khai thác quyền sở hữu trí tuệ nhằm phát triển công nghệ xanh ở việt nam - Pdf 23

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
o0o

Công trình tham dự cuộc thi
Sinh viên nghiên cứu khoa học Trường Đại học Ngoại thương 2013 - 2014 Tên công trình
KHAI THÁC QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ
NHẰM PHÁT TRIỂN CÔNG NGHỆ XANH Ở VIỆT NAM

Nhóm ngành: Khoa học xã hội (XH)
Hà Nội, tháng 5 năm 2014

i
MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC BẢNG iv


ii

3.2.1. Giả thuyết thứ nhất: Đầu tư phát triển công nghệ xanh mang lại tín
hiệu tích cực cho nền kinh tế Việt Nam 33
3.2.2. Giả thuyết thứ hai: Đầu tư phát triển công nghệ xanh tại Việt Nam, vai
trò quan trọng của các tổ chức quốc tế. 37
3.2.3. Giả thuyết thứ ba: Chính sách công nói chung và bảo vệ quyền sở hữu
trí tuệ nói riêng có vai trò quan trọng trong phát triển công nghệ xanh tại Việt
Nam…………………………………………………………………………… …… 42
3.2.4. Giả thuyết thứ tư: “Sàn giao dịch công nghệ xanh” – Hướng đi cần
thiết nhằm phát triển công nghệ xanh. 50
Chương IV: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 55
4.1. Thực trạng vấn đề khai thác quyền sở hữu trí tuệ để phát triển công nghệ
xanh ở Việt Nam 55
4.1.1. Tình hình phát triển công nghệ xanh của Việt Nam 55
4.1.2. Một số nguyên nhân dẫn đến công nghệ xanh không phát triển ở Việt
Nam………………………………………………………… ………………………63
4.2. Bài học về khai thác quyền sở hữu trí tuệ để phát triển công nghệ xanh ở
Việt Nam từ kinh nghiệm của các quốc gia phát triển 65
4.3. Một số khuyến nghị nhằm nhằm khai thác ở hữu trí tuệ để phát triển công
nghệ xanh ở Việt Nam 67
4.3.1. Phương hướng và mục tiêu khai thác quyền sở hữu trí tuệ để phát triển
công nghệ xanh ở Việt Nam 67
4.3.2. Một số giải pháp khai thác quyền sở hữu trí tuệ nhằm phát triển công
nghệ xanh ở Việt Nam 69
4.3.2.1. Điều chỉnh các chính sách nhà nước 69
4.3.2.2. Tuyên truyền, giáo dục và đổi mới tư duy nhận thức 73
4.3.2.3. Thành lập các sàn giao dịch sở hữu trí tuệ tập trung trong lĩnh vực
công nghệ xanh và các sàn giao dịch mở tạo môi trường chia sẻ thông tin, kiến

chế bởi Cục Sở hữu Trí tuệ Việt Nam từ năm 2008 đến tháng 1 năm 2014 39
Bảng 3.5. Tài trợ ODA cho lĩnh vực môi trường thời kỳ 1995-2005 40
Hình 3.6. Một số dự án đầu tư của nước ngoài nhằm hỗ trợ phát triển công nghệ
xanh và cải thiện môi trường ở Việt Nam 41
v
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ, HÌNH VẼ

Hình 2.1. Tình hình phát triển công nghệ xanh trên thế giới 17
giai đoạn từ năm 1998 đến năm 2008 17
Hình 2.2. Tổng số công nghệ xanh tại các nền kinh tế mới nổi giai đoạn từ năm
1998 đến năm 2008 18
Hình 2.3. Tình hình phát triển công nghệ xanh tại các nước đang phát triển và kém
phát triển giai đoạn từ năm 1998 đến năm 2008 19
Hình 2.4. Công nghệ xanh tại các nước đang phát triển giai đoạn 2000-2010 20
Hình 2.5. Hoạt động chuyển giao công nghệ trước và sau cải cách sở hữu trí tuệ 26
Hình 3.1. So sách mức đầu tư và lợi ích kinh tế thu được từ chương trình áp dụng
sản xuất sạch. 34
Hình 3.2. Thực trạng sử dụng rơm rạ sau thu hoạch 35
Hình 3.3. Số lượng đơn xin cấp bằng sáng chế trong 5 lĩnh vực công nghệ xanh tại
Trung Quốc 44
Hình 3.4. So sánh số lượng sáng chế công nghiệp và giải pháp hữu ích đăng ký tại
Trung Quốc 45
Hình 3.5. Tỷ lệ các doanh nghiệp Trung Quốc tham gia Hiệp ước hợp tác sáng chế
PTC năm 2007 - 2008 theo ngành công nghiệp 46
vii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
STT Từ viết tắt Viết đầy đủ
1.

CPSI
Chiến lược sản xuất sạch hơn trong công nghiệp
(Clean Production Strategy in Industry)
2.FIT Thuế tái tạo (Feed-in tariffs)
3.

GEF
Quỹ môi trường toàn cầu (Global Environment
Facility)
4.GX Green Xchange
5.

IEA
Cơ quan năng lượng quốc tế (International Energy

Tổng cục Môi trường
(Vietnam Environment Administration)
12.

WB
Ngân hàng thế giới
(World Bank)
13.

WIPO
Tổ chức Sở hữu Trí tuệ thế giới
(World Intellectual Property Organization)
14.

WTO
Tổ chức Thương mại thế giới
(World Trade Organization)
1
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Hiện nay, môi trường và biến đổi khí hậu đang là một trong những vấn đề
được quan tâm nhiều nhất trên toàn cầu. Các giải pháp đã được đưa ra nhằm hạn
chế tác động xấu của con người đến môi trường có thể được chia thành 2 nhóm
chính đó là thay đổi thói quen của con người và thực hiện cuộc cách mạng khoa học
kỹ thuật xanh.
Việc thay đổi thói quen sinh hoạt, tiêu dùng của con người cần phải trải qua
một quá trình giáo dục lâu dài với chương trình giáo dục tiên tiến, thậm chí đôi khi

đề về môi trường hiện nay.
Xuất phát từ thực tiễn trên, nhóm tác giả chọn vấn đề “KHAI THÁC
QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ NHẰM PHÁT TRIỂN CÔNG NGHỆ XANH Ở
VIỆT NAM” làm để tài cho công trình nghiên cứu của mình.
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu
Sở hữu trí tuệ trong phát triển công nghệ xanh là đề tài đã được đề cập liên tục
trong 5 năm trở lại đây. Có thể kể đến mội số cuốn sách bài báo khoa học của một
số luật sư trên thế giới như sau:
Cuốn sách “Clean Tech Intellectual Property: Eco-marks, Green Patents, and
Green Innovation” được tác giả Eric L. Lane viết năm 2011. Trong cuốn sách, tác
giả đã đưa ra định nghĩa về công nghệ xanh và sở hữu trí tuệ đối với công nghệ
xanh bằng cách tham chiếu đến các mục tiêu xã hội của chúng, đó là tạo ra năng
lượng từ các nguồn năng lượng tái tạo, tăng cường hiệu quả năng lượng và giảm
phát thải khí nhà kính, ông tập trung vào các vấn đề giúp các công ty công nghệ xây
dựng, phát triển và quản lý bằng sáng chế và danh mục đầu tư thương hiệu của họ,
đặc biệt tập trung vào năng lượng tái tạo và các lĩnh vực khác của công nghệ sạch.
Báo cáo của Chatham House với tiêu đề “Who Owns Our Low Carbon
Future? Intellectual Property and Energy Technologies” công bố vào tháng 9 năm
2009 đã làm rõ được mối quan hệ giữa sở hữu trí tuệ và công nghệ xanh và vai trò
của bằng sáng chế trong việc phát triển ngành năng lượng sạch. Báo cáo cũng đưa
ra một số gợi ý chính sách trong kinh doanh và phát triển năng lượng tương lai.
Bài nghiên cứu “Innovation and Technology Transfer to Address Climate
Change: Lessons from the Global Debate on Intellectual Property and Public
Health” của Frederick Abbott viết năm 2009 đã xác định những bài học về sự đổi
mởi, chuyển giao công nghệ và tiếp cận các nguồn năng lượng thay thế nhằm giảm
3
nhẹ tác động của biến đổi khí hậu từ thực tiễn phát triển và xây dựng chính sách

về vấn đề này trong bối cảnh Việt Nam và đưa ra những giải pháp phù hợp nhằm
khai thác quyền sở hữu trí tuệ để phát triển công nghệ xanh tại Việt Nam.
Để giải quyết các vấn đề trên, bài nghiên cứu tập trung vào bốn vấn đề chính:
Thứ nhất, làm rõ khái niệm và đưa ra các tiêu chí công nghệ xanh tại Việt
Nam, nghiên cứu những vấn đề cơ bản về khai thác quyền sở hữu trí tuệ và công
nghệ xanh, phân tích vai trò của khai thác quyền sở hữu trí tuệ trong việc thúc đẩy
sự phát triển công nghệ xanh.
Thứ hai, nghiên cứu thực trạng vấn đề khai thác quyền sở hữu trí tuệ nhằm
phát triển công nghệ xanh ở Việt Nam.
Thứ ba, tổng kết bài học về khai thác quyền sở hữu trí tuệ để phát triển công
nghiện xanh từ kinh nghiệm của các quốc gia phát triển.
Thứ tư, đề xuất giải pháp để công tác khai thác quyền sở hữu trí tuệ và phát
triển kinh tế xanh ở Việt Nam được thực hiện có hiệu quả, góp phần hướng tới mục
tiêu tăng trưởng xanh cho đất nước.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Khai thác quyền sở hữu trí tuệ và công nghệ xanh ở
Việt Nam
- Pham vi nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu kinh nghiệm khai thác quyền sở hữu
trí tuệ nhằm thúc đẩy công nghệ xanh được áp dụng tại các nước phát triển như Mỹ,
Anh, Nhật Bản cùng các nước đang phát triển khác và phân tích thực trang tại Việt
Nam từ năm 2008 trở lại đây.
5. Phương pháp nghiên cứu
 Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Nghiên cứu các nguồn thông tin, dữ liệu
trong các bài nghiên cứu của các nhà nghiên cứu đi trước làm cơ sở lý luận và
chứng minh các lập luận.
 Phương pháp thống kê và phân tích định lượng: Dựa trên các số liệu về sở hữu
trí tuệ và công nghệ xanh thu thập được, nhóm nghiên cứu sẽ rút ra các kết

Chương IV: Kết quả nghiên cứu
Chương V: Kết luận và định hướng nghiên cứu trong tương lai

6
CHƯƠNG I: KHÁI QUÁT VỀ NỘI DUNG NGHIÊN CỨU, LĨNH VỰC
NGHIÊN CỨU VÀ THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ
1.1. Khái quát nội dung và lĩnh vực nghiên cứu.
Kinh tế xanh đang trở thành xu hướng toàn cầu nhằm hướng tới phát triển bền
vững, và một nước đang phát triển như Việt Nam cũng không nằm ngoài xu thế đó.
Trong Nghị quyết Đại hội XI của Đảng và Kết luận Hội nghị TW 3 khóa XI đã xác
định nhiệm vụ nước ta hiện nay là: “Đổi mới mô hình tăng trưởng gắn với tái cơ
cấu nền kinh tế nhằm đưa đất nước phát triển nhanh, bền vững. Con đường phát
triển kinh tế bền vững mà cộng đồng quốc tế đang thừa nhận là kinh tế xanh, hay
còn gọi là tăng trưởng xanh…” Trong phát triển kinh tế xanh và xu thế phát triển
công nghệ hiện đại nói chung, công nghệ xanh là giải pháp hiệu quả hướng tới giải
quyết cân bằng 3 vấn đề: phát triển kinh tế, bảo vệ môi trường và bình ổn xã hội.
Cũng như các nước thành viên của Tổ chức Thương mại thế giới WTO, Việt
Nam đã ban hành Luật sở hữu trí tuệ và đạo luật này được quốc hội khóa XI, kỳ họp
thứ 8 thông qua ngày 29/11/2005, có hiệu lực ngày 1/7/2006 và được sửa đổi, bổ
sung năm 2009. Luật sở hữu trí tuệ Việt Nam điều chỉnh các quan hệ xã hội phát
sinh do có việc sáng tạo tạo ra và sử dụng các sản phẩm trí tuệ nhằm thỏa mãn nhu
cầu tinh thần của con người và những sản phẩm trí tuệ được áp dụng vào sản xuất,
kinh doanh, lưu thông hàng hóa, lưu thông các sản phẩm trí tuệ trên thị trường nội
địa và quốc tế; bảo vệ người tiêu dùng, chống cạnh tranh không làn mạnh; bảo vệ
quyền lợi của chủ thể sáng tạo, chủ sở hữu, góp phần thúc đẩy sự phát triển khoa
học, công nghệ và văn minh xã hội (Phùng Trung Tập, 2008).
Sở hữu trí tuệ và sự phát triển công nghệ xanh có mối liên hệ mật thiết với

property to improve environmental protection” in trên tạp chí HAVARD Journal of
Law & Technology đã khẳng đinh việc tăng cường luật sở hữu trí tuệ giúp tăng cao
khả năng bảo vệ môi trường. Nghiên cứu chỉ ra rằng các nhà chính sách, doanh
nghiệp cần cân bằng giữa việc phát triển công nghệ và kinh tế với việc bảo vệ môi
trường. Luật sử hữu trí tuệ là công cụ rất đắc lực trong việc chọn lọc và thúc đẩy
công nghệ xanh. Các qui định về môi trường hiện hành giải quyết hiệu quả việc hạn
chế các công nghệ gây hại cho môi trường hơn là thúc đẩy công nghệ xanh trong
khi đó luật sở hữu trí tuệ là một hệ thống luật pháp tốt cho việc khuyến khích các
phát minh và tạo điều kiện thuận lợi cho các cải tiến công nghệ thân thiện với môi
trường. Bài báo cũng như một nghiên cứu mở đầu cho các nghiên cứu về sở hữu trí
tuệ và biến đổi khí hậu sau đó.
8
Năm 1992, đánh dấu sự tiến bộ trong các chính sách toàn cầu, giải quyết vai
trò và tác động của sở hữu trí tuệ đến sự phát triển của công nghệ xanh và chuyển
giao công nghệ xanh nhằm ứng phó với biến đổi khí hậu toàn cầu.
Có thể kể đến sự ra đời của ủy ban liên chính phủ về biến đổi khí hậu
UNFCCC đã tạo tiền đề cho các nghiên cứu trong lĩnh vực này ra đời. Hiệp ước
quốc tế đầu tiên về biến đổi khí hậu là UNFCCC, được ra mắt vào 1992 đề cập đến
các nguy cơ tiềm tàng của biến đổi khí hậu và có hiệu lực năm 1993 và gần như tất
cả các nước trong liên hợp quốc đều kí vào bản hiệp ước này. UNFCCC là bản hiệp
ước nền tảng cho các hiệp ước sau này bao gồm nghị định thư Kyoto và các thỏa
thuận khác. Bản UNFCC đầu tiên khẳng định sự cần thiết trong việc giảm thiểu
lượng khí thải nhà kính, tăng cường chuyển giao công nghệ xanh bao gồm việc yêu
cầu các nước phát triển chuyển giao vốn nhằm phát triển công nghệ xanh để giảm
thiểu số lượng khí thải bằng với lượng khí thải nước đó gây ra. Tuy rằng UNFCCC
cho tới hiện tại đã có phần lạc hậu so với hoàn cảnh hiện hành, nhưng nó là bản
hiệp định đầu tiên nhấn mạnh vào việc phải tạo điều kiện thuận lợi cho chuyển giao

chính lớn với các nước đang phát triển và kém phát triển. Từ quan điểm này, một
loạt các biện pháp đã được đề xuất để tạo điều kiện tiếp cận công nghệ xanh, bao
gồm việc sử dụng linh hoạt TRIPS và việc xem xét lại các thỏa thuận.
Tiếp sau đó, rất nhiều nghị định ra đời như Nghị định thư Kyoto năm 1997, Lộ
trình Bali năm 2007, Thỏa thuận CanCun năm 2010, Durban outcomes năm 2011,
Doha climate gateway năm 2012 tiếp tục đề cập đến các giải pháp tạo điều kiện
thuận lợi cho chuyển giao và tiếp cận công nghệ xanh của các nước đang phát triển,
hạn chế những tác động tiêu cực do quyền sở hữu trí tuệ gây ra.
Đến năm 2009, nhân ngày sở hữu trí tuệ thế giới, tổ chức Sở hữu trí tuệ thế
giới WIPO đưa ra thông điệp “Thúc đẩy sáng tạo xanh như chìa khóa của tương
lai”, nhấn mạnh sự đóng góp của một hệ thống sở hữu trí tuệ cân bằng nhằm kích
thích sự sáng tạo, phổ biến và ứng dụng các công nghệ sạch, thúc đẩy thiết kế xanh,
nhằm tạo ra sản phẩm thân thiện với môi trường, để xây dựng thương hiệu xanh,
giúp người tiêu dùng có những lựa chọn hợp lý và đem lại lợi thế cạnh tranh cho
các doanh nghiệp.
Trong thông điệp của mình, tổng giám đốc WIPO Francis Gurry đã nêu rõ:
“Hoạt động của con người, bao gồm cả thập kỷ phát triển của khoa học công nghệ,
đã làm ảnh hưởng tới hành tinh của chúng ta. Ô nhiễm môi trường, khoáng sản bị
10
khai thác ngày một nhiều cùng sự suy giảm dự trữ sinh học đã đặt ra những áp lực
vô cùng lớn tới môi trường thế giới. Biến đổi khí hậu là một trong những mối đe
dọa lớn nhất đối với nhân loại…Hoạt động của con người đã tạo ra vấn đề này và
cũng chính hành động của con người sẽ là giải pháp. Sáng tạo xanh, sự phát triển và
phổ biến các phương tiện kỹ thuật để giải quyết biến đổi khí hậu, là chìa khóa để
ngăn chặn sự suy giảm các nguồn tài nguyên của trái đất. Tiếp tục phát triển các
nguồn năng lượng thay thế, như năng lượng gió, thủy triều, năng lượng mặt trời,
năng lượng địa nhiệt dưới lòng đất, giống cây trồng mới đang được phát triển để

công nghệ được chuyển giao cùng các giải pháp nhằm giải quyết vấn đề đã được
đưa ra.
Báo cáo nghiên cứu “Developing and diffusing green technologies: The
impact of intellectual property rights and their justification” Jonathan MWW Chu
bàn về tác động của quyền sở hữu trí tuệ lên việc phát triển công nghệ xanh. Tác giả
nhấn mạnh rằng, đối với sở hữu trí tuệ của các sản phẩm ngoài công nghệ, quyền sở
hữu trí tuệ có những tác động tích cực nhất định, trong khi đó, đối với các sản phẩm
công nghệ, tác động của quyền sở hữu trí tuệ lại không rõ ràng. Một mặt. quyền sở
hữu trí tuệ có ảnh hưởng tiêu cực do sự bảo vệ sở hữu trí tuệ hạn chế sự phân phối
phần mềm sản xuất xanh và các thông tin mật cần thiết để phát triển công nghệ
xanh. Mặt khác quyền sở hữu trí tuệ góp phần không nhỏ trong việc thúc đẩy các
sáng chế công nghệ xanh. Trên thực tế, ngày càng nhiều các nước phát triển chuyên
giao các công nghệ tiên tiến thân thiện với môi trường sang các nước đang phát
triển thông qua liên doanh, và vì thế, tác động tiêu cực của quyền sở hữu trí tuệ
cũng gần như bị giảm thiểu đáng kể.
Bài báo nghiên cứu “The green patents as a way of addressing environmental
issues” của Ronald Reagan (2012 PIIPA) cho rằng: Việc bảo vệ quyền sở hữu trí
tuệ và bằng sáng chế xanh cần được xem xét một cách cẩn trọng cùng với các yếu
tố như nguồn vốn R&D, quyền sở hữu trí tuệ ở doanh nghiệp với mục tiêu toàn cầu
thúc đẩy công nghệ thân thiện với môi trường. Các nước hàng đầu về chuyển giao
công nghệ như Đức, Áo, Hoa Kỳ, Nhật Bản, Hàn và Đan mạch đang gặp phải khó
khăn khi tiếp cận thị trường châu á và châu mỹ la tinh. Việc khó khăn nhất là chính
sách yêu cầu quá tỉ mẩn của nước sở tại về tên bằng sáng chế, tác giả sáng chế và lí
do sáng chế. Chính vì vậy việc phát triển công nghệ xanh ở các nước đang phát
triển là một thử thách khá khó khăn đòi hỏi kiến thức về vấn đề môi trường và các
vấn đề mục tiêu như: Liệu công nghệ xanh có được thực hiện bằng các biện pháp
12
CHƯƠNG II: TỔNG QUAN VỀ CÁC KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐÃ ĐẠT
ĐƯỢC TRONG VẤN ĐỀ KHAI THÁC QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ NHẰM
PHÁT TRIỂN CÔNG NGHỆ XANH
2.1. Các khái niệm đã được xây dựng
Khi con người bước vào thời đại mà nhận thức về phát triển bền vững được
nâng cao, các nghiên cứu liên quan đến tăng cường vai trò của quyền sở hữu trí tuệ
trong việc giảm thiểu biến đổi khí hậu đã được nhiều nhà khoa học đề cập đến.
Quyền sở hữu trí tuệ có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của công nghệ xanh và việc
phổ biến công nghệ xanh trong cuộc sống. Một mặt, quyền sở hữu trí tuệ có thể là
một công cụ thúc đẩy sự phát triển và phổ biến công nghệ xanh. Mặt khác, nó có thể
là rào cản đối với nỗ lực toàn cầu trong việc chuyển giao công nghệ.
Các nhà khoa học đã xây dựng các cơ sở lý thuyết trong vấn đề này như sau:
2.1.1. Công nghệ xanh
Công nghệ là sự vận dụng kiến thức khoa học có mục đích và phù hợp với đời
sống thực tiễn của con người (Encyclopædia Britannica Online, 2004). Công nghệ
là kết quả của sự đổi mới, cải tiến và vận dụng kiến thức và là kết quả trực tiếp hoặc
gián tiếp của trí tuệ con người.
Công nghệ xanh (green technology) là một thuật ngữ thường được sử dụng để
nói về những công nghệ được sử dụng để thúc đẩy phát triển bền vững, giảm phát
thải khí nhà kính, hoặc hỗ trợ giải pháp cho biến đổi khí hậu. Có nhiều thuật ngữ
tương đương với thuật ngữ “công nghệ xanh” thường được các nhà khoa học nhắc
đến như: công nghệ sạch (Clean technology), công nghệ môi trường (environmental
technologies), công nghệ có liên quan đến khí hậu (climate related technologies), và
công nghệ giảm thiểu và thích ứng (mitigation and adaptation Technologies) và
nhiều biến thể khác (Jonathan M.W.W. Chu, 2013)
2.1.1.1. Khái niệm công nghệ xanh
Đến nay, chưa có định nghĩa chính thức cho “công nghệ xanh” chung cho cả
thể giới. Tuy nhiên, rất nhiều tổ chức kinh tế, môi trường và sở hữu trí tuệ đã đưa ra

- Thứ tư, công nghệ phải thúc đẩy việc sử dụng các nguồn tài nguyên tái tạo.
Công nghệ xanh không chỉ là một công nghệ đơn lẻ mà nó là một hệ thống,
bao gồm phương pháp sản xuất, bí quyết, tiến trình, sản phẩm, dịch vụ, thiết bị cũng
như phương pháp tổ chức, quản lý. Công nghệ xanh đề cập tới nhiều vấn đề trong
15
sản xuất và tiêu dùng như giám sát, đánh giá chất, hạn chế ô nhiễm, kiểm soát và
sửa chữa, khôi phục (UNEP, 2003).
Công nghệ xanh là một khái niệm luôn tiến hóa, một công nghệ hôm nay có
thể làm giảm ô nhiễm và mức sử dụng tài nguyên, vẫn có thể trở thành một công
nghệ “bẩn” sau vài năm, khi có nhiều công nghệ hiện đại hơn ra đời (OECD, 2001).
Các hoạt động nghiên cứu, cải tiến và phát triển công nghệ xanh, nâng cao hiệu quả
sản xuất diễn ra liên tục, gây nhiều khó khăn cho công tác quản lý và đánh giá.
Tại Việt Nam, khái niệm gần giống với “công nghệ xanh” đó là “công nghệ
sạch” đã được quy định trong Luật Bảo vệ Môi trường Việt Nam, 1994 tại Điều 2,
Khoản 8. Theo đó: “Công nghệ sạch là quy trình công nghệ hoặc giải pháp kỹ thuật
không gây ô nhiễm môi trường, thải hoặc phát thải ở mức thấp nhất chất gây ô
nhiễm môi trường”. Khái niệm này gần sát với các khái niệm “Công nghệ xanh” mà
các tổ chức quốc tế đã nếu ra, tuy nhiên công nghệ sạch mới chỉ tập trung vào
phương pháp ít gây hại cho môi trường mà không đề cập đến các vấn đề về hiệu quả
sản xuất cũng như khuyến khích sự phát triển của nguồn năng lượng tái tạo.
Tuy các tổ chức đưa ra các khái niệm công nghệ xanh khác nhau, nhưng các
quan điểm này cùng thống nhất chung các đặc điểm của công nghệ xanh, đó là:
Thứ nhất, công nghệ xanh là quy trình công nghệ, giải pháp kỹ thuật, phương
pháp và bí quyết sản xuất, thiết bị cũng như quy trình tổ chức, quản lý thân thiện
với môi trường, không hoặc ít gây hiệu ứng nhà kính, góp phần bảo tồn và tiết kiệm
năng lượng, tài nguyên thiên nhiên.
Thứ hai, công nghệ xanh phải được sử dụng một cách an toàn, lành mạnh, góp

- Giảm nguy cơ chịu các trách nhiệm pháp lý do hoạt động sản xuất ảnh hưởng
đến môi trường gây ra.
Bên cạnh đó, như những thành tựu cải tiến, đổi mới công nghệ nói chung,
công nghệ xanh cũng góp phần:
- Giảm chi phí nguyên vật liệu, chi phí sản xuất;
- Nâng cao năng suất lao động;
- Tăng sức hấp dẫn và tính cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường.
Đi cùng với xu hướng của sự phát triển kinh tế và xã hội, mục tiêu cao nhất
của công nghệ xanh là đạt được những lợi thế cạnh tranh trên thị trường.
2.1.1.3. Tình hình phát triển công nghệ xanh trên thế giới
Phương pháp được sử dụng để đánh giá sự phát triển của công nghệ xanh trên
thế giới là dựa và số lượng bằng sáng chế được cấp hằng năm.
17
Bảng 2.1. Danh sách 15 quốc gia đi đầu thế giới trong phát triển công nghệ xanh
Đơn vị: %
STT

Quốc gia % tổng số công
nghệ xanh thế giới

STT

Quốc gia % tổng số công
nghệ xanh thế giới

1.
Nhật Bản 20.8 2.

15.
Đan Mạch 1.5
TỔNG
79.6
(Nguồn: The Centre for Climate Change Economics and Policy (CCCEP))
Bảng 2.1 dưới đây sẽ cho biết 15 quốc gia đi đầu trong phát triển công nghệ
xanh. Đa số công nghệ xanh trên thế giới (79,6%) đến từ các nước có thu nhập cao.
Trong đó Nhật Bản là nước đi đầu trong phát triển công nghệ xanh với việc sở hữu
hơn 1/5 công nghệ xanh của cả thế giới. Ngay sau là Đức (17,8 %) và Hoa Kỳ
(14,1.%), cao vượt trội so với những quốc gia còn lại (Copenhagen Economics A/S
and the IPR Company APS, 2009)
Hình 2.1. Tống số công nghệ xanh trên thế giới giai đoạn 1998 – 2008

(Nguồn: EPODOC, Pluspat và WPIX)
0
5000
10000
15000
20000
25000
30000
35000
1998
1999
2000
2001
2002
2003
2004
2005


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status