A. LÝ THUYẾT : THƯƠNG MẠI HÀNG HOÁ.
I. BẢN CHẤT VÀ CÁC HÌNH THỨC MUA BÁN CHỦ YẾU TRONG THƯƠNG
MẠI HÀNG HÓA.
1. Bản chất và phân loại Thương mại hàng hóa
1.1 Khái niệm Thương mại hàng hóa.
Thương mại hàng hóa là lĩnh vực trao đổi hàng hóa hữu hình, bao gồm tổng thể
các hoạt động mua bán hàng hóa và các hoạt động hỗ trợ của các chủ thể kinh tế
nhằm thúc đẩy quá trình trao đổi đó diễn ra theo mục tiêu đã xác định.
Trong thương mại hàng hóa, quan hệ giữa người bán và người mua được thể
hiện trên thị trường thông qua hình thức trao đổi hàng hóa - tiền tệ hoặc hàng đổi
hàng.
1.2 Phân loại thương mại hàng hóa.
- Theo công dụng của hàng hóa:
+ Thương mại hàng sãn xuất: phản ánh quan hệ mua bán hoặc xuất khẩu các
hàng hóa với tư cách là các đầu tư vào sản xuất kinh doanh, bao gồm vật tư,
nguyên nhiên vật liệu, máy móc
+ Thương mại hàng tiêu dùng: là sự trao đổi mua bán hàng lương thực, thực
phẩm, công nghiệp tiêu dùng nhằm đáp ứng nhu cầu dời sống và sinh hoạt của con
người, nhu cầu tái sãn xuất sức lao động.
- Theo phạm vi trao đổi:
+ Thương mại hàng hóa trong nước: phản ánh quan hệ trao đổi hàng hóa giữa
các chủ thể trong nước tham gia thị trường trong giới hạn lãnh thổ quốc gia.
+ Thương mại hàng hóa quốc tế: phản ánh hoạt động trao đổi ngoại thương
giữa các nước trong khu vực hoặc trên thế giới.
- Theo đặc điểm của lưu chuyển hàng hóa:
+ Thương mại hàng hóa bán buôn : là sự trao đổi, mua bán hàng hóa giữa các
nhà sản xuất với sản xuất, sản xuất với thương nhân Hoạt động này diễn ra chủ
yếu ở các chợ đầu mối, trung tâm bán buôn
+ Thương mại hàng hóa bán lẻ: là sự trao đổi mua bán trực tiếp về hàng hóa
giữa người sản xuất hoặc thương nhân bán lẻ và người tiêu dùng. Hoạt động này
thưởng diễn ra ở chợ, cửa hàng bách hóa, siêu thị
3.3 Mua bán qua đại lý và môi giới.
- Mua bán qua đại lý: Người sản xuất muốn trao đổi, mua bán với nhau hoặc
với người tiêu dùng, trong trường hợp này phải qua đại lý. Những mặt hàng áp
dụng phương thức mua bán này thường có quy mô sản xuất lớn, tính chuyên môn
hóa cao và được tiêu chuẩn hóa.
- Mua bán qua môi giới: Giữa người mua và người bán không tiến hành các
quan hệ giao dịch trực tiếp với nhau mà thông qua môi giới. Phương thức này
thường được áp dụng trong trường hợp người bán không biết người mua hoặc
ngược lại, ngoài ra còn có những yếu tố khác như năng lực giao dịch trực tiếp bị
hạn chế
3.4 Mua bán truyền thống và qua mạng Internet.
- Mua bán truyền thống: Người bán và người mua phải tiếp xúc trực tiếp với
nhau tại các địa điểm nhất định để thực hiện các giao dịch mua bán và thanh toán.
- Mua bán qua mạng Internet: Sử dụng Internet để tiến hành các giao dịch mua
bán hoặc xuất, nhập khẩu.
3.5 Mua bán thanh toán ngay và mua bán chịu.
- Mua bán thanh toán ngay có thể áp dụng cho toàn bộ lô hàng hoặc cả hợp đồng.
- Mua bán chịu áp dụng trong trường hợp giao hàng trước, thanh toán sau.
3.6 Các phương thức khác:
- Tạm nhập tái xuất: là phương thức xuất khẩu trở lại nước ngoài( ở nước tái
xuất) đối với những sản phẩm trước đây đã nhập khẩu nhưng chưa qua chế biến.
- Buôn bán đối lưu: Là phương thức hàng đổi hàng trong đó hoạt động mua và
bán kết hợp chặt chẽ với nhau, người bán đồng thời là người mua.
- Xuất nhập khẩu tại chỗ: Là phương thức mua bán giữa một bên trong nước và
mọt bên nước ngoài nhưng thông qua thể nhân hoặc pháp nhân của nước này đang
hiện diện ở nước bên kia.
- Gia công thương mại: Là phương thức trao đổi mà bên nhận gia công tiếp
nhận vật tư, nguyên liệu do bên đặt gia công giao hoặc bán cho, sau đó giao hoặc
bán lại cho bên đặt gia công.
- Đấu giá: Là phương thức mua bán đặc biệt trong đó hàng hóa được tổ chức
khả năng thanh toán của dân cư và ngược lại.
- Hạ tầng của thị trường về kỹ thuật, về dân cư và pháp lý, dung lượng thị
trường, quan hệ cung cầu, xu hướng cạnh tranh về chất lượng đều ảnh hưởng tới
nhu cầu có khả năng thanh toán của dân cư và xã hội.
* Nhóm yếu tố về chính sách điều tiết vĩ mô của chính phủ.
Chính sách của chính phủ có thể điều tiết cung, cầu và mối quan hệ đó, cũng
như giá cả.
1.3 Hoạt động mua hàng trên thị trường.
- Hoạt động mua hàng là bộ phận cấu thành của hoạt động thương mại. Hoạt
động mua hàng luôn phản ánh một cách trực tiếp hoặc gián tiếp nhu cầu có khả
năng thanh toán của dân cư, của xã hội và doanh nghiệp.
- Đối với thương nhân, hoạt động mua hàng bao giờ cũng là khởi đầu của hoạt
động thương mại.
2. Cung ứng và nguốn cung ứng hàng hóa
2.1 Khái niệm và các nhân tố ảnh hưởng tới cung ứng hàng hóa.
* Khái niệm: Cung ứng hàng hóa là tổng trị giá và cơ cấu hàng hóa hiện có và sẽ
có bán trên thị trường để đáp ứng nhu cầu có khả năng thanh toán trong một
khoảng thời gian nhất định.
Cung ứng hàng hóa bao gồm những hàng hóa là các thành phẩm đã kết thúc quá
trình sản xuất.
*Các yếu tố ảnh hưởng tới cung ứng hàng hóa:
- Yếu tố về sản xuất
- Yếu tố về nguồn hàng nhập khẩu.
- Yếu tố về thị trường.
- Các chính sách vĩ mô.
2.2 Nguồn hàng cung ứng trên thị trường.
* Khái niệm: Nguồn hàng là nguồn tạo ra hàng hóa để cung ứng trên thị trường.
* Tạo lập nguồn hàng cung ứng trên thị trường:
- Nguồn hàng có 2 loại là nguồn hàng trong nước và nguồn nhập khẩu.
- Một mặt quy mô, cơ cấu và sự phân bố nguồn hàng ảnh hưởng trực tiếp đến
dự trữ bảo hiểm.
- Dự trữ thường xuyên : bao gồm toàn bộ những hàng hóa thường xuyên phải có
trên thị trường, nếu thiếu hàng sẽ gián đoạn lưu thông gây khó khăn và trở ngại cho
sản xuất và đời sống.
- Dự trữ thời vụ : bao gồm những hàng hóa được hình thành ở vào thời vụ của
sản xuất và tiêu dùng nhằm tận dụng tối đa các cơ hội trong mua và bán hàng hóa
hoặc khắc phục tính thời vụ của sản xuất và tiêu dùng.
- Dự trữ bảo hiểm: là loại dự trữ đề phòng những rủi ro, bất trắc xảy ra.
* Các phân loại khác như theo qui mô, thời gian, hình thức biểu hiện, và sự vận
động của dự trữ.
- Theo qui mô : bao gồm dự trữ thấp, cao nhất, và bình quân.
- Theo thời gian : gồm dự trữ hiện vật, tri giá dự trữ và thời gian dự trữ.
- Theo quá trình vận động : gồm hàng hóa dự trữ trong các kho hàng hóa đang
trên đường đi, hàng gửi bán hoặc quảng cáo tại các hội chợ thương mại.
3.3. Các nhân tố ảnh hưởng tới dự trữ hàng hóa.
Các nhân tố ảnh hưởng tới dự trữ hàng hóa bao gồm:
- Các yếu tố thuộc về sản xuất như quy mô, cơ cấu, trình độ, tính chất và sự
phân bố sản xuất.
- Hệ thống giao thông và hạ tầng kỹ thuật.
- Mạng lưới thương mại và hệ thống phân phối, cơ sở vật chất kỹ thuật thương
mại.
- Tình hình thị trường và cạnh tranh trong thương mại, quan hệ cung cầu hàng
hóa giá cả, mức độ cạnh tranh và xu hướng biến động của các yếu tố và các quan
hệ khác.
3.4. Chi phí lưu thông hàng hóa.
* khái niệm.
Chi phí lưu thông là biểu hiện bằng tiền toàn bộ hao phí về lao động vật hóa phục
vụ cho việc tổ chức và quản lý quá trình lưu thông hàng hóa trong nền kinh tế.
Chi phí lưu thông trong nền kinh tế bao gồm chi phí lưu thông của nhà sản xuất
trong mua các yếu tố đầu vào, tiêu thụ sản phẩm đầu ra, chi phí lưu thông của nhà
* Các chỉ tiêu chủ yếu biểu hiện kết quả trong thương mại hàng hóa.
- Tổng mức lưu chuyển hàng hóa, thể hiện kết quả hoạt động thương mại nội địa
hay lưu thông hàng hóa trong nước.
- Tổng mức lưu chuyển hàng hóa bán buôn phản ánh kết quả dưới hình thái giá
trị các giao dịch thương mại diễn ra trên thị trường giữa các doanh nghiệp với nhau
trong hoạt động mua bán.
- Tổng mức lưu chuyển hàng hóa bán lẻ là chỉ tiêu phản ánh kết quả cuối cùng
của hoạt động lưu thông hàng hóa trong nước. Chỉ tiêu này rất cần thiết cho các
phân tích kinh tế vĩ mô về cân đối cung cầu, quĩ mua và nhu cầu có khả năng thanh
toán của cư dân và xã hội.
- Tổng kim nghạch xuất nhập khẩu phản ánh toàn bộ hoạt động thương mại
quốc tế hai chiều của một quốc gia, bao gồm kim nghạch xuất khẩu và nhập khẩu.
- Giá trị gia tăng trong thương mại hàng hóa là một chỉ tiêu rất quan trọng trong
hoạt động thương mại. Nó phản ánh khoảng cách chênh lệch tuyệt đối giữa kết quả
đạt được và chi phí nguồn lực bỏ ra trong trao đổi thương mại hàng hóa của quốc
gia. Giá trị gia tăng là chỉ tiêu phản ánh kết quả tăng trưởng kinh tế của quốc gia.
Là thước đo về hiệu quả và sức cạnh tranh của thương mại.
- Ngoài ra còn có chỉ tiêu tri giá thương mại hàng gia công. Trong thương mại
ngoài kết quả trao đổi theo các giao dịch thông thường còn có gia công, lắp ráp,
chế biến sản phẩm. Tuy mang tính sản xuất nhưng lại diễn ra trong khâu lưu thông
nên được tính là giá trị thương mại. Trị giá hàng hóa gia công trong lưu thông
thương mại quốc tế được coi là kim nghạch xuất khẩu thương mại. Có ý nghĩa
quan trọng trong đánh giá hiệu quả xã hội của thương mại thể hiện ở thu hút việc
làm, khai thác lợi thế về nhân công dồi dào, giá rẻ.
* Đặc điểm phát triển có tính quy luật trong thương mại hàng hóa.
Quy mô thương mại hàng hóa ngày càng tăng lên trên cả thị trường nội địa và
thị trường xuất khẩu, tỷ trọng thương mại có xu hướng giảm trong tổng thương
mại.
Cơ cấu thương mại hàng hóa ngày càng thay đổi theo hướng đa dạng hơn,
phong phú hơn và đáp ứng ngày càng nhanh hơn, tốt hơn nhu cầu thị trường.
- Tiêu cực: bóp méo thương mại cà cạnh tranh, phân biệt đối xử. Có nguy cơ tạo
nên sự trì trệ, thiếu năng động, không thúc đẩy đổi mới và phát triển nếu bảo hộ
không hợp lí, không có giới hạn,
* Xu hướng cơ bản về hội nhập trong thương mại hàng hóa quốc tế.
Đơn phương mở của thị thường, hợp tác song phương và tự do hóa thương mại
hàng hóa.
Khu vực hóa tự do hóa thương mại khu vực.
Tăng cường hợp tác, thực hiện các cam kết và thỏa thuận đa phương.
B. PHÁT TRIỂN THƯƠNG MẠI HÀNG MAY MẶC TRÊN THỊ TRƯỜNG NỘI
ĐỊA.
I. Tính cấp thiết của đề tài và tình hình chung của thị trường may mặc nội địa.
1. Tính cấp thiết:
Từ năm 2005, ngoài việc tập trung sử dụng hiệu quả lượng hạn ngạch vào Mỹ,
khai thác tốt thị trường Nhật, SNG, đặc biệt là EU, các chuyên gia cho rằng, doanh
nghiệp dệt may VN nên tập trung đầu tư hơn cho "sân nhà".
Theo tính toán của Tổng công ty Dệt may VN (Vinatex), năm 2004, các doanh
nghiệp may đã dành tới hơn 92% lượng sản phẩm để xuất khẩu. Điều đó cho thấy
thị trường nội địa chưa được chú trọng đúng mức.
Các chuyên gia thương mại khuyến cáo, trong bối cảnh các nước thành viên Tổ
chức thương mại thế giới (WTO) đã được bãi bỏ hạn ngạch, còn VN thì chưa, hàng
dệt may sẽ đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức trên thị trường xuất khẩu. Do
đó, trong thời gian tới, ngoài việc tiếp tục tận dụng cơ hội hạn ngạch được xoá bỏ ở
một số thị trường xuất khẩu trọng điểm, các doanh nghiệp dệt may VN nên tập
trung nguồn lực để phát triển thị trường nội địa nhiều hơn nữa.
Trong chiến lược quay về "sân nhà", các doanh nghiệp vừa và nhỏ sẽ có vai trò
quan trọng. Chủ tịch Hiệp hội Dệt may cho rằng, lợi thế của các doanh nghiệp này
là rất linh hoạt và bắt nhịp rất nhanh với xu hướng thị trường.
Hơn nữa, Bộ Thương mại, Bộ Công nghiệp và Hiệp hội Dệt may đã có chủ
trương thành lập những liên kết chuỗi để có thể cộng sức mạnh của các doanh
nghiệp trung ương và địa phương, giữa doanh nghiệp lớn và nhỏ với nhau.
Hàng may mặc Việt Nam không chỉ tập trung ở hệ thống siêu thị, mà ngày càng
xuất hiện nhiều cửa hàng chuyên bán các sản phẩm may mặc Việt Nam. Theo nhận
định của giới kinh doanh, hệ thống các cửa hàng này đã “đủ sức” cung ứng ra thị
trường nhiều mẫu mã quần áo hợp thời trang, phù hợp cho mọi đối tượng và thị
hiếu NTD. Đặc biệt, NTD trong nước có thể chấp nhận giá bán khá hợp lý (từ vài
chục ngàn đến vài triệu đồng/sản phẩm), hàng thời trang Việt đang dần chiếm lĩnh
thị trường, nhất là phân khúc thị trường cao cấp – trước đây chủ yếu thuộc về các
hàng nhập khẩu. Theo thống kê từ các siêu thị, hàng may mặc Việt Nam chiếm
khoảng 90% tổng lượng hàng đang kinh doanh. Trên thị trường hiện nay, các
thương hiệu như: Việt Tiến, Việt Thắng, Mattana, An Phước, Việt Thy, Ninomaxx,
M&N, Sifa, Foci, Blue Exchange ngày càng được khách hàng tin dùng.
Hàng may mặc Việt cạnh tranh bằng chất lượng, đa dạng chủng loại từ dòng
hàng phổ thông đến trung và cao cấp, các nhãn hàng thời trang trẻ em “Made in
Vietnam” đang có chỗ đứng khá vững trên thị trường. Nhiều nhãn hàng đã xác lập
được thương hiệu của mình như: Việt Thy Kids, Sanding, Kids & Kico, YF, A&T,
Pencil
II. Hiện trạng, tiềm lực và chiến lược phát triển của thương mại hàng may mặc trên
thị trường nội địa.
1. Hiện trạng thị trường hàng may mặc nội địa.
1.1 Tích cực.
1.1.1 Sự tăng trưởng khá của may mặc Việt Nam.
Theo Hiệp hội Dệt may Việt Nam, với 85 triệu dân hiện nay và sẽ tăng lên 100
triệu dân trong năm 2015, thị trường tiêu thụ nội địa rất lớn, các doanh nghiệp sản
xuất hàng dệt may không thể bỏ qua cơ hội để chiếm lĩnh thị trường nội địa. Năm
2009, tổng tiêu thụ nội địa ước đạt 1,8 tỷ USD, trong khi đó, xuất khẩu dệt may đạt
gần 6 tỷ USD, tốc độ tăng trưởng trong tiêu thụ hàng nội địa đạt khoảng 15%/năm,
nhưng thực tế chỉ chiếm 1/4 năng lực sản xuất. Phần lớn doanh nghiệp dệt may
trong nước chỉ chú trọng đầu tư để xuất khẩu là chính, chưa quan tâm nhiều cho
phát triển xây dựng thương hiệu tại thị trường nội địa
Các doanh nghiệp phải xác định, dùng thị trường nội địa làm căn bản, thị trường
hàng; 60 siêu thị Vinatex – mart, Trung tâm thương mại. Với chiến lược phát triển
thị trường nội địa, các doanh nghiệp thuộc tập đoàn đã tích cực tham gia các hoạt
động như đưa hàng về nông thôn, hội chợ quảng bá sản phẩm dệt may…
Trong năm qua, các doanh nghiệp (DN) thành viên của Tập đoàn Dệt may Việt
Nam (Vinatex) đã nỗ lực đầu tư sản xuất, chú trọng đổi mới mẫu mã sản phẩm,
củng cố và phát triển thương hiệu, mở rộng kênh phân phối để chiếm lĩnh thị phần
tại thị trường trong nước. Nhiều đơn vị có tăng trưởng cao như Tổng Công ty May
Đức Giang - tăng 27%; các công ty may Tân Châu, Đáp Cầu, Bình Minh… tăng
hơn 16%. Trong đó, hệ thống phân phối của Công ty CP Kinh doanh hàng thời
trang Việt Nam (Vinatexmart) đóng vai trò quan trọng đưa sản phẩm đến với người
tiêu dùng.
Bằng việc mở rộng điểm bán hàng để chiếm lĩnh thị trường, đến nay
Vinatexmart đang sở hữu 82 siêu thị tại 28 tỉnh, thành phố trên cả nước. Ngoài ra,
các đơn vị thành viên của Vinatex cũng tích cực mở rộng hệ thống cửa hàng giới
thiệu sản phẩm, đại lý về khắp các tỉnh, thành phố với khoảng 4.000 điểm bán
hàng. Kênh phân phối này đã góp phần đưa hàng dệt may chất lượng tốt, giá cả
hợp lý đến người tiêu dùng. Bên cạnh đó, trong chương trình hợp tác tiêu thụ sản
phẩm của nhau giữa các tập đoàn, tổng công ty thuộc Bộ Công thương mới đây,
Vinatex đã ký kết 7 biên bản ghi nhớ với các tập đoàn: Dầu khí Việt Nam, Xăng
dầu Việt Nam, Điện lực Việt Nam, Hóa chất Việt Nam… Ngoài ra, Vinatex còn
thực hiện hơn 15 đợt bán hàng phục vụ công nhân tại các khu công nghiệp khắp cả
nước; đưa hàng về vùng sâu, vùng xa các tỉnh phía Bắc, miền Trung, khu vực
Đông Nam bộ, Tây Nam bộ…
Để tăng năng lực cạnh tranh cho các DN, Tập đoàn đã đầu tư mới và bổ sung
hơn 50 dự án, chủ yếu trong lĩnh vực sợi, dệt nhuộm và may. Trong đó có những
dự án trọng điểm đã đi vào hoạt động trong năm qua như: Đầu tư 4 vạn cọc sợi của
Công ty CP Dệt may Nha Trang, với công suất thiết kế 4.200 tấn/năm; Nhà máy
sợi Phú Xuyên, với sản lượng thiết kế 2.800 tấn/năm; đầu tư bổ sung 1 vạn cọc sợi
tại Tổng Công ty Dệt may Hòa Thọ, với công suất thiết kế 1.200 tấn/năm… Nhờ
đó, năng lực tăng thêm sau khi đầu tư đạt gần 8.000 tấn sợi, 868 tấn vải dệt kim,
của Việt Nam đã xây dựng những tiêu chí về môi trường, tiêu chí về đảm bảo sức
khỏe của người tiêu dùng rất chặt chẽ. Đây không chỉ là vấn đề đảm bảo môi
trường, đảm bảo cho quyền lợi của người tiêu dùng mà đây cũng chính là những
rào cản thương mại khó vượt của các nước nhập khẩu.
Mặt khác, theo Tập đoàn dệt may, việc tái cấu trúc còn tập trung phát triển
ngành theo chiều sâu như đầu tư cho khoa học kỹ thuật, hiện đại hóa công nghệ sản
xuất thông qua đó giảm số lượng công nhân, nâng cao giá trị gia tăng cho sản
phẩm, tiết kiệm năng lượng, cải thiện môi trường làm việc cho người lao động…
Điều đáng mừng là một số doanh nghiệp trong ngành bao gồm : Tổng công ty Cổ
phần dệt may Hòa Thọ, May Việt Tiến… đã rất chủ động trong việc đầu tư cho
khoa học kỹ thuật, đặc biệt sử dụng phương pháp Lean. Đây là phương pháp sản
xuất tinh gọn, giúp doanh nghiệp rút ngắn thời gian gia công sản phẩm, tiết kiệm
năng lượng, giảm chi phí sản xuất giúp tăng lợi nhuận. Cùng đó, Tập đoàn dệt may
sẽ tiếp tục hướng doanh nghiệp tập trung theo hướng đẩy mạnh thương mại điện tử
và nên có định hướng cùng nhau phối hợp xây dựng một sàn giao dịch sản phẩm
dệt may điện tử. Khi có một hệ thống hàng hóa được mã hóa, số hóa doanh nghiệp
sẽ rất thuận lợi trong việc quản lý, phân phối.
Tái cấu trúc lại ngành dệt may không phải là điều dễ dàng, nhưng với những
thành quả mà ngành đạt được trong những năm qua thì đây không phải là những
khó khăn không thể vượt qua.
1.1.2 Người tiêu dùng đã nhận thức đúng hơn về hàng Việt.
Việt Nam vẫn là một nước đang phát triển và mức thu nhập bình quân đầu
người chưa cao. Nhìn chung, người tiêu dùng Việt Nam chưa thực sự cần hàng dệt
may có thương hiệu nổi tiếng, mà chủ yếu là giá cả hợp lý, kiểu dáng chấp nhận
được, chất liệu phù hợp là được.
Người tiêu dùng Việt Nam khó tính. Với thu nhập bình quân đầu người thấp,
hơn 70% dân số sống ở khu vực nông thôn. Thực tế thì trong lĩnh vực may mặc,
thời trang
Tâm lý chung ai cũng muốn mặc đồ tốt và rẻ. Hiện tại Việt Nam có 3 xu thế chính.
doanh nghiệp như: Nhà Bè, Việt Tiến, May 10
Công ty may Nhà Bè khởi đầu từ hai xí nghiệp may Ledgine và Jean Symi
thuộc khu chế xuất Sài Gòn hoạt động từ trước năm 1975. Sau hơn 30 năm, thành
công lớn nhất của Nhà Bè là tạo được uy tín với khách hàng trong và ngoài nước
về năng lực sản xuất, chất lượng sản phẩm, đồng thời xây dựng được một đội ngũ
vững mạnh, đoàn kết hướng đến những mục tiêu cao hơn.
Được biết đến là công ty đi đầu về ngành may mặc Việt Nam, Việt Tiến được
người tiêu dùng bình chọn là Hàng Việt Nam chất lượng cao 15 năm liền từ 1997-
2012 qua báo Sài Gòn Tiếp Thị. Với trình độ tay nghề cao cùng với đội ngũ quản lí
chuyên nghiệp, công ty may Việt Tiến đưa đến cho người tiêu dùng nhiều sản
phẩm chất lượng , mỗi năm công ty đưa đến thị trường khoảng 40.000.000 sản
phẩm cùng hàng chục mẫu mã khác nhau, doanh thu hàng chục tỷ đồng. Không chỉ
dừng lại ở thị trường trong nước, sản phẩm may mặc của Việt Tiến còn có giá trị
xuất khẩu ra nước ngoài, thị trường chính: Mỹ, Tây Âu, châu Á, các nước
ASEAN…
Nằm trên số 765 Nguyễn Văn Linh, Sài Đồng, Long Biên, Hà Nội, May 10 với
hơn 60 năm hình thành và phát triển đã trở thành doanh nghiệp mạnh trên thị
trường may mặc Viêt Nam. Mỗi năm tổng công ty cung ứng ra thị trường khoảng
21 triệu sản phẩm chất lượng cao các loại, hơn 80% xuất khẩu sang các thị trường:
Mỹ, EU, Nhật Bản công ty còn nhận được các giải thưởng: Giải thưởng Chất
lượng Việt Nam, Giải thưởng Chất lượng Châu Á - Thái Bình Dương.
Chính nhờ sự phát triển của các doanh nghiệp may hiện nay đã góp phần thúc
đẩy nền kinh tế phát triển, tăng tổng thu nhập quốc dân, đưa Việt Nam lên tầng cao
mới về phát triển các ngành công nghiệp trong nền kinh tế.
1.1.4 Hàng may mặc giảm giá để chiếm lĩnh thị trường trong nước.
Trước sự tẩy chay hàng Trung Quốc mạnh mẽ của người tiêu dùng Việt, hàng
Việt Nam lại càng có cơ hội bao phủ thị trường trong nước. Thế nhưng một số
doanh nghiệp lại tỏ ra lúng túng với chính thị trường nước nhà bởi từ trước đến
nay, họ chỉ quen làm ra các sản phẩm phục vụ xuất khẩu, nay kinh tế khó khăn
không xuất đi được đành quay về bán cho người tiêu dùng trong nước. Vì thế, mẫu
đồng/sản phẩm vào dịp cuối năm ngoái. Ngoài ra, năm nay, thương hiệu còn gia
tăng thêm dịch vụ bán hàng trên mạng, mua hàng cho đổi trả trong 30 ngày và thực
hiện chương trình bán hàng lưu động tại các ký túc xá sinh viên, với mức giảm giá
30 – 70% tuỳ mặt hàng.
Mặc dù là sản phẩm mới, nhưng các siêu thị như Co.opmart tung ra bộ sưu tập
hàng may mặc Giáng sinh với 450 mẫu mới, cũng giảm giá đến 50%. Vinatexmart
cũng tương tự, giảm giá đến 50% cho hơn 500 mẫu mới dành cho Noel và Tết.
Có thể thấy, song song với việc tung hàng mới, các nhãn hiệu may mặc đều có
chương trình khuyến mãi giảm giá mạnh, mức giảm giá lên đến 90% để thanh lý
hàng tồn, và tạo tâm lý giá rẻ kéo khách. Với những chiêu quảng cáo bằng cách
giảm giá mạnh, cộng với các thiết kế phù hợp với người tiêu dùng trong nước, hy
vọng ngành dệt may Việt Nam sẽ bao phủ được thị trường trong nước, không chỉ ở
thành thị mà còn có mặt tại nông thôn, đánh bật những mặt hàng bẩn và độc hại ra
khỏi cuộc sống người Việt.
1.2 Tiêu cực.
1.2.1 Thị trường nội địa chưa được khai thác tốt, chưa đáp ứng đủ nhu cầu người
tiêu dùng.
Suốt một thời gian dài tập trung chủ yếu vào hàng xuất khẩu, các doanh nghiệp
(DN) kinh doanh hàng may mặc trong nước hầu như chưa coi trọng thị trường nội
địa, trong khi đã có hơn 140 thương hiệu nước ngoài có mặt tại Việt Nam, cùng
lượng lớn hàng nhái đồ hiệu Trung Quốc.
Các doanh nghiệp chưa khai thác tốt thị trường nội địa. Khi nhận thức rõ tầm
quan trọng của thị trường nội địa với hơn 80 triệu dân là thị trường giàu tiềm năng,
nhất là trong bối cảnh nền kinh tế suy thoái, xuất khẩu khó khăn, các DN đã đầu tư
cho việc xây dựng thương hiệu, nâng cao chất lượng sản phẩm, tăng cường quảng
bá. Song để có thể đứng vững trên thị trường nội địa trong bối cảnh yêu cầu của
người tiêu dùng ngày càng cao, DN cùng nhà thiết kế (NTK) cần nghiên cứu một
cách bài bản về nhu cầu, thị hiếu của người tiêu dùng.
Hiện nay, khách hàng tiêu dùng thời trang có thể tạm chia làm 3 nhóm:
- Nhóm có thu nhập thấp thường sử dụng hàng may sẵn, rẻ tiền nhưng nhanh
nhất là đối với những người có thu nhập thấp. Bởi, hiện các sản phẩm áo ngực có
thương hiệu- dù sản xuất trong nước- giá vẫn đắt hơn nhiều so với sản phẩm của
Trung Quốc.
Ghi nhận tại thị trường cho thấy, các sản phẩm áo ngực bình dân chủ yếu là
hàng có xuất xứ từ Trung Quốc, giá chỉ 20.000 - 50.000 đồng/chiếc. Một số loại
cao cấp hơn, giá cũng chỉ 70.000 - 80.000 đồng/chiếc. Trong khi đó, hàng sản xuất
trong nước có thương hiệu được nhiều người biết đến lại không nhiều và giá bán
các loại từ 100.000 - 250.000 đồng/chiếc Đại đa số các nhãn hàng này đều đã có
mặt tại các siêu thị hoặc một số rất ít DN đã và đang thiết lập mạng lưới cửa hàng
phân phối. Tuy nhiên, để tồn tại, họ buộc phải bán thêm sản phẩm của nhiều
thương hiệu khác. Riêng loại áo ngực ở phân khúc cao cấp, có giá bán từ 250.000
đồng trở lên, đều rơi vào tay của các tập đoàn đa quốc gia như Triump, Pierre
Cardin, Bon Bon, La Senza…
Theo tính toán của một đơn vị sản xuất, để may được một chiếc áo ngực, DN cần
nhiều loại nguyên phụ liệu cộng với tiền công may từ 25.000 - 30.000 đồng/chiếc,
nên giá thành sản phẩm rẻ nhất cũng khoảng 50.000 - 60.000 đồng/chiếc. Nếu cộng
thêm các khoản thuế, phí, chiết khấu, chi phí bán hàng , giá sản phẩm không thể
nào rẻ hơn hàng Trung Quốc đang bán đại trà trên thị trường. Không những vậy,
các DN còn cho biết, để đầu tư sản xuất mặt hàng này đòi hỏi DN đầu tư vốn lớn
cho một dây chuyền thiết bị chuyên dụng. Bên cạnh đó, việc tuyển dụng, đào tạo
công nhân cũng vất vả hơn so với may các sản phẩm khác vì đường may đòi hỏi
phải chính xác
- “Thua” cả những phân khúc của trang phục thường ngày:
Cả các loại trang phục mặc thường ngày, các sản phẩm bằng chất liệu thun cũng bị
hàng Trung Quốc áp đảo bởi yếu tố giá rẻ, mẫu mã phong phú. Trong khi đó, phân
khúc thị trường này không nhỏ. Dạo qua các chợ cho thấy, hầu hết các sạp hàng
kinh doanh quần áo may sẵn đều bày bán đa phần là quần áo có xuất xứ Trung
quốc, với giá từ 20.000 - 100.000 đồng/chiếc. Các sản phẩm này không chỉ đáp
ứng thị hiếu, nhu cầu của đối tượng thanh thiếu niên mà có cả trang phục cho tuổi
trung niên, người lớn tuổi với đủ kích cỡ.