Văn hóa tổ chức và tác động của nó tới động lực làm việc của người lao động - Pdf 23

Website: Email : Tel (: 0918.775.368
phần mở đầu
1.Tính cấp thiết của đề tài
Văn hoá và kinh doanh có loại trừ nhau không? Hay nó bổ sung cho nhau?
Cho đến nay không còn mấy suy nghĩ rằng hai lĩnh vực này loại trừ nhau. Văn hoá
và các yếu tố văn hoá chi phối tới kinh doanh ở mức độ nào còn là một vấn đề khá
đau đầu đối với các doanh nghiệp. Đối với những nớc đang phát triển, chẳng hạn
nh Việt Nam việc khai thác và sử dụng các yếu tố văn hoá vào trong kinh doanh
còn rất hạn chế. Có những doanh nghiệp hầu nh không quan tâm tới vấn đề văn
hoá tổ chức, có những doanh nghiệp có quan tâm nhng nhận thức nó một cách rất
mờ nhạt. Trong điều kiện mở cửa hiện nay, mọi giá trị truyền thống đang bị lấn át,
các giá trị tinh thần bị đảo lộn, lợi nhuận đã trở thành mục tiêu duy nhất của kinh
doanh, các chủ doanh nghiệp tỏ ra thiếu quan tâm tới các giá trị tinh thần của ngời
lao động, trong rất nhiều doanh nghiệp của việt nam hiện nay ngời lao động chỉ có
biết đến công việc. Khoa học và thực tế đã chứng minh đợc rằng văn hoá tổ chức
có mối quan hệ chặt chẽ tới động lực làm việc của ngời lao động, từ đó dẫn đến
nâng cao năng xuất lao động, hiệu quả sản xuất kinh doanh và tạo lợi thế cạnh
tranh cho doanh nghiệp.
Từ những cấp thiết đó em xin chọn đề tài Văn hoá tổ chức và tác động của nó
tới động lực làm việc của ngời lao động .
2. Mục đích nghiên cứu của đề tài.
- Làm rõ mối quan hệ giữa văn hoá tổ chức với động lực làm việc của ngời lao
động.
-Trên cơ sở đó đề tài hớng tới giúp các doanh nghiệp nhìn nhận một cách rõ ràng,
đúng đắn hơn mối quan hệ này.
- Đề tài cũng xây dựng một mô hình văn hoá mà có thể tạo động lực làm việc cho
ngời lao động.
3. Đối tợng và phạm vi nghiên cứu.
- Đề tài tập trung nghiên cứu các yếu tố văn hoá mà doanh nghiệp có thể tác động
vào, từ đó khai thác và sử dụng nó nh là một công cụ để tạo động lực làm việc cho
ngời lao động.

Văn hoá tổ chức là một hệ thống ý nghĩa chung hàm giữ bởi các thành viên
của tổ chức, qua đó có thể phân biệt tổ chức này với tổ chức khác (Robbin,2000).
Nh vậy văn hoá tổ chức là hệ thống những giá trị, những niềm tin, những quy
phạm đợc chia sẻ bởi các thành viên trong tổ chức và hớng dẫn hành vi của những
ngơì lao động trong tổ chức.
Văn hoá tổ chức thờng đợc xem nh là cách sống, cách nghĩ chung của mọi
ngời trong tổ chức. Những khái niệm về văn hoá tổ chức ở trên đều gắn với một
cái gì đó chung đối với mọi thành viên trong tổ chức, đó là những giả định chung,
hệ thống ý nghĩa chung, luật lệ và những kiến thức chung. Những giá trị xác định
hành vi nào là tốt và có thể chấp nhận đợc và những hành vi xấu hay không thể
châp nhận đợc. Chẳng hạn, trong một tổ chức, việc đổ lỗi hay cãi vã với khách
hàng khi khách hàng phàn nàn về sản phẩm là không thể chấp nhận đợc. Khi đó
giá trị của tổ chức- Khách hàng luôn đúng - sẽ chỉ cho những ngời trong tổ
chức thấy rằng hành động không cãi vã với khách hàng là chấp nhận đợc và hành
động cãi vã với khách hàng là không chấp nhận đợc. Hơn nữa những khái niệm
vễ văn hoá tổ chức còn cho thấy tầm quan trọng của việc chia sẻ trong sự phát
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
triển của những khái niệm về văn hoá tổ chức. Sự chia sẻ ở đây có nghĩa là làm
việc với kinh nghiệm chung; khi chúng ta chia sẻ, chúng ta trực tiếp tham gia cùng
với những ngời khác. ở đây nhấn mạnh sự giống nhau trong cách nghĩ, cách làm
cuả mọi ngời. Đây là ý nghĩa gắn chặt với các khái niệm về văn hoá tổ chức. Chia
sẻ văn hoá nghĩa là mỗi thành viên tham gia và đóng góp vào nền tảng văn hoá lớn
hơn, sự đóng góp và kinh nghiệm của mỗi thành viên là không giống nhau. Khi
nói đến văn hoá nh là một hệ thống ý nghĩa, giá trị, niềm tin và kiến thức, cần phải
ghi nhớ rằng văn hoá phụ thuộc vào cả cộng đồng và sự đa dạng văn hoá. Văn hoá
cho phép sự giống nhau nhng cũng thừa nhận và dựa trên sự khác nhau.
2. Vai trò của văn hoá tổ chức.
Văn hoá thực hiện một số chức năng trong phạm vi một tổ chức.Thứ nhất,
văn hoá có vai trò xác định ranh giới, nghĩa là văn hoá tạo ra sự khác biệt giữa tổ
chức này với tổ chức khác. Thứ hai, văn hoá có chức năng lan truyền chủ thể cho

sẵn sàng lỗ lực, say mê làm việc nhằm đạt đợc mục tiêu của tổ chức cũng nh của bản
thân ngời lao động. Tuy nhiên, không nên cho rằng động lực tất yếu dẫn tới năng suất và
hiệu quả công việc vì sự thực hiện công việc không chỉ phụ thuộc vào động lực mà còn
phụ thuộc vào khả năng của ngời lao động, phơng tiện và các nguồn lực để thực hiên
công việc. Ngời lao động nếu không có động lực thì vẫn có thể hoàn thành công việc.
Tuy nhiên, ngời lao động nếu mất động lực hoặc suy giảm động lực sẽ không mất khả
năng thực hiện công việc và có xu hớng ra khỏi tổ chức.
Các nhân tố ảnh hởng tới động lực làm việc của ngời lao động. Các nhân tố
đó có thể phân thành 3 nhóm nh sau:
+ Nhóm nhân tố thuộc về ngời lao động, bao gồm:
-Thái độ, quan điểm của ngời lao động trong công việc và đối với tổ chức
-Nhận thức của ngời lao động về giá trị và nhu cầu cá nhân
- Năng lực và nhận thức về năng lực của bản thân ngời lao động
+Nhóm nhân tố thuộc về công việc, bao gồm:
- Đòi hỏi về kỹ năng nghề nghiệp
- Mức độ chuyên môn hoá của công việc
- Mức độ phức của công việc
- Sự mạo hiểm và mức độ rủi ro của công việc
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
- Mức độ hao phí về trí lực
+ Nhóm nhân tố thuộc về tổ chức, bao gồm:
- Mục tiêu chiến lợc của tổ chức
- Văn hoá tổ chức
- Lãnh đạo ( quan điểm, phong cách, phơng pháp)
- Quan hệ nhóm
- Các chính sách liên quan tới quyền và nghĩa vụ của ngời lao động, nhất là các
chính sách về quản trị nguồn nhân lực.
Tạo động lực đợc hiểu là hệ thống các chính sách, biện pháp, thủ thuật
quản lý tác động đến ngời lao động nhằm làm cho ngời lao động có động lực trong
công việc. Tạo động lực cho ngời lao động là trách nhiệm và mục tiêu của quản lý.

Trớc đây ngời ta thờng coi các hoạt động văn hoá là hoạt động đứng bên
ngoài kinh tế, do kinh tế trợ cấp. Chỉ khi nào kinh tế phát triển thì mới có điều
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
kiện cho các hoạt động văn hoá tinh thần. Nhng thực tế không phải nh vậy, qua
các di chỉ văn hoá của xã hội loài ngời thời cổ đã cho thấy có các hoạt động văn
hoá tức là các hoạt động này xuất hiện ngay khi đời sống vật chất mới ở mức độ
thấp nhất.
Xem xét quan hệ giữa đời sống vật chất và đời sống tinh thần ta thấy chúng
ta là hai mặt của đời sống con ngời hay là hai mặt của một vấn đề. Theo quan
niệm biện chứng, tất yếu hai mặt đó có quan hệ mật thiết với nhau, quy định và tác
động lẫn nhau, không thể thiếu cái nào. Bất kể một sự thiên lệch nào, nếu chỉ coi
trọng một mặt của đời sống mặt kia bi coi nhẹ thì sự phát triển của con ngời sẽ
mất đi sự toàn diện, bị lệch lạc và lúc đó con ngời khó mà thể hiện đúng t xã hội
của mình là tổng hoà các mối quan hệ xã hội. Các hoạt động văn hoá tinh thần
làm cho con ngời cảm thấy có ý nghĩa thực sự trong cuộc sống. Con ngời không
phải là một cái máy chỉ biết làm việc nếu con ngời chỉ biết đến công việc thì én
một lúc nào đó họ sẽ cảm thâý rất cô đơn và không có cách nào bù đắp đợc, từ đó
họ sinh ra chán ghét, thù địch với công việc, chán ngán tất cả và với chính cả bản
thân của họ. Vật chất, tiền bạc không phải là tất cả có những giới hạn mà đồng
tiền không thể vơn tới đợc. Đó là hạnh phúc và niềm vui chân chính của con ngời.
Thực tế cho thấy có không ít những ngời ngồi trên cả đống vàng mà vẫn cảm thấy
bất hạnh.
Các hoạt động văn hoá tinh thần là gì? Đó chính là các hoạt động giải
trí:các chơng trình thể thao, văn hoá, chơng trình dã ngoại, nó sẽ giúp cho ngời lao
động sử dụng thời gian nhân sự một cách bổ ích hơn. Giúp ngời lao động có cảm
giác thoả mái phấn chấn và có cơ hội xích lại gần nhau, mở rộng quan hệ, nối kết
con ngời với nhau, từ đó ngời ta dễ dàng đồng cảm với nhau, cùng giúp đỡ nhau để
cùng thực hiện thành công mục tiêu của tổ chức.
Với vai trò nh thế, các tổ chức, các doanh nghiệp nên coi hoạt động văn hoá
tinh thần nh là một nét văn hoá của tổ chức mình. Tuy nhiên mỗi doanh nghiệp sẽ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status