Mục lục
Trang
Mục lục 3
Lời nói đầu 5
Chơng I. 6
Định nghĩa TTCK và Chứng khoán 7
1. Vài nét về sự ra đời và phát triển của TTCK
2. Định nghĩa về TTCK 8
3. Định nghĩa về Chứng khoán 9
Chơng II.
Chức năng của TTCK 11
I. TTCK và hệ thống tài chính
II. TTCK và tài chính của các DN 12
1. TTCK và tài chính của các DN có giá trị và
không có giá trị và không có giá tri trên TTCK
2. Tài trợ các DN qua TTCK
3. Phát hành và trao đổi CK 13
4. Những lợi ích và bất lợi khi ra nhập TTCK 14
III. TTCK và tài chính Nhà nớc 16
1. Sử dụng thờng xuyên
2. Sử dụng bất thờng 17
IV. TTCK và tài chính của các hộ gia đình 18
1. TTCK và tiền tiết kiệm
2. Mục tiêu của đơn vị mua CK 19
3. Trực tiếp hoặc gián tiếp mua CK trên TTCK 20
V. TTCK và các cơ quan đầu t chuyên môn
(công ty bảo hiểm, quỹ hu trí....) 21
1. TTCK và giá một công ty có bảng giá
2. TTCK phản ánh tình trạng chính trị và kinh tế
vĩ mô 22
Chơng III.
Với đề tài "Những cái nhìn đầu tiên về Thị trờng
chứng khoán" tuy đơn sơ nhng cũng phần nào giải đáp đợc
những câu hỏi trên.
Nhng, để hiểu sâu hơn về TTCK thì chắc chắn phải cần
một thời gian khá dài mà nhất là với Sinh viên nh chúng em thì
lại phải cần học và tìm hiểu nhiều hơn nữa thì mới có thể có đ -
ợc cái nhìn thấu đáo về TTCK. Vì thật ra, TTCK đối với Việt
Nam hiện nay nó vẫn còn rất mới mẻ và những tài liệu về
TTCK cũng rất hạn chế. Do vậy, với vốn kiến thức ít ỏi của
mình và sự giúp đỡ của Thầy cô nên em cũng mạnh dạn tìm
hiểu và viết nên đề tài này. Vì vậy, Em rất mong có đ ợc sự
đánh giá và góp ý của Thầy cô giáo để em có thể học tốt hơn
môn Tiền Tệ cũng nh các môn Kinh Tế chuyên ngành sắp tới.
Em xin chân thành cảm ơn!
Sinh Viên: Đồng Xuân Nam
Lớp : 1020
5
Chơng I.
Định nghĩa Thị trờng chứng
khoán và chứng khoán
1. Vài nét về sự ra đời và phát triển của TTCK
Thị trờng chứng khoán là một khái niệm hoàn toàn mới lạ
với chúng ta, bởi lẽ chúng ta vừa chân ớt chân dáo tiến hành
chuyển đổi cơ chế quản lý kinh tế - từ tập trung quan liêu bao
cấp sang cơ chế thị trờng - Vì vậy, với những khái niệm của thị
trờng mở gần nh còn tơng đối xa lạ đối với chúng ta. Còn đối
với một số nớc trong khu vực cũng nh trên thế giới những khái
niệm và mô hình về Thị trờng chứng khoán đã trở thành quen
thuộc và thâm nhập vào đời sống kinh tế xã hội một cách khá
chú ý không chỉ của riêng Chính phủ mà còn có sự quan tâm
rất lớn của đông đảo công chúng mà nhất là giới kinh doanh.
Và từ năm1998, khi Chính phủ quyết định thành lập một hội
đồng gồm các chuyên gia kinh tế học nổi tiếng để chuẩn bị
cho việc mở ra một TTCK ở Việt Nam mà trớc hết là ở Thành
phố HCM và sau đó là Hà Nội.
Nhng để hiểu sâu hơn về TTCK chúng ta cần tìm hiểu về
định nghĩa TTCK thì mới có thể có đợc cái nhìn sâu sắc hơn về
TTCK .
2. Định nghĩa về TTCK.(sơ đồ 1)
Thị trờng chứng khoán là nơi những ng ời chuyên nghiệp
trao đổi những chứng khoán động sản. Đơn vị có khả năng tài
chính là những ng ời có tiền tiết kiệm, mua chứng khoán. Đơn
vị có nhu cầu tài chính là các tập thể phát hành và bán chứng
khoán. Để cung gặp cầu, ng ời mua và ngời bán phải thoả thuận
với nhau một giá, gọi là giá chứng khoán.
Việc chuyển từ tiền tiết kiệm sang chứng khoán còn đ ợc
gọi là "luồng tài chính", có nghĩa là tiền đ ợc chuyển từ tay ng-
ời có tiền đến tay ngời cần tiền.
Sự chuyển từ chứng khoán đến tiết kiệm đợc gọi là "luồng vật
chất", gọi nh thế vì trớc thời điện tử, ngời trao tiền nhận đợc
một giấy chứng minh quyền sở hữu của họ đối với động sản đó.
Ngày nay, ở những TTCK quan trọng trên thế giới, những giấy
minh đều đợc điện tử hoá, việc này gọi là "phi vật chất hoá các
chứng th". Do đó, một t nhân sống ở Châu Âu có thể ra lệnh
mua chứng th trên TTCK Nữu
Ước hay bán trên TTCK Tokio một cách nhanh chóng qua tài
khoản chứng th.
Trong thời đại điện tử ngày nay, TTCK có thể là một địa
điểm trong thành phố nhng phần lớn những lệnh mua và bán
- Cung gặp Cầu - Giá
thay đổi mỗi năm tuỳ theo lời lỗ của doanh nghiệp. Trên
nguyên tắc luật pháp, ng ời có cổ phiếu là chủ sỏ hữu một phần
của doanh nghiệp, vì thế họ có quyền tham gia vào quản lý
doanh nghiệp, nhng trên thực tế thì quyền này đợc trao cho
Hội đồng cổ đông quản trị.
b. Trái phiếu.
Trái phiếu do doanh nghiệp, công ty tài chính, liên
doanh, thành phố, nhà nớc... phát hành. Mua trái phiếu có
nghĩa là cho cơ quan phát hành trái phiếu vay. Ng ời có trái
phiếu là chủ nợ, họ chấp nhận cho mợn tiền, nói cách khác, họ
cho vay dài hạn với điều kiện không chịu rủi ro kinh doanh,
không chịu mất vốn họ cho doanh nghiệp sử dụng. Đó là
nguyên tắc, còn trong thực tế, họ có thể mất vốn tuỳ theo giá
của trái phiếu trên thị trờng. Dù sao, sử rủi ro của trái phiếu
cũng ít hơn sự rủi ro của cổ phiếu. Vì thế trong kế toán, trên
bảng tổng kết tài sản hàng năm, số tiền đó đợc ghi trong mục
nợ dài hạn và trung hạn. Cũng vì lý do đó, trên nguyên tắc,
mỗi năm, trái phiếu mang lại cho ngời có trái phiếu một lãi
xuất cố định, doanh nghiệp lời lỗ ra sao cũng phải trả số tiền
lãi này. Vì ngời có trái phiếu không có quyền sở hữu nên
không có quyền tham gia vào quản lý của doanh nghiệp nh
những ngời có cổ phiếu.
Ngày nay, vì cạnh tranh và vì nhu cầu của ng ời có tiền và
ngời cần tiền, sự phân biệt giữa cổ phiếu và trái phiếu không
còn nh trớc. Vấn đề này, chúng tôi sẽ đề cập sau. Về tâm lý, ta
có thể nói một cách tổng quát rằng ng ời mua cổ phiếu và ngời
mua trái phiếu, có hai cách nhìn khác nhau theo cách sử dụng
tiền tiết kiệm của họ. Ngời có cổ phiếu thích rủi ro, chấp nhận
mất vốn đến một mức nào đó và hy vọng nhận đợc nhiều tiền
ngân hàng: Tài khoản dài hạn, ngắn hạn, tài khoản báo tr ớc...
Số tiền này sẽ đợc ngân hàng chuyển thành tín dụng cho doanh
nghiệp, hộ gia đình, kho bạc nhà nớc.
- Dùng tiền để mua chứng khoán( các loại cổ phiếu và
trái phiếu) trên TTCK. Họ có thể mua chứng khoán do các
doanh nghiệp,nhà nớc, hoặc các cơ quan địa phơng... phát
hành. Thị trờng này đợc gọi là thị trờng sơ cấp vì chỉ có thị tr-
ờng này mới mang tiền mới đến những đơn vị có nhu cầu tài
chính. Chúng ta nên chú ý: Tiền tiết kiệm chỉ đến các đơn vị
có nhu cầu tài chính một lần, lúc chứng khoán đợc phát hành.
Những đơn vị có khả năng tài chính có thể sử dụng tiền
bằng cách mua chứng khoán trên thị trờng thứ cấp.Nghĩa thông
thờng của bốn chữ TTCK là thị trờng này không có chứng
khoán và những ngời có tiền cần mua chứng khoán. Đây chính
là thị trờng mà báo chí thông báo giá cả lên xuống hàng ngày.
Vì thế ngời ta còn nói thì trờng mua bán lại, sự mua bán này
không mang lại tiền mới cho các đơn vị đã phát hành chứng
khoán.
Mỗi nớc sử dụng TTCK theo truyền thống của họ:ở Đức
TTCK không đóng vai trò quan trọng nhờ sự liên lạc chặt chẽ
giữa giới ngân hàng và giới kỹ nghệ, các ngân hàng th ờng có
cổ phần trong 4 điều lệ của các xí nghiệp. ở Mỹ TTCK đóng
vai trò rất quan trọng các xí nghiệp lớn dùng TTCK để có tài
chính đầu t hơn là dùng tín dụng.
11
II. Thị trờng chứng khoán và tài chính
của các doanh nghiệp
1. TTCK và tài chính của các doanh nghiệp có
giá trị và không có giá trị trên TTCK
Khi một cá nhân muốn thành lập một doanh nghiệp để
doanh nghiệp lớn đã có tiếng tăm và tín nhiệm của TTCK nh
IBM, SONY,.... đều có thị giá(coté, listed) trên TTCK trong n -
ớc hay tại nớc ngoài, nghĩa là chứng khoán họ phát triển trên
12
TTCK có một giá đợc xác định theo sự thoả thuận giữa ng ời
mua và ngời bán.
2. Tài trợ các doanh nghiệp qua thị trờng chứng khoán
Doanh nghiệp đợc tài trợ qua ba phơng pháp đã đề cập
đến phần đầu: Tự tài trợ- vay ngân hàng dài hạn hay trung hạn-
tài trợ qua TTCK. Trong phần này, ta tìm hiểu thêm về cách tài
trợ qua TTCK. Có hai phơng pháp:
-Tăng vốn bằng cách gọi tiền mặt: Doanh nghiệp phát
hành cổ phiếu mới, ngời đã có cổ phiếu của doanh nghiệp này
có quyền u tiên mua. Quyền này đợc biểu hiện bằng một phiếu,
gọi là phiếu ghi mua, nó là phần thởng cho ngời đã chấp nhận
rủi ro ban đầu. Cũng vì lý do trên, quyền u tiên ghi mua có một
trị giá: ngời có quyền tiết kiệm, muốn mua cổ phiếu của doanh
nghiệp này phải mua quyền u tiên của những ngời đã có cổ
phiếu nhng không muốn mua thêm vì họ không có tiền hay họ
thấy chịu rủi ro với doanh nghiệp này nh thế là đủ rồi.
- Vay dài hạn bằng cách phát hành trái phiếu. Trờng hợp
này, ngời ta đã có trái phiếu không có quyền u tiên.
3. Phát hành và trao đổi chứng khoán
Quá trình giao dịch đợc chia làm ba giai đoạn:
- Bớc đầu, doanh nghiệp phát hành chứng khoán, nhận đ -
ợc tiền. Ngời xuất vốn nhận đợc chứng khoán.
- Bớc hai, để có sự giao dịch trên TTCK, doanh nghiệp có
trách nhiệm thông tin cho thị trờng qua báo cáo hàng năm,
hàng ngày, qua bảng tổng kết tài sản... để những ng ời có cổ
phiếu có thông tin để quyết định giữ hay bán cổ phiếu.
cầu đòi hỏi của giới tiêu thụ.
- Doanh nghiệp gia đình kiếm thêm đợc một nguồn vốn
để tiếp tục phát triển.
- Doanh nghiệp đợc TTCK đánh giá hàng ngày. Ngời
quản trị doanh nghiệp có một giá tham khảo qua thị giá của cổ
phần trên TTCK. Giá đó sẽ đợc áp dụng trong kế hoạch phát
triển đã định: Trao đổi cổ phần với doanh nghiệp bạn... Thí dụ:
doanh nghiệp bạn A mua X % cổ phần của doanh nghiệp B,
doanh nghiệp B mua Y % cổ phần của doanh nghiệp A. Đó là
một chính sách bảo trợ nhau, trao đổi tin tức với nhau.
- Doanh nghiệp còn có thể dùng chính sách "c ỡng ép"
mua doanh nghiệp đối thủ một cách công khai, bằng cách qua
mặt ban quản trị doanh nghiệp này, đề nghị với những ng ời có
cổ phiếu của doanh nghiệp đó để mua lại cổ phiếu của họ với
một giá cao hơn giá thị trờng (nếu không cao hơn thì họ không
bán làm gì!) hoặc mua bằng tiền mặt. Hành động này đợc gọi
là "công khai hỏi mua". Ngoài ra, còn có phơng pháp để trao
đổi cổ phiếu giữa hai hãng với nhau. Hành động này đợc gọi là
"công khai dạm hỏi đổi cổ phiếu".
b. Bất lợi
- Doanh nghiệp phải chấp nhận công khai hoá các hoạt
động chính của mình. Phải báo cáo tin tức thất bại và thành
công của doanh nghiệp trên mọi thị trờng, nghiên cứu phát
triển, cách sử dụng nhân viên...
- Doanh nghiệp phải giải thích kế hoạch đã quyết định áp
dụng, lý do, năng lực...
- Nếu không đạt đợc kết quả ngắn hạn nh mong muốn,
hoặc giải thích không đợc thoả đáng, doanh nghiệp sẽ bị doanh
nghiệp khác để ý đến, công khai hỏi mua hay công khai dạm
hỏi.