1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN
1.1 Đặt vấn đề:
Gia nhập WTO, Việt Nam chính thức tham gia vào tổ chức thương mại có quy mô toàn
cầu là một bước ngoặt lớn trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế và có tác động tích
cực tới sự phát triển kinh tế của Việt Nam. Trong xu thế toàn cầu hóa đang diễn ra
ngày càng gay gắt, san bằng mọi khoảng cách, nhấp nhô, rào cản - các doanh nghiệp
cần phải học và áp dụng thật hiệu quả luật chơi mới để tồn tại và phát triển. Vì lẽ đó
các doanh nghiệp phải thông hiểu những áp lực nào đang ảnh hưởng đến doanh nghiệp
mình để có thể hoàn thiện và tìm được hướng đi thích hợp cho chính mình nhất là
ngành may mặc là ngành đang được chú trọng và là ngành mà Việt Nam có ưu thế về
nguồn lực lao động dồi dào và cũng là ngành mũi nhọn trong chiến lược phát triển xuất
khẩu của Việt Nam nhằm tăng thế cạnh tranh, chủ động của quốc gia mình. Kim ngạch
xuất khẩu ngày càng tăng với 15,8 tỷ USD của năm 2011 có sự đóng góp 16% của
ngành may mặc trong đó 13,8 tỷ USD là dệt may và 2 tỷ USD là xơ sợi, đứng đầu cả
nước về xuất khẩu - góp một phần đáng kể trong quá trình phát triển kinh tế của Việt
Nam trong giai đoạn toàn cầu hóa hiện nay.
Làn sóng dịch chuyển thị trường cung ứng hàng may mặc cho các nước phát triển (Mỹ,
EU, Nhật,…) từ Đông Âu và các quốc gia Châu Á khác như Hong Kong, Singapore,
Đài Loan, Hàn Quốc (do thiếu nhân công) sang Châu Á và cùng với xu thế tăng nhanh
giá nhân công, giá mặt bằng chi phí đầu vào tại Trung Quốc, các doanh nghiệp trên thế
giới đang tìm đến Việt Nam và TP.HCM với vị trí thuận tiện, cơ sở hạ tầng giao thông,
kỹ thuật, dân trí,…tương đối phát triển hơn so với các vùng miền khác mà TP.HCM sẽ
là cửa ngõ đón đầu các đơn hàng này. Nhưng để làm được điều đó cần đòi hỏi các
doanh nghiệp phải hiểu rõ mình đang chịu tác động của các áp lực cạnh tranh như thế
nào để có thể làm giảm hoặc hạn chế các áp lực cạnh tranh đó, hoàn thiện doanh
2
nghiệp mình nhằm đón đầu, nắm bắt được cơ hội tốt này và hoạt động một cách hiệu
quả nhất.
Chính vì lẽ đó, tác giả đã mạnh dạn chọn đề tài “Nghiên cứu áp lực cạnh tranh của
các doanh nghiệp may xuất khẩu tại TP.HCM” với ý định làm rõ các áp lực cạnh
trả lời cần có.
Sau đó, khảo sát thử (mẫu pilot) 10 phiếu (doanh nghiệp) thông qua bảng câu hỏi đã
hiệu chỉnh để xác định độ lệch chuẩn nhằm tính kích thước mẫu cần thiết cho nghiên
cứu chính thức.
Bảng câu hỏi hoàn chỉnh được tác giả suy luận, phân tích từ mô hình 5 lực lượng cạnh
tranh của Michael E Porter và sự tổng hợp ý kiến từ thảo luận nhóm tập trung và mẫu
pilot.
1.4.2 Nghiên cứu định lượng: Khảo sát thực tế các doanh nghiệp may xuất khẩu tại
TP.HCM thông qua bảng câu hỏi hoàn chỉnh ở bước nghiên cứu định tính.
Sử dụng phần mềm SPSS16.0 để thực hiện (1) các phân tích thống kê mô tả, đánh giá
độ tin cậy cronbach alpha của thang đo, phân tích nhân tố EFA để xác định các nhân tố
ảnh hưởng đến ALCTR của các DNMXK tại TP.HCM. Tiếp đó (2) tương quan và hồi
qui để xây dựng phương trình mô tả mức độ ảnh hưởng của các nhân tố nói trên đến áp
lực cạnh tranh của các DNMXK.
4
1.5 Tổng quan về những đề tài nghiên cứu có liên quan:
Hiện chưa có nghiên cứu nào tại Việt Nam tìm hiểu và đánh giá tình hình cạnh tranh
(mức độ căng thẳng của cạnh tranh hay áp lực cạnh tranh) của một ngành nghề cụ thể.
Các nghiên cứu trước đây thường đi tìm những lợi thế cạnh tranh và đưa ra những giải
pháp để nâng cao năng lực cạnh tranh cho các doanh nghiệp ở nhiều ngành nghề khác
nhau. Cụ thể có các nghiên cứu sau:
- Đỗ Trọng Khanh, 2008. Năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp xuất khẩu nhỏ
và vừa của Việt Nam. Nghiên cứu báo cáo trong Diễn đàn kinh tế & Tài chính. Đà
Nẵng ngày 26 và 27 tháng 2 năm 2008. [3]
- Nguyễn Hữu Thắng, 2008. Năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam
trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay. Hà Nội: NXB Chính Trị Quốc Gia. [9]
- Nguyễn Trường Sơn, 2010. Năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp kinh tế tư
nhân ở Việt Nam –Nghiên cứu điển hình tại TP.Đà Nẵng. Hà Nội: NXB Chính Trị
Quốc Gia. [10]
6
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU
Chương 2 sẽ trình bày cơ sở lý thuyết về cạnh tranh và mô hình nghiên cứu bao gồm
các nội dung chính như sau: (I) Cơ sở lý thuyết – (1) lý thuyết về cạnh tranh, lợi thế
cạnh tranh, áp lực cạnh tranh, (2) Một số lý thuyết và nhận định về các nhân tố ảnh
hưởng đến tình hình cạnh tranh của các chuyên gia kinh tế trong và ngoài nước và (3)
Bài học rút ra cho các DNMXK tại TP.HCM; (II) Mô hình nghiên cứu: Mô hình l ý
thuyết và mô hình thực tế.
2.1 Cơ sở lý thuyết
2.1.1 Lý thuyết về cạnh tranh, lợi thế cạnh tranh, áp lực cạnh tranh.
2.1.1.1 Khái niệm về cạnh tranh
Mỗi khái niệm và định nghĩa đều mang trong nó một nội dung nhất định vì mỗi tác giả
đứng trên những quan điểm khác nhau khi tiếp cận đối tượng nghiên cứu để phát biểu.
- Từ điển kinh tế học: Cạnh tranh là sự đấu tranh đối lập giữa các cá nhân, các tập
đoàn hay các quốc gia, đồng thời sự cạnh tranh nảy sinh khi hai hoặc nhiều bên cùng
quyết tâm giành lấy các thứ mà không phải ai cũng có thể giành được.
- Theo đại từ điển kinh tế thị trường: Cạnh tranh hữu hiệu là một phương thức hoạt
động thích ứng với thị trường có mục tiêu chính là tranh giành được hiệu quả hoạt
động thị trường làm cho con người tương đối thỏa mãn đạt được một lợi nhuận bình
quân vừa đủ để có lợi cho việc kinh doanh.
- Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam (tập 1): Cạnh tranh trong kinh doanh là hoạt
động tranh đua giữa những người sản xuất hàng hoá, giữa các thương nhân, các nhà
- Quan điểm về cạnh tranh không lành mạnh: Cạnh tranh không lành mạnh là các
hoạt động kinh tế trong kinh doanh trái với đạo đức nhằm làm hại các đối thủ kinh
8
doanh hoặc khách hàng. Trong cạnh tranh không lành mạnh sẽ không có người thắng
nếu việc kinh doanh được tiến hành giống như một cuộc chiến. Hậu quả thường thấy
sau các cuộc cạnh tranh khốc liệt là sự sụt giảm mức lợi nhuận ở khắp mọi nơi.
- Đứng trên quan điểm vì lợi ích của khách hàng, theo TS. Tôn Thất Nguyễn
Thiêm - cạnh tranh trên thương trường được hiểu không phải là sự diệt trừ đối thủ của
mình mà chính là phải mang lại cho khách hàng những giá trị gia tăng cao hơn hoặc
mới lạ hơn để khách hàng lựa chọn mình chứ không phải lựa chọn đối thủ cạnh tranh
của mình. [16]
2.1.1.3 Khái niệm về lợi thế cạnh tranh:
- Lợi thế cạnh tranh là sở hữu những giá trị đặc thù, có thể sử dụng được để nắm bắt cơ
hội, để kinh doanh có lãi. Khi nói đến lợi thế cạnh tranh, là nói đến lợi thế mà một
doanh nghiệp, một quốc gia đang có và có thể có so với các đối thủ cạnh tranh của họ.
Lợi thế cạnh tranh là một khái niệm vừa có tính vĩ mô (ở cấp quốc gia), vừa có tính vi
mô (cho doanh nghiệp).
- Theo quan điểm của Michael Porter, doanh nghiệp chỉ tập trung vào hai mục tiêu tăng
trưởng và đa dạng hóa sản phẩm, chiến lược đó không đảm bảo sự thành công lâu dài
cho doanh nghiệp. Điều quan trọng đối với bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào là xây
dựng cho mình một lợi thế cạnh tranh bền vững - có nghĩa là doanh nghiệp phải liên
tục cung cấp cho thị trường một giá trị đặc biệt mà không có đối thủ cạnh tranh nào có
thể cung cấp được.
- Theo Micheal Porter, để tạo nên lợi thế cạnh tranh bền vững các doanh nghiệp có
thể thực hiện những hành động sau: nâng cao hiệu quả các hoạt động (tạo ra hiệu suất
lớn hơn với chi phí thấp hơn dựa vào hiệu suất lao động và vốn), nâng cao chất lượng
(tạo ra những sản phẩm hay dịch vụ tin cậy, an toàn và khác biệt nhằm đem lại những
giá trị cao hơn trong nhận thức của khách hàng), đổi mới (khám phá những phương
thức mới và tốt hơn để cạnh tranh trong ngành và thâm nhập vào thị trường) và nâng
9
* Lợi thế về kỹ thuật, công nghệ sản xuất, nguồn nhân lực;
* Lợi thế về độ nhạy bén, mềm dẻo thích ứng trước sự thay đổi chiến lược, mục tiêu
của ngành cũng như sự thay đổi nhu cầu của thị trường;
Tóm lại: Lợi thế cạnh tranh được nhìn từ góc độ tìm kiếm điểm mạnh nhằm giúp DN
phát huy thế mạnh của mình để phát triển. Nhưng để phát triển bền vững thì bên cạnh
việc tìm ra những lợi thế còn phải tìm ra những ALCTR nào mà ngành/DN đang phải
đối mặt để có biện pháp hạn chế các ALCTR này nhằm giúp doanh nghiệp có thể hội
nhập vững chắc trên trường quốc tế (chi tiết về các ALCTR được trình bày trong mô
hình 5 lực lượng cạnh tranh của Porter).
2.1.1.4 Khái niệm về áp lực cạnh tranh:
Michael E.Porter đã đưa ra mô hình 5 lực lượng cạnh tranh như sau:
Hình 2.1: MÔ HÌNH 5 LỰC LƯỢNG CẠNH TRANH CỦA MICHAEL.E.PORTER
( Nguồn : Michael Porter, “ Competitive Strategy”, 1980 ) [12]
11
Giải thích mô hình 5 lực lượng cạnh tranh (LLCTR) của M. Porter:
- Bất cứ ngành nghề nào cũng chịu sự tác động của năm lực lượng cạnh tranh, đó là:
sức mạnh mặc cả của nhà cung cấp, sức mạnh mặc cả của khách hàng, sức ép cạnh
tranh của đối thủ cùng ngành, mối đe dọa của đối thủ tiềm ẩn, mối đe dọa của sản
phẩm thay thế. Mỗi lực lượng cạnh tranh đều có sức mạnh riêng với những mức độ
khác nhau tùy từng ngành nghề cụ thể và sức mạnh của mỗi lực lượng tạo nên áp lực
nhất định đối với các doanh nghiệp hoạt động trong ngành đó. Các LLCTR được biểu
hiện chi tiết như sau:
(1) Sức mạnh mặc cả/Quyền lực đàm phán của nhà cung cấp (hay Áp lực cạnh
tranh từ nhà cung cấp – sau đây gọi tắt là nhà cung cấp – k ý hiệu NCC):
+ Số lượng và quy mô nhà cung cấp: Số lượng nhà cung cấp sẽ quyết định đến áp lực
cạnh tranh, quyền lực đàm phán của họ đối với ngành, doanh nghiệp. Nếu trên thị
trường chỉ có một vài nhà cung cấp có quy mô lớn sẽ tạo áp lực cạnh tranh, ảnh hưởng
tới toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh của ngành.
+ Khả năng thay thế sản phẩm của nhà cung cấp: khả năng thay thế những nguyên liệu
hưởng tới ngành trong tương lai. Đối thủ tiềm ẩn nhiều hay ít, áp lực của họ tới ngành
mạnh hay yếu sẽ phụ thuộc vào các yếu tố sau:
+ Sức hấp dẫn của ngành: Yếu tố này được thể hiện qua các chỉ tiêu như tỉ suất sinh
lợi, số lượng khách hàng, số lượng doanh nghiệp trong ngành.
+ Những rào cản gia nhập ngành: là những yếu tố làm cho việc gia nhập vào một ngành
khó khăn và tốn kém hơn: (1) Kỹ thuật, (2) Vốn, (3) Các yếu tố thương mại: Hệ thống
phân phối, thương hiệu, hệ thống khách hàng, và (4) Các nguồn lực đặc thù: nguyên
vật liệu đầu vào (bị kiểm soát), bằng cấp, phát minh sáng chế, nguồn nhân lực, sự bảo
hộ của chính phủ,
13
(4) Sức ép cạnh tranh của các DN cùng ngành (hay Áp lực cạnh tranh nội bộ
ngành – sau đây gọi tắt là đối thủ cùng ngành – k ý hiệu ĐTCN): Các DN đang kinh
doanh trong ngành sẽ cạnh tranh trực tiếp với nhau tạo ra sức ép trở lại lên ngành tạo
nên một cường độ cạnh tranh. Trong một ngành các yếu tố sau sẽ làm gia tăng sức ép
cạnh tranh trên các đối thủ:
+ Tình trạng ngành: Nhu cầu, tốc độ tăng trưởng, số lượng đối thủ cạnh tranh,
+ Cấu trúc của ngành: Ngành tập trung hay phân tán
• Ngành phân tán là ngành có rất nhiều DN cạnh tranh với nhau nhưng không có DN
nào có đủ khả năng chi phối các DN còn lại.
• Ngành tập trung: Ngành chỉ có một hoặc một vài DN nắm giữ vai trò chi phối (Điều
khiển cạnh tranh - có thể coi là độc quyền)
+ Các rào cản rút lui (Exit Barries): Giống như các rào cản gia nhập ngành, rào cản rút
lui là các yếu tố khiến cho việc rút lui khỏi ngành của DN trở nên khó khăn:
• Rào cản về công nghệ, vốn đầu tư
• Ràng buộc với người lao động
• Ràng buộc với chính phủ, các tổ chức liên quan (Stakeholder)
• Các ràng buộc chiến lược, kế hoạch.
(5) Mối đe dọa của sản phẩm thay thế (hay Áp lực cạnh tranh từ sản phẩm thay
thế - sau đây gọi tắt là sản phẩm thay thế - ký hiệu SPTT): Sản phẩm và dịch vụ
thay thế là những sản phẩm, dịch vụ có thể thỏa mãn nhu cầu tương đương với các sản
trong ngành đó càng lớn và ngược lại. Vì vậy, LLCTR và ALCTR là hai khái kiệm
phân biệt nhưng có mối quan hệ với nhau. LLCTR là khái niệm khách quan. Trong khi
đó, ALCTR là sự kết hợp các tác động của các thành phần LLCTR, DN phải vận dụng
15
các lợi thế riêng của ngành/DN, vận dụng các chiến lược, sách lược để hạn chế sức ép
của các LLCTR tác động vào ngành/DN mình nhằm giảm ALCTR cho ngành/DN, tức
là quyền lực của các LLCTR có khuynh hướng cùng chiều với ALCTR.
Bên cạnh sự ủng hộ quan điểm của M.Porter thì cũng có không ít quan điểm không
đồng ý với ông. Chẳng hạn, một số nhà nghiên cứu như Gary Hamel cho rằng không
thể dùng “5 yếu tố cạnh tranh” của Porter để phân tích cạnh tranh và lên kế hoạch kinh
doanh vì chúng ta không thể đón đầu tương lai bằng công cụ của quá khứ. Theo John
Naisbitt trong tác phẩm “Nghịch lý toàn cầu – Global Paradox, 1995” cho rằng khuynh
hướng chính của kinh doanh toàn cầu trong thế kỷ 21 là liên minh chiến lược, các yếu
tố cạnh tranh/LLCTR đã thay đổi ý nghĩa hoặc mờ nhạt đi.[12]
Tuy nhiên, quan điểm của tác giả cho rằng việc chọn mô hình 5 lực lượng cạnh tranh
của Michael Porter để xác định các nhân tố ảnh hưởng đến ALCTR cho các DNMXK
là mô hình phù hợp cho ngành may là ngành cần nhiều sức lao động chân tay và quy
trình sản xuất theo dạng truyền thống, có ranh giới ngành nghề rõ ràng hơn so các
ngành thương mại, dịch vụ khác (phù hợp hơn với mô hình năng lực động và các lý
thuyết, quan điểm của Gary Hamel, John Naisbitt).
2.1.2 Một số lý thuyết và quan điểm về các nhân tố ảnh hưởng đến tình hình cạnh
tranh của các chuyên gia kinh tế trong và ngoài nước:
Có nhiều lý thuyết ra đời theo tiến trình hoạt động của doanh nghiệp trong từng thời
điểm cụ thể để giải thích cho nguồn gốc của cạnh tranh và tình hình cạnh tranh:
- Lý thuyết cạnh tranh (Porter, 1980) thường dựa trên tiền đề là các doanh nghiệp
trong cùng một ngành có tính đồng nhất cao về mặt nguồn lực và chiến lược kinh
doanh họ sử dụng. Còn dựa vào sự khác biệt thì cho rằng lợi thế cạnh tranh của các
doanh nghiệp trong cùng một ngành thường không thể tồn tại lâu dài vì chúng có thể
dễ dàng bị các đối thủ cạnh tranh bắt chước (Barney, 1991). Các tiền đề này phù hợp
khi phân tích vai trò của môi trường đối với kết quả kinh doanh của doanh nghiệp. Hay
đến sức cạnh tranh khác nhau. Phân tích sức cạnh tranh là công việc rất phức tạp. Ở
từng góc độ xem xét cạnh tranh chúng ta đều thấy có nhiều chủ thể tác động đan xen
nhau nhằm gây ảnh hưởng đến sức cạnh tranh. Đó là tác động của người lao động với ý
nghĩa khởi nguồn của sức sáng tạo; là cơ cấu tổ chức của DN kết dính các nguồn lực
tạo nên sức mạnh tổng hợp của DN; là hệ thống luật pháp, bộ máy quản lý nhà nước và
các giá trị xã hội làm nên sức mạnh của một quốc gia, là các cơ cấu tổ chức xã hội của
DN tạo nên sức mạnh cạnh tranh của ngành. [15]
Tóm lại: Với những lập luận về các nhân tố để phân tích cạnh tranh, tình hình cạnh
tranh của các l ý thuyết, quan điểm của các nhà kinh tế trong và ngoài nước nêu trên ta
có một cái nhìn tổng quan về các nhân tố được đề cập. Nhìn chung, một số các nhân tố
(1) nhắm đến các yếu tố từ bên ngoài, một số (2) nhắm đến nội lực bên trong của DN
đứng trên giác độ tổng thể hay cho riêng từng DN.
2.1.3 Bài học rút ra cho các doanh nghiệp may xuất khẩu tại TP.HCM:
Là một nước đi sau trong phát triển kinh tế thị trường, doanh nghiệp Việt Nam có thể
thông qua các bài học của DN nước khác để tránh được sai lầm. Căn cứ vào kinh
nghiệm đã có và thực tiễn kinh tế ngày nay, có thể gợi ý các hướng suy nghĩ để tìm ra
các nhân tố tác động đến ALCTR của các DNMXK tại TP.HCM như sau:
- DNMXK Việt Nam cần đánh giá mức độ cạnh tranh của DN mình trên những yếu tố
như: đánh giá mức độ phản ứng thị trường, chất lượng mối quan hệ với các đối tác kinh
doanh (khách hàng, nhà cung cấp, các kênh marketing trung gian, các doanh nghiệp
cùng ngành, vv…), và cả những đối thủ tiềm ẩn có khả năng gia nhập ngành.
- Sau khi đánh giá tình trạng hiện tại của các yếu tố trên, doanh nghiệp có thể nhận ra
được mức độ căng thẳng của cạnh tranh hiện tại của mình. Trên cơ sở này, DN sẽ dễ
dàng hơn trong việc đầu tư để phát hiện, cải thiện và điều chỉnh chúng, biến chúng
18
thành sức mạnh, văn hóa kinh doanh của đơn vị để mọi thành viên hiểu rõ chúng cũng
như vai trò, trách nhiệm của họ trong việc gìn giữ và phát triển DN ngày một tốt hơn.
- Luôn tỉnh táo và phát hiện ra các yếu tố tiềm ẩn có thể gây bất lợi cho doanh nghiệp
để có biện pháp ngăn ngừa hoặc giảm thiểu thiệt hại có thể xảy ra trong từng thời điểm
cụ thể của quá trình kinh doanh.
Hình 2.3: MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN ÁP
LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP MAY XUẤT KHẨU TẠI TP.HCM
2.2.2 Các giả thuyết nghiên cứu
Như mô hình lý thuyết, sức mạnh của các lực lượng cạnh tranh cùng tác động đến
ngành/DN tạo nên một áp lực cạnh tranh tổng thể đến các doanh nghiệp hoạt động
trong ngành đó. Tác giả nêu các giả thuyết nghiên cứu như sau:
H1: Sức mạnh mặc cả của các nhà cung cấp có tác động dương (cùng chiều) đến
ALCTR của doanh nghiệp.
H2: Sức mạnh mặc cả của các khách hàng nước ngoài (người mua) có tác động
dương (cùng chiều) đến ALCTR của doanh nghiệp.
H3: Sức ép cạnh tranh từ các đối thủ cạnh tranh cùng ngành có tác động dương
(cùng chiều) đến ALCTR của doanh nghiệp.
H4: Mối đe dọa xâm nhập của các đối thủ tiềm ẩn có tác động dương (cùng chiều)
đến ALCTR của doanh nghiệp.
Sức ép cạnh tranh của Đối thủ cùng ngành – (ĐTCN)
Mối đe dọa xâm nhập của Đối thủ tiềm ẩn – (GNN)
S
ứ
c m
ạ
nh m
ặ
c c
ả
c
ủ
a
Nhà cung c
ấ
- Đề xuất mô hình nghiên cứu lý thuyết và xây dựng mô hình nghiên cứu thực tế để
phục vụ cho việc nghiên cứu trong các chương tiếp theo.
21
CHƯƠNG 3: TỔNG QUAN NGÀNH MAY VIỆT NAM
VÀ THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU
Chương 3 bao gồm các nội dung sau: (I) Tổng quan ngành may Việt Nam và (II)
Thiết kế nghiên cứu: (1) Tiến độ và quy trình nghiên cứu, (2) Thiết kế nghiên cứu
khám phá (định tính): quy trình nghiên cứu và xây dựng thang đo và (3) Thiết kế
nghiên cứu chính thức (định lượng): Mẫu và thông tin của mẫu.
3.1 Tổng quan về ngành may Việt Nam
3.1.1 Tình hình chung của cơ cấu kinh tế và lực lượng lao động:
- Cơ cấu kinh tế: Theo thống kê của Hiệp hội Dệt may Việt Nam, nếu phân loại theo
nguồn vốn sở hữu thì số DN dệt may Việt Nam là 3700 DN. Trong đó DN nhà nước:
<1%, DN tư nhân và cổ phần: >81% và DN có vốn đầu tư nước ngoài: 18%. Như vậy
có thể thấy số lượng DN dệt may có quy mô nhỏ và các DN ngoài quốc doanh chiếm
đa số tại Việt Nam. Trong đó, DN may chiếm 70%, dệt 17%, sợi 6%, nhuộm 4%, phụ
trợ 3% theo số liệu của hình dưới đây:
SỐ DOANH NGHIỆP THEO SẢN PHẨM
DỆT
17%
MAY
3.1.2.1 Kim ngạch và thị trường xuất khẩu ngành dệt may Việt Nam:
Bảng 3.1: Kim ngạch xuất khẩu toàn ngành từ 2006 – 2011
Đvt: triệu USD
NĂM 2006 2007 2008 2009 2010 2011
Bình
quân/năm
Kim ng
ạ
ch XK
5927
7780
9130
9070
11200
15800
%tăng tr
ưở
ng
23%
31%
17%
-1%
23%
41%
23%
Kim ng
ạ
ch XK
3186
4400
11%
33%
20%
Kim ng
ạ
ch XK
636
700
820
1000
1155
1684
%tăng tr
ưở
ng
5%
10%
17%
22%
16%
46%
19%
Tổng
USA
EU
Nhật Bản
Nguồn: Hội dệt may [2] - và tính toán của tác giả
THỊ TRƯỜNG XUẤT KHẨU 2011
USA
43%
Việt – Mỹ và đặc biệt khi Việt Nam trở thành viên chính thức của WTO, thị trường và
thị phần XK hàng may mặc của Việt Nam ngày càng phát triển. Trong đó, thị trường
Mỹ đứng đầu với KNXK năm 2011 là 6,87 tỷ USD (chiếm 43% tổng KNXK dệt may);
tiếp theo là EU với 2,5 tỷ USD (chiếm 16%) và Nhật Bản 1,68 tỷ USD (chiếm 11%).
Ngoài ra còn các thị trường khác như: Đài Loan (1%), Hàn Quốc (6%), Asean (2%),
v.v. Do vậy, Việt Nam tiếp tục duy trì trong top 5 quốc gia có lượng hàng dệt may XK
lớn nhất vào thị trường Mỹ.
3.1.2.2 Tình hình kinh tế và quy mô thị trường thế giới năm 2011:
+ Tình hình kinh tế: Năm 2011 là năm rất khó khăn, hầu hết các nền kinh tế trên thế
giới đều gặp phải nhiều vấn đề về tăng trưởng, lạm phát, tài chính, thất nghiệp,…
Bảng 3.2: Tăng trưởng GDP của một số nền kinh tế lớn năm 2011 (%).
Quốc gia
Năm
2010
Năm
2011
Tỷ lệ lạm phát
năm 2011 (%)
Tỷ lệ thất nghiệp
năm 2011 (%)
Mỹ 3,0 1,5 3,0
9,1
EU 1,8 1,6 2,5
9,9
Anh 1,4 1,1 4,5 7,8
Nhật Bản 4,0 -0,5 -0,4 4,9
Trung Quốc 10,3 9,5 5,5
4,0
Nguồn: Hội dệt may [5]
24
Hình 3.4: Kim ngạch nhập khẩu hàng dệt may vào Mỹ. Nguồn: Hội dệt May [5]
$0
$10,000,000,000
$20,000,000,000
$30,000,000,000
$40,000,000,000
$50,000,000,000
$60,000,000,000
$70,000,000,000
$80,000,000,000
$90,000,000,000
$100,000,000,000
2008 2009 2010 10T/2011
Indonesia
Pakistan
Mexico
Bangladesh
Ấn Độ
Việt Nam
Trung Quốc
Các nước khác
25
Có thể so sánh các quốc gia xuất khẩu vào thị trường Mỹ qua các quý 2011 như sau:
Bảng 3.3: KNNK hàng dệt may các nước vào thị trường Mỹ năm 2011.
Nguồn: Hội dệt may [5]
- Các thị trường khác năm 2011: EU, Nhật bản, Hàn Quốc,…: Tiếp tục tăng trưởng
và phát triển trong năm 2011.