Báo cáo thực tập
LỜI NÓI ĐẦU
Y tế là một nghµnh quan trọng thuộc cơ sở hạ tầng không thể thiếu đối với một
quốc gia. Do vậy mà người ta sớm quan tâm đến việc đầu tư nghiên cứu các trang
thiết bị phục vụ cho nghµnh Y tế . Cùng với việc phát triển của khoa học công nghệ
các phát minh về thiết bị Y tế không ngừng được ra đời nên ngày nay nghµnh y tế đã
được trang bị các máy móc thiết bị hiện đại hơn nhiều so với trước kia. Nhờ vậy mà
các thầy thuốc chẩn đoán và điều trị bệnh có hiệu quả hơn .
Với sự phát triển ngày càng đa dạng về trang thiết bị y tế thì con người đã chứng
tỏ được khả năng cải tạo cuộc sống ngày một tốt đẹp hơn , nhờ đó m`µ con người có
thể kéo dài tuổi thọ của mình.
Bằng chứng là . Đối với một số bệnh như : Ung thư , lao,và một số bệnh nan y
khác mà trước đây người ta không tìm ra phương pháp để chữa trị , thì ngày nay với
sự trợ giúp của trang thiết bị y tế hiện đại, các thầy thuốc đã rất thành công trong các
ca phÈu thuật phức tạp đời hỏi độ chính xác cao . Nhờ vậy mà các bệnh nan y trước
đây đã có thể chưa được .
Trang thiết bị y tế ngày càng đa dạng phong phú trở thành người bạn đồng hành
không thể thiếu đối với mỗi thầy thuốc.
Trong giới hạn đề tài này. Em không thể đề cập được hết tất cả các loại máy mà
em chỉ xin được trình bày với quý Thầy , Cô, về nhóm máy điên tim. Máy điên timlµ
một thiết bị y sinh điển hình dùng trong lĩnh vực y học , cấp cứu , điều trị , thiết bị dùng
để đo hoạt động của tim.bằng cách đặt các điện cực tại các địa điểm cụ thể trên cơ thể
( nþc,cánh tay,và chân),đại diện m«t hình ảnh ,hoặc truy tìm,của các hoạt dộng,điện có
thể đạt. thay `®æi một hay ECG từ bình thường quy định có thể chỉ ra một ho¹c một số
điều kiện liên quan đến tim. để người Bác sĩ sẽ phát hiện nhanh chóng , chính xác và có
các giải pháp hữu hiệu để điều trị cho bệnh nhân.
Máy điện tim được cấu thành từ rất nhiều khối mỗi khối đảm nhiệm chức năng và nhiệm
vụ riêng . Nội dung đề tài sẽ lần lượt giới thiệu từng phần trong khối máy,nhưng do thời gian
có hạn nên em chỉ đi sâu vào phân tích sơ bộ về máy điện tim.
Qua quá trình làm đề tài dưới sự hướng dẫn tận tình của các th©ú cô giáo trong
trường cùng với sự giúp đỡ của GVHD:Đào Ngọc Chiến em đã thu thập được một số
Báo cáo thực tập
trái chạy dưới nội mạc tới hai tâm thất, ở đó chúng phân nhánh thành mạng Purkinje
chạy giữa các sợi cơ tim. Bó His phát xung với nhịp khoảng 50-60lần/phút.
Hình 1.2. Vị trí các nút bó His
Khi có xung động truyền đến cơ tim, tim co giãn nhịp nhàng. Tim hoạt động
co bóp theo một thứ tự nhất định. Hoạt động này được lặp đi lặp lại và mỗi vòng
được gọi là một chu chuyển của tim.
Một chu chuyển của tim gồm 3 giai đoạn :
- Tâm nhĩ thu
- Tâm thất thu
- Tâm trương
Bùi Đức Hạnh T5 - ĐTVT
3
Báo cáo thực tập
Hỡnh 1.3. Chu
c
h
uyển của
t
i
m
* Tâm nhĩ thu : đầu tiên tâm nhĩ co bóp, áp suất trong tâm nhĩ tăng lên, van
nhĩ thất đang mở nên máu chảy từ tâm nhĩ xuống tâm thất, làm cho áp suất tâm
thất tăng lên. Thời tâm nhĩ thu kéo dài 0,1 giây, sau đó tâm nhĩ giãn ra suốt thời
gian còn lại của chu kỳ tim.
* Tâm thất thu : khi tâm nhĩ giãn ra thì tâm thất bắt đầu co lại. Giai đoạn
tâm thất thu kéo dài 0,3 giây gồm hai thời kỳ :
+ Thời kỳ tăng áp suất kéo dài 0,05 giây. Tâm thất co bóp nên áp suất trong
tâm thất tăng, cao hơn áp suất trong tâm nhĩ làm van nhĩ thất đóng lại, nhưng chưa
nên hiện tượng khử cực và lập lại trạng thái cân bằng tạo nên hiện tượng tái cực.
1.2.2. Cơ sở hình thành tín hiệu điện tim
Một sợi cơ bao gồm nhiều tế bào, khi hoạt động sợi cơ co lại, lúc đó sẽ xuất hiện
điện thế động giữa những phần đã được khử cực và đang khử cực, điện thế động
này sẽ làm xuất hiện một điện trường lan truyền trên dọc theo sợi cơ. Sau đó
khoảng nửa giây bắt đầu xuất hiện quá trình tái cực, kèm theo sự xuất hiện của
một điện trường ngược lại và chuyển động với vận tốc chậm hơn.
Chính cấu trúc phức tạp của tim đã làm phát ra các tín hiệu (khử cực và tái
cực), thực chất là tổng các tín hiệu điện của các sợi cơ tim cũng phức tạp hơn một
tế bào hay một sợi cơ.
Bùi Đức Hạnh T5 - ĐTVT
5
Báo cáo thực tập
Hỡnh 1.4.
Sự khử cực và tái cực
1.2.2. 1. Giai đoạn khử cực
Trước khi bị kích thích các tế bào cơ tâm thất có điện thế nghỉ là -90mV. Khi
bị kích thích, điện thế màng trở nên kém âm dần (điện thế tăng từ -90mV về phía
0). Khi điện thế ở khoảng từ -70mV đến -50mV thì gây mở đột ngột kênh Na
+
,
đồng thời tính thấm của màng tế bào với Na
+
tăng khoảng từ 500-5000 lần. Lúc đó
Na
+
ùa vào bên trong tế bào làm điện thế tế bào tăng từ -90mV đến 0mV. Trạng
thái này đạt được trong vài phần vạn giây.
1.2.2. 2. Giai đoạn tái cực
Cỡ vài phần vạn giây sau khi màng tăng vọt tính thấm với Na
P
Như đã nói ở phần trên, xung động đi từ nút xoang (ở nhĩ phải) sẽ toả ra làm
khử cực cơ nhĩ như hình các đợt sóng với hướng chung là từ trên xuống dưới và từ
phải qua trái làm với đường ngang một góc 49
0
, đây cũng là cũng chính là hướng
của vectơ khử cực. Và đợt sóng này được máy ghi lại với dạng sóng dương, đơn,
thấp, nhỏ và có độ lớn khoảng 0,25mV gọilà súng P.
Hình 1.6. Sự hình thành sóng P
Khi nhĩ tái cực, nó còn phát ra một sóng âm nhỏ gọi là sóng Ta, nhưng ngay
lúc này cũng xuất hiện sự khử cực thất với điện thế mạnh hơn nhiều, nên điện thế
tâm đồ gần như không thấy sóng Ta. Kết quả nhĩ chỉ thể hiện lên điện tim đồ bằng
một làn sóng đơn độc là sóng P.
• Thất đồ : Ghi lạidòng điện hoạt động của thất đi sau.
Bùi Đức Hạnh T5 - ĐTVT
7
Báo cáo thực tập
Hỡnh 1.7.
Súng
Q
R
S
T
Khử cực: việc khử cực bắt đầu từ phần giữa mặt trái liên thất đi xuyên
qua mặt phải vách này, tạo một vectơ khử cực đầu tiên hướng từ trái sang
phải. Máy ghi được sóng âm nhỏ gọi là sóng Q (Hình 1.8).
Hình 1.8. Sự hình thành sóng Q
Sau đó xung động truyền xuống và tiến hành khử cực đồng thời cả hai tâm
là giai đoạn muộn của tái cực.
Bùi Đức Hạnh T5 - ĐTVT
10
Báo cáo thực tập
Tóm lại thất đồ chia làm hai giai đoạn:
- Giai đoạn khử cực gồm phức bộ PQRS được gọi là pha đầu.
- Giai đoạn tái cực gồm ST và T (cả U) gọi là pha cuối.
•
Tâm trương : Tim ở trạng thái nghỉ, không có điện thế động, đường
ghi là đường thẳng nằm ngang gọi là đường đẳng điện.
Hình 1.11. Phức bộ điện tâm đồ
1.2.3. Hệ thống các chuyển đạo
Cơ thể con người là một môi trường dẫn điện, vì thế dòng điện do tim phát ra
được dẫn truyền đi khắp cơ thể tới da, biến cơ thể thành điện trường của tim. Nếu
ta đặt hai điện cực lên hai điểm nào đó ta thu được điện thế của hai điểm đó, gọi là
một chuyển đạo hay một đạo trình (lead)
Cho đến nay đại đa số dựng 12 chuyển đạo để nghiên cứu điện tim, nó gồm 3
chuyển đạo chuẩn, 3 chuyển đạo đơn cực các chi và 6 chuyển đạo trước tim. Ở
mỗi chuyển đạo sẽ có một dạng sóng điện tim đồ khác nhau.
Bùi Đức Hạnh T5 - ĐTVT
11
Báo cáo thực tập
Hình 1.12. Các vị trí điện thế được lấy ra tạo ra đạo trình của sóng điện tim
1.2.3.1. Chuyển đạo chuẩn (Standar) hay còn gọi chuyển đạo đơn cực các
chi hay lưỡng cực ngoại biên.
* Chuyển đạo I : điện cực âm ở tay phải và điện cực dương ở tay trái.
* Chuyển đạo II : trục chuyển đạo đi từ vai phải xuống chân trái và và chiều
dương như hình 1.13.
* Chuyển đạo III : điện cực âm ở tay trái và dương ở chân trái.
Như thế ta thấy các trục của ba chuyển đạo chuẩn này tạo nên một tam giác
thêm kí hiệu là AVR, AVL, AVF (A = Augmented = tăng thêm)
Ngày nay các chuyển đạo AVR, AVL và AVF được dựng thông dụng hơn
VR, VL,VF.
Tất cả sáu chuyển đạo I, II, III, AVR, AVL, AVF được gọi là chuyển đạo
ngoại biên vì đều có các điện cực thăm dò đặt tại các chi. Chúng hỗ trợ cho nhau
dò xét các rối loạn của dòng điện tim thể hiện bốn phía xung quanh quả tim trên
mạt phẳng chắn (Frontalplane). Nhưng còn rối loạn của dòng điện tim chẳng hạn
thì các chuyển đạo này không thể phát hiện được.
Vấn đề đặt ra là cần có thêm các chuyển đạo khác biểu hiện rõ được các dòng
điện tim, và người ta đã tìm ra được các chuyển đạo trước tim.
1.2.3.3. Chuyển đạo trước tim
Chuyển đạo này bao gồm một điện cực trung tính đặt tại các trung tâm và
điện cực thăm dò đặt tại 6 vị trí trên ngực tạo nên 6 chuyển đạo trước tim kí hiệu
Bùi Đức Hạnh T5 - ĐTVT
14
Báo cáo thực tập
V1 – V6. Như vậy trục chuyển đạo của chúng sẽ là đường thẳng hướng từ tâm
điểm điện tim (điểm 0) tới các vị trí điện cực tương ứng, các trục đó nằm trên
những mặt phẳng nằm ngang hay gần ngang.
Hình 1.15. Vị trí đặt điện cực lấy chuyển đạo trước tim
Hình 1.16. Sơ đồ minh hoạ mặt cắt khảo sát tim
và các chuyển đạo tương ứng
Bùi Đức Hạnh T5 - ĐTVT
15
Báo cáo thực tập
1.2 CÁC ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN CỦA TÍN HIỆU ĐIỆN TIM
Tín hiệu điện tim là tín hiệu có dạng phức tạp, với tần số lặp lại trong khoảng
từ 0.05 ÷ 300Hz. Hình dạng sóng của sóng điện tim bao gồm các thành phần P, Q,
R, S, T, U như đã trình bày ở phần trên. Về mặt lý thuyết thì tín hiệu này có thể
coi như là tổ hợp các hài có dải tần (0 ÷ ∞). Quá trình tính toán, phân tích, kể cả
Và các bộ phận này có chức năng và nhiệm vụ như sau:
2.1. BỘ ĐIỆN CỰC BỆNH NHÂN
• Bộ điện cực bệnh nhân có nhiệm vụ lấy và truyền tín hiệu từ các điện cực đặt
trên cơ thể người bệnh tới đầu vào của máy ghi.
• Tuỳ vào từng loại máy mà ta gặp bộ điện cực gồm 3, 5 hoặc 10 điện cực.
• Yêu cầu đối với bộ điện cực là phải chống nhiễu tốt.
Một bộ điện cực gồm 4 phần :
_ Bản điện cực : gồm 4 bản cực chi, 1 hoặc 6 điện cực ngực. Hai loại chất liệu
thường được chọn để làm điện cực là Niken và Clorua bạc. Bản điện cực còn có thêm
bộ phận dựng để cố định nó trên cơ thể và phần để gắn với phích cắm.
_ Phích cắm điện cực.
_ Cáp dẫn : có nhiệm vụ truyền tín hiệu từ bản cực qua phích cắm tới giắc cắm
đầu vào máy ghi điện tim. Cáp dẫn phải đảm bảo chống nhiễu nên thường được dựng
dây có bọc kim.
_ Giắc cắm đầu vào : có nhiệm vụ truyền nối giữa bộ điện cực bệnh nhân với
đầu vào của máy ghi sóng điện tim.
Hình 2.1. Các điện cực ngực
Bùi Đức Hạnh T5 - ĐTVT
18
Báo cáo thực tập
Hình 2.2. Các điện cực chi
Hình 2.3. Cáp dẫn
Bùi Đức Hạnh T5 - ĐTVT
19
Báo cáo thực tập
2.2. GIẤY GHI
Giấy ghi dùng cho máy điện tim là loại giấy in nhiệt có kẻ ô với đơn vị là 1mm.
Về phân loại thì thông thường có 2 loại :
• Giấy cuộn.
• Giấy xấp.
hiệu đồng pha, vì vậy máy điện tim cần có khả năng chống nhiễu tốt, đặc biệt là nhiễu
đồng pha.
Vì tín hiệu điện tim là tín hiệu một chiều biến thiên chậm, nên việc ghép giữa
nguồn tín hiệu đầu vào và mạch khuyếch đại, giữa các tầng khuyếch đại sẽ không thể
ghép điện dung và ghép điện cảm mà phải dựng ghép trực tiếp. Nhưng khi ghép trực
tiếp, do không có thành phần cách ly một chiều nên khi có sự thay đổi nào đó như
thay đỏi về chế độ một chiều, sự thay đổi của nhiệt độ sẽ làm cho tham số của linh
kiện thay đổi… sự thay đổi này cũng sẽ được đưa đến đầu ra của máy.
Sự thay đổi một cách ngẫu nhiên của tín hiệu khi tín hiệu vào không thay đổi gọi
là hiện tượng trôi, hiện tượng trôi do nhiều nguyên nhân gây ra như nhiệt độ nguồn
bức xạ bên ngoài tác động vào các linh kiện…
Từ các đặc điểm trên máy điện tim phải đáp ứng các yêu cầu sau:
• Vì tín hiệu nhỏ nên máy phải có hệ số khuyếch đại lớn
• Có trở kháng đầu vào lớn đảm bảo việc phối hợp giữa đầu vào mạch khuyếch
đại với nguồn tín hiệu để lấy điện áp ra đủ lớn để mạch xử lý phân tích.
• Độ méo của các thiết bị phải nhỏ, để tín hiệu thu được chính xác phục vụ cho
việc chuẩn dón bệnh.
• Có độ ổn định cao và lọc nhiễu tốt để ghi nhận trung thực tín hiệu điện tim.
• Cách ly giữa bộ phận giao tiếp bệnh nhân và các thành phần khác của máy.
• Có độ cách điện tốt đảm bảo an toàn cho người và máy.
• Có nguồn dự phòng.
2.3.3. Các thông số kỹ thuật cơ bản để thực hiện ghi sóng điện tim :
• Độ nhạy: đây là thông số thể hiện sự chuyển đổi từ biên độ tín hiệu điện tim
thành độ dài. Đơn vị của chuyển đổi này là mm/mV. Giá trị thông thường là
5mm/mV, 10mm/mV và 20mm/mV.
• Tốc độ ghi: thông số này thể hiện sự chuyển đổi trục thời gian thành độ dài và
đơn vị của nó là mm/s. Giá trị thông thường là 12,5mm/s, 25mm/s và 50mm/s.
• Dải thông tần: là giới hạn trên và dưới tần số thường là 0,05 đến 100Hz. Đôi
Bùi Đức Hạnh T5 - ĐTVT
21
Hình 2.8. Sơ đồ khối cơ bản của máy điện tim
2.3.6.1. Khối mạch vào:
• Các dây điện cực : Tín hiệu điện tim được lấy từ nhiều điểm khác nhau trên
cơ thể con người, dây điện cực có tác dụng dẫn tín hiệu từ các điểm đó tới đầu vào
của máy điện tim trước khi tới mạch tiền khuyếch đại. Để đảm bảo chống nhiễu tốt
người ta thường dùng dây có bọc kim.
• Tam giác điện trở : Điện tim là nguồn tín hiệu phức tạp cho nên khi đo cần
tiến hành trên nhiều vị trí khác nhau, trong khi đó tầng khuyếch đại sóng điện tim là
mạch có trở kháng đầu vào cố định. Để khuyếch đại sóng điện tim với cùng một độ
khuyếch đại trung thực yêu cầu giữa nguồn tín hiệu và đầu vào tầng khuyếch đại phải
phối hợp trở kháng tốt.
Tam giác điện trở đã thực hiện nhiệm vụ đó, Trị số điện trở trong tam giác này
có khác nhau tuỳ thuộc các điện trở nguồn tín hiệu đưa vào đạo trình và điện trở đầu
vào của mạch khuyếch đại đầu tiên.
• Mạch chọn đạo trình : Mạch có nhiệm vụ chuyển đổi chương trình ghi cho
phù hợp với các tín hiệu điện tim lấy từ cơ thể bệnh nhân.
2.3.6.2. Khối khuyếch đại
• Tiền khuyếch đại : Nhiệm vụ chính là phối hợp trở kháng giữa đầu vào của
mạch khuyếch đại với nguồn tín hiệu. ngoài ra nó còn khuyếch đại tín hiệu đủ lớn đến
Bùi Đức Hạnh T5 - ĐTVT
24
Mạch vào Khuếch đại tín hiệu
Các mạch phụ
Thiết bị ghi
Điều chỉnh tốc
độ Motor
Motor kéo giấy
Khối nguồn cung cấp
Báo cáo thực tập