạnh mẽ, theo xu thế hội
nhập, khu vực hoá và toàn cầu hoá nền kinh tế. Để nền kinh tế tăng trởng và
phát triển bền vững, chúng ta cần phát huy đợc nguồn lực nội sinh ở trong nớc
và thu hút các nguồn lực từ bên ngoài. Yêu cầu đặt ra là phải xây dựng đợc mô
hình huy động vốn hợp lý và hiệu quả. TTCK đã hình thành và bắt đầu phát
triển tại Việt Nam trong 6 năm gần đây, nó không chỉ phát huy đợc nội lực của
nền kinh tế mà còn thu hút mạnh mẽ hơn các nguồn vốn đầu t nớc ngoài.Phát
triển TTCK đặt ra yêu cầu thách thức lớn đối với các nhà kinh tế vĩ mô Việt
Nam. Trong đó quá trình thành lập các công ty cổ phần đẵ tác động mạnh mẽ
đến sự phát triển của thị trờng chứng khoán. Các công ty cổ phần phát triển
rộng rãi đã làm thay đổi căn bản cơ cấu các loại chứng khoán, tạo điêù kiện cho
thị trờng chứng khoán hoạt động với những sản phẩm đích thực nh cổ phiếu, trái
phiếu và tăng thêm sự h ng thịnh của kinh tế và xã hội. Công ty cổ phần đóng
vai trò là chủ thể quan trọng tác động cả về phía cung và cầu của thị trờng
chứng khoán. Vấn đề đẩy mạnh việc thành lập các công ty cổ phần và cổ phần
hoá các doanh nghiệp nhà nớc, đồng thời phát triển và mỏ rộng thị trờng chứng
khoán, nhằm góp phần đáp ứng nhu cầu to lớn về vốn đầu t và nâng cao chất l-
ợng quản lý kinh tế đang là một vấn đề rất đơc quan tâm. Trên cơ sở đó, tôi
chọn đề tài Vai trò của công ty cổ phần trên thị tr ờng chứng khoán

1
Phần I: thị trờng chứng khoán và vai trò của công
ty cổ phần trên thị trờng chứng khoán.
1. thị trờng chứng khoán (TTCK).
1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của TTCK.
Hình thức sơ khai của thị trờng chứng khoán đã xuất hiện cách đây hàng
trăm năm. Hình thành trong các phiên chợ hội chợ, các thơng gia thờng tụ tập
tại các quán cà phê để thơng lợng mua bán, trao đổi hàng hoá. Dần dần hình
thành nên một thị trờng với 3 giao dịch: hàng hoá, ngoại tệ và chứng khoán bất
động sản. Sau một thời gian hoạt động, do không đáp ứng đợc cả 3 yêu cầu giao

giao dịch vốn cụ thể. Do đó các thị trờng này không thể phân biệt, tách rời nhau
mà thống nhất và cùng phản ánh các quan hệ bên trong và bên ngoài của thị tr-
ờng t bản.
Quan điểm thứ hai của các nhà kinh tế cho rằng:TTCK đợc đặc trng bởi thị
trờng vốn chứ không phải đồng nhất là một. Nh vậy, theo quan điểm này,
TTCK và thị trờng vốn là khác nhau, trong đó TTCK chỉ giao dịch, mua bán các
công cụ tài chính trung và dài hạn nh trái phiếu chính phủ, cổ phiếu va trái
phiếu công ty. Các công cụ tài chính ngắn hạn đợc giao dịch trên thị trờng tiền
tệ, không thuộc phạm vi của TTCK.
Quan điểm thứ ba, dựa trên những gì quan sát đợc tại đa số các Sở giao dịch
chứng khoán lại cho rằng:TTCK là thị trờng cổ phiếu, hay là nơi mua bán các
cổ phần bán đợc các công ty phát hành ra để huy động vốn. Theo quan điểm
này, TTCK đợc dặc trng bởi thị trơng mua bán các công cụ tài chính mang lại
quyền tham gia sở hữu.
Các quan điểm trên đều đợc khái quát dựa trên những cơ sở thực tiễn và
trong từng đìu kiện lịch sử nhất định.
Tuy nhiên, quan nuiệm đày đủ và rõ ràng, phù hợp với sự phát triển chung
của TTCK hiện nay, đợc trình bày trong giáo trình là:
3
TTCK là nơi diễn ra các giao dịch mua bán, trao đổi các loại chứng khoán.
Chứng khoán đợc biểu hiện là các loại giáy tờ có giá hay bút toán ghi sổ, nó cho
phép chủ sở hữu có quyền yêu cầu về thu nhập và tài sản của tổ chức phát hành
hoặc quyền sở hữu. Các quyền yêu cầu này có sự khác nhau giữa các loại chứng
khoán, tuỳ theo tính chất sở hữu của chúng.
Các giao dịch mua bán, trao đổi chứng khoán có thể diễn ra ở thị trờng sơ
cấp (Primary Market) hay thị trờng thứ cấp (Secondary Market), tại sở giao dịch
(Stock Exchange) hay TTCK phi tập trung (Over The Counter Market), ở thị tr-
ờng giao ngay(Spot Market) hay thị trờng có kỳ hạn (Future Market). Các quan
hệ mua bán trao đổi này làm thay đổi chử sở hữu của chứng khoán và nh vậy
thực chất đây chính là quá trình vận động của t bản, chuyển từ t bản sở hữu sang

ta có thể phân thị trờng chứng khoán thành thị trờng cổ phiếu, thị trờng trái
phiếu và thị trờng các công cụ dẫn suất.
Phân loại theo quá trình luân chuyển vốn: thị trờng đợc phân thành thị trờng
sơ cấp và thị trờng thứ cấp. Thị trờng sơ cấp là nơi phát hàng chứng khoán hay
la nơi mua bán chứng khoán lần đầu tiên. Thị trờng thứ cấp là thị trờng giao dịc
TT trường nợ TT vốn cổ phần
TT trái phiếu TT cổ phiếu
5
mua bán, trao đổi những chứng khoán đã đợc phát hành nhằm mục đích kiếm
lời, di chuyển vốn đầu t hay di chuyển tài sản xã hội.
Phân loại theo hình thức tổ chức của thị trờng: TTCK có thể đợc tổ chức theo
2 cách là: TTCK tập trung nơi trao đổi, mua bán các chứng khoán của công ty
lớn hoạt động có hiệu quả; và TTCK phi tập trung (OTC) là thị trờng của những
nhà buôn, những ngời tạo ra thị trờng.
1.4 Các chủ thể trên TTCK:
Các tổ chức và cá nhân tham gia thị trờng chứng khoán có thể dợc chia
thành 3 nhóm sau: chủ thể phát hành, chủ thể đầu t và các tổ chức có liên quan
đến chứng khoán.
1.4.1 Chủ thể phát hành:
Chủ thể phát hành là ngời cung cấp các chứng khoán hàng hóa của
TTCK. Các chủ thể phát hành bao gồm Chính phủ, các doanh nghiệp và một số
tổ chức khác nh: các quỹ đầu t, tổ chức tài chính trung gian
Chính phủ và chính quyền địa phơng là chủ thể phát hành các chứng khoán:
trái phiếu chính phủ, trái phiếu địa phơng, trái phiếu công trình, tín phiếu kho
bạc, tín phiếu kho bạc.
Công ty là chủ thể phát hành các cổ phiếu và trái phiếu công ty.
Các tổ chức tài chính là chủ thể phát hành các công cụ tài chính nh các trái
phiếu, chứng chỉ hởng thụ phục vụ cho việc huy động vốn và phù hợp với đặc
thù hoạt động của họ theo Luật định.
1.4.2 Chủ thể đầu t:

TTCK do Chính phủ các nớc thành lập với mục đích bảo vệ lợi ích của ngời đầu
t và bảo đảm cho TTCK hoạt động lành mạnh, an toàn và phát triển bền vững
Cơ quan quản lý Nhà nớc về TTCK có thể có những tên gọi khác nhau tuỳ
thuộc từng nớc và nó đợc thành lập để thực hiện chức năng quản lý Nhà nớc đối
với TTCK.
Tại Hàn Quốc, quản lý Nhà nớc về TTCK có Uỷ ban chứng khoán và giao
dịch chứng khoán (SEC) và Uỷ ban giám (SSB) đợc thành lập dới sự quản lý của
7
Bộ kinh tế tài chính. Ban giám sát chứng khoán là cơ quan phát hành của Uỷ
ban chứng khoán và giao dịch chứng khoán, thực hiện các chức năng quản lý
Nhà nớc đối với thị trờng chứng khoán.
1.4.3.2 Sở giao dịch chứng khoán:
Sở giao dịch chứng khoán thực hiện vận hành TTCK thông qua bộ máy tài
chính và hệ thống các quy định, văn bản pháp luật về giao dịch chứng khoán
trên cơ sở phù hợp với các quy định của Luật pháp và Uỷ ban chứng khoán.
1.4.3.3 Hiệp hội các nhà kinh doanh chứng khoán:
Hiệp hội các nhà kinh doanh chứng khoán là tổ chức tự quản của các công ty
chứng khoán và một số thành viên khác hoạt động trong ngành chứng khoán, đ-
ợc thành lập với mục đích bảo vệ lợi ích cho các thành viên và các nhà đầu t
trên thị trờng. Hiệp hội các nhà kinh doanh chứng khoán thực hiện một số chức
năng chính nh sau:
Đào tạo, nghiên cứu trong các lĩnh vực chứng khoán.
Khuyến khích hoạt động đầu t và kinh doanh chứng khoán.
Ban hành và thực hiện các quy tắc tự điều hành trên cơ sở các quy định Pháp
luật về chứng khoán hiện hành.
Giải quyết các tranh chấp giữa các thành viên.
Tiêu chuẩn hoá các nguyên tắc và thông lệ trong ngành chứng khoán.
Hợp tác với Chính phủ và các cơ quan khác để giải quyết các vấn đề có tác
động đến hoạt động kinh doanh chứng khoán.
1.4.3.4 Tổ chức lu kí và thanh toán bù trừ chứng khoán:

hơn ba mơi năm cho tới cuối thập kỉ 90. TTCK Hàn Quốc đã đã lớn mạnh đứng
hàng thứ 13 trên thế giới, với tổng giá trị huy động là 160 tỷ Đô la Mỹ, đã góp
phần tạo mức tăng trởng kinh tế đạt mức bình quân 9%/năm,thu nhập quôc dân
bình quânđàu ngời năm 1995 la trên 10.000 USD.
Yếu tố thông tin và yếu tố cạnh tranh trên thị trờng sẽ đảm bảo cho việc phân
phối một cách có hiệu quả.Thi tròng tài chính la nơi tiên phong áp dụng công
nghệ mới và nhạy cảm với môi trờng thờng xuyên thay đổi,Thực tế trên thị tr-
9


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status